Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Kiến thức Văn học
 Diễn đàn :Phổ biến kiến thức :Kiến thức Văn học
Message Icon Chủ đề: Ngâm thơ - Tây Tiến Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Tác giả Nội dung
TÌNH TRÊN MẠNG
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 01 Nov 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 7
Trích dẫn TÌNH TRÊN MẠNG Replybullet Chủ đề: Ngâm thơ - Tây Tiến
    Ngày gửi: 27 Nov 2010 lúc 4:34am
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 918
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 28 Nov 2010 lúc 8:11pm
Những chuyện độc đáo của các chiến sĩ Tây Tiến
 
Xa Hà Nội nên thiếu thốn đủ đường, chấy rận nhiều nên hành quân, công tác, chiến đấu thì thôi, thời gian còn lại, các chiến sĩ thi nhau... bắt chấy, bắt rận. Quần áo thì cho vào nồi nấu lên để giết... những chú rận, chú chấy to kềnh, trắng hếu, béo nẫn.

Chuyện thứ nhất

Đoàn “Vệ trọc” cương cường sắt đá, bên xác thù càng ngã càng lên, trí như gang thép vững bền... trích bài thơ “Hội núi sông” của Huyền Kiêu đọc trong đại hội luyện quân, lập công Liên khu 3 năm 1948.

Đặc trưng của các chiến sĩ Trung đoàn Tây Tiến trong buổi sơ khai là cái “đầu trọc”. Từ trung đoàn trưởng, chính ủy, đến các chiến sĩ trong trung đoàn đều đầu trọc. Nhiều anh em còn lấy những mảnh dạ bắt được của Tây làm xà cạp “cò cưa”, để đầu sáng bóng như gương soi dưới ánh nắng.

Đã nhiều bài báo, nhiều câu chuyện giải thích ý nghĩa của cái “đầu trọc”, nhưng dường như vẫn chưa đầy đủ. Để hiểu tường tận về chuyện này, cần biết là, anh em trong Trung đoàn Tây Tiến hầu hết là thanh niên, học sinh Hà Nội. Họ rất coi trọng mái tóc phi-lô-dốp của mình.

Nhiều anh em còn mang theo lọ Bi-ăng-tin làm bóng mượt mái tóc, hoặc ngâm hạt bưởi làm gôm chải tóc. Đêm ngủ, có anh còn lấy mù xoa buộc tóc, giữ gìn mái tóc một cách công phu, cầu kỳ. Bên dòng suối trong vắt nhiều khi bắt gặp những chiến sĩ soi đầu mình trên bóng nước, nâng niu, vuốt ve mái tóc.

Nhưng xa Hà Nội, thiếu thốn đủ đường, chấy rận nhiều lắm. Hành quân, công tác, chiến đấu thì thôi, thời gian còn lại là bắt chấy, bắt rận. Cho quần áo vào nồi nấu lên, cũng không hết rận, vì áo quần một bộ, xà phòng không có, chăn chiếu thiếu, nằm úp thìa vào nhau, những chú rận, chú chấy to kềnh, trắng hếu, béo nẫn cắm đầu vào da thịt, hút máu. Thế là, nhằm loại trừ các “anh bạn” bất đắc dĩ đó, không còn cách nào hơn là... gọt trọc đầu. Tất nhiên sự việc này, khi đó cũng chỉ mang tính chất địa phương, đơn vị, vì nhiều anh em đâu dễ dàng từ bỏ mái tóc phiêu bồng, tài tử.

Cho tới một hôm, tiểu đội tôi dưới sự chỉ huy của Tiểu đội trưởng Phượng nhào xuống suối tắm sau buổi đi lấy củi, mỗi người chỉ có một bộ quần áo, giặt đem lên bờ phơi, rồi ngâm mình xuống nước, chờ quần áo khô mới mặc. Số anh em không tắm thì về trước, còn lại 5 người trong đó có Tiểu đội trưởng Phượng.

Bỗng, bọn Tây đen xuất hiện, quẳng súng trên bờ, lao xuống bắt chiến sĩ ta. Những tên Tây đen to lớn, đen trùi trũi vớ được lưng chiến sĩ ta thì da trơn nhẫy nên để tuột mất. Chúng quay sang định giữ lấy đầu chiến sĩ ta nhưng đầu không có tóc, trơn tuồn tuột. Anh em cứ tồng ngồng lao lên bờ, vớ hai khẩu súng, nhảy tọt vào rừng. Trên đường chạy về bản, gặp các mế, các chị đi ra suối, ai cũng ngượng chín mặt. Các mế, các chị thì rú lên.

- Eng, ún bộ đội xấu quá! Xấu quá!...

Chúng tôi nhào vào bụi cây, Tiểu đội trưởng Phượng dùng tiếng Mường giải thích với các mế, các chị. Bà con cười như nắc nẻ, bảo nhau về lấy mấy cái váy đem ra cho bộ đội.

Hôm sau, anh em giặt sạch sẽ đem trả, không quên cảm ơn các mế, các chị "chi viện" kịp thời.

Câu chuyện “Tây vồ” của tiểu đội tôi lan nhanh trong trung đoàn và cái “đầu trọc” bỗng trở thành quy định bắt buộc, bất thành văn trong toàn Trung đoàn Tây Tiến.
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 918
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 28 Nov 2010 lúc 8:12pm
Chuyện thứ hai

Cả trung đội tôi hồi đó đóng quân trên một bản nghèo, thưa thớt ở một thung lũng sâu, địa bàn Hòa Bình. Không hiểu anh em ăn phải cái gì bị "tào tháo đuổi" hàng loạt. Trung đội trưởng, trung đội phó, chính trị viên nằm lả trên sàn gác, nhiều anh em ra rừng không thể lê về được tới nhà.

Tôi là chiến sĩ vệ sinh trong trung đội cũng bị nhưng còn chút sức lực, đã đi gặp bà mế ở nơi đóng quân, xin bà cứu giúp. Một lúc sau, mế bê ra một chậu nước sóng sánh như nước gạo loãng cho bộ đội uống. Kỳ diệu thay, uống buổi trưa, buổi chiều anh em cầm hẳn bệnh, trở lại khỏe mạnh như trước. Tối hôm đó, bên bếp lửa, tôi thủ thỉ với mế. Mế cười:

- Thuốc gia truyền mà, mế không nói cho eng ún bộ đội biết đâu.

Tôi phải giới thiệu mình là chiến sĩ vệ sinh, lo lắng sức khỏe cho bộ đội và tha thiết đề nghị:

- Mế cho con biết loại lá gì ở rừng mà công hiệu đến vậy, để sau này con sử dụng cấp cứu anh em chứ! Giúp bộ đội cũng là đánh Tây mà!

Mế cười tủm tỉm:

- Mế nói, eng ún lại trách mế...

- Không, bộ đội ơn mế lắm, sao lại trách mế được!

- Mế lấy cục phân mới đi, nướng cháy lên, hòa với nước đun sôi cho eng ún uống đấy!

Tôi rùng mình, nói:

- Lá trong rừng thiếu chi, mà mế phải lấy thứ ấy cho bộ đội uống.

- Không được, tối nay eng ún đã phải hành quân rồi. Lá rừng không chữa được nhanh thế đâu!
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 918
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 28 Nov 2010 lúc 8:13pm
Chuyện thứ ba

Trung đội tôi được phái đi làm nhiệm vụ độc lập. Sau một trận đánh, trung đội bị kẻ địch bao vây trên một ngọn đồi rậm rạp. Trung đội trưởng quyết định sáng sớm hôm sau mở đường máu thoát hiểm.

Tôi lên cái bắp chuối rất to, đỏ rực, nóng như lửa ở bắp chân. Chân co rút không tài nào bước đi được. Tôi là chiến sĩ ít tuổi (17 tuổi) lại là chiến sĩ vệ sinh, chiến sĩ văn hóa dạy chữ cho anh em trong trung đội, nên được các anh rất nuông chiều. Ban chỉ huy lo lắng, toàn trung đội lo lắng.

Cáng tôi theo không được, vì quân địch bủa vây nhiều lớp. Mở đường máu phải tuyệt đối bí mật, nhanh gọn. Lúng túng với bệnh binh thì chắc chắn không thể thoát hiểm. Hơn nữa, bộ đội nhịn đói, chiến đấu cả ngày và cũng có nhiều anh em bị thương nhẹ đi theo trung đội.

Trong ánh nắng yếu ớt của chiều tà miền núi, trung đội trưởng nhìn tôi hồi lâu, lắc đầu. Tôi hiểu anh nghĩ gì - Không đem tôi đi theo, cái chết chắc chắn sẽ đến với tôi. Tôi nắm tay anh:

- Anh cho em xin quả lựu đạn!

Anh hiểu tôi có ý định gì. Những chiến binh Tây Tiến đó còn tới hôm nay hẳn còn nhớ câu nói đầu lưỡi bằng tiếng Pháp trước khi lâm trận “Nous Mourissons ensemble” (chúng ta cùng chết) hoặc “Moi et toi, nous mourissons ensemble” (tao với mày cùng chết). Kẻ thù hung hãn, vũ khí trang bị đến tận răng. Quân ta ăn đói, mặc rách, vũ khí thô sơ, ghẻ lở đầy người, sẵn sàng lấy cái chết chứng tỏ uy dũng của Bộ đội Cụ Hồ, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Tất cả vì nước, vì dân, vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nhân dân Lào với các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam.

Trung đội trưởng rơm rớm nước mắt, tay run run tháo quả lựu đạn ở thắt lưng trao cho tôi.

Trời miền núi chóng tối, nằm gối đầu lên gốc cây, tôi chợt nhớ tới chuyện mẹ tôi kể. Bà không là thầy thuốc nhưng đọc sách nhiều, giỏi về thuốc nam, thuốc bắc. Có lần bà nói – Phân người cũng là vị thuốc quý, chữa được bệnh đường ruột, thượng thổ, hạ tả, đặc biệt đồ ung nhọt rất kiến hiệu.

Còn nước, còn tát, không có lý mình bị rơi vào tay quân thù hoặc chết vô ích. Tôi dùng chính phân của mình trát đầy lên chỗ sưng tấy. Đang tuổi ăn, tuổi ngủ, đêm hôm đó, tôi làm một giấc đến khi đơn vị rục rịch lên đường. Thật là kỳ diệu, chân tôi không còn đau nhức, co duỗi dễ dàng. Tôi đứng lên nhảy mấy cái. Mừng quá, tôi chống gậy chạy đến cạnh trung đội trưởng, thì thào:

- Khỏi rồi! Em đi được rồi, anh ạ!

Trung đội trưởng ôm lấy tôi.

- Thật, hả!

Tôi nhảy tưng tưng chung quanh anh, tuy bắp chân vẫn còn tưng tức. Anh vui mừng nói:

- Đi vào giữa hàng quân, anh em tương trợ.

Đơn vị tôi thoát khỏi vòng vây. Nửa giờ sau, quân địch tràn lên ngọn đồi.

Gần đây, có dịp, tôi trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ y học Lê Hùng Lâm, nguyên là Giám đốc Trường Bổ túc cán bộ Y tế thuộc Bộ Y tế. Anh nói:

- Phân người là Nhân Trung Hoàng (màu vàng trong ruột người) là một vị thuốc được ghi trong sách thuốc nam của các cụ ta ngày xưa. Khi mà nhân dân ta còn nghèo, thiếu thốn đủ đường, trình độ y học còn hạn chế, buộc ta phải dùng vị thuốc bất đắc dĩ đó, miễn là chữa khỏi bệnh.

Gần đây, vài bài báo có nói về tác dụng chữa bệnh của Nhân Trung Hoàng. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, lúc còn sinh thời hoạt động trên chiến trường miền Nam gian nan mà anh dũng, đã dùng phân người chữa bệnh cho bộ đội, đạt hiệu quả tốt. Còn hiện nay thuốc men đầy đủ, nhiều chủng loại, khả năng chữa được bách bệnh thì không ai dùng đến vị thuốc đó nữa
Trần Kỳ (Nguyên đội viên Đại đội Bạch binh 121, Tiểu đoàn 150)
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 918
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 28 Nov 2010 lúc 8:16pm
Quang Dũng- thi sĩ "xứ Ðoài mây trắng" với những bài thơ đặc sắc vào loại tuyệt tác như: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây,... tạo ra được sức truyền cảm mạnh mẽ, dễ đi thẳng vào tâm hồn bao thế hệ bạn đọc nước ta suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Nhà thơ Lữ Giang là một bạn thơ thân thiết, chí tình của Quang Dũng. Biết tôi là người rất say thơ Quang Dũng, nên Lữ Giang đã thủ thỉ kể cho tôi nghe một số mẩu chuyện về Quang Dũng.

Còn tôi, mặc dù thuộc lớp hậu sinh, tôi cũng đã kể cho Lữ Giang nghe mẩu chuyện về nhà thơ Quang Dũng: Vào khoảng cuối năm 1949, trên đường công tác, cha tôi đã mời nhà thơ Quang Dũng rẽ thămquê tôi ở làng Quyền Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (ông cùng đơn vị bộ đội, kém cha tôi vừa đúng một giáp).

Bữa ăn trưa hôm đó, không hiểu thế nào nhà thơ bị hóc tăm. May mà cái tăm lại nhỏ, ngắn và mềm, nên cuối cùng nó cũng phải trôi qua họng, không gây nguy hiểm cho ông. Bỗng thình lình, buổi chiều ấy, mấy chiếc máy bay Ða-cô-ta, Hen-cát của giặc Pháp điên cuồng quần đảo trên bầu trời bắn phá làng tôi để tìm bộ đội đóng quân. Thế là ông vội dắt hai chị em tôi chạy nhanh ra giao thông hào phía bờ sông Ðáy để tránh bom đạn địch. Buổi tối đến, dưới ánh đèn dầu hỏa tù mù, cha tôi và nhà thơ vẫn rì rầm chuyện trò say sưa và cả ngâm thơ. Sáng hôm sau thì hai người lại lên đường ra mặt trận.

Mãi sau này, vào một buổi sáng tháng 3-1968, khi đến làm việc với Nhà xuất bản Văn học ở 49 Trần Hưng Ðạo, Hà Nội, cha tôi mới gặp lại nhà thơ (hồi ấy Quang Dũng đang làm biên tập viên của Nhà xuất bản). Cả hai cựu chiến binh đều cười nói vui vẻ, nhắc lại kỷ niệm xưa.

Cách đây gần hai năm, nhà thơ Lữ Giang đã cho tôi xem một tờ giấy đã quá cũ, khổ to khoảng 13x19 cm có bút tích của Quang Dũng ghi lại bài thơ tứ tuyệt Nhà mới của ông tặng một người bạn tên là Lê Giáp ở xã Ðường Lâm, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Bài thơ đề Ngày 20 tháng Chạp Nhâm Tuất (1982).

Lữ Giang cho tôi biết thêm: Hôm ấy cả hai nhà thơ về thôn Trích Sài (gần thị xã Sơn Tây) thăm anh Lương Văn Trọng. Bài thơ này do chính tác giả chép bằng chiếc bút máy Hồng Hà do cháu Thanh, con anh Trọng đưa.

Bài thơ như sau:

Nhà mới

Trở lại Ðường Lâm quê đánh giặc
Hầm kèo gốc mít đã mười năm
Khuya nay hoa nở trăng về sáng
Hương thơm - Nhà mới - đẹp như rằm.

Trong bài thơ này, Quang Dũng đã nhắc đến truyền thống bất khuất, anh dũng của Ðường Lâm. Ðây là vùng địa linh nhân kiệt, quê hương của hai vị anh hùng dân tộc lẫy lừng: Phùng Hưng và Ngô Quyền. Ðường Lâm còn có chùa Mía cổ kính được xây dựng từ thời vua Lê Thần Tông với 287 pho tượng lớn nhỏ (một nửa bằng gỗ, một nửa bằng đất luyện).

Trong đêm trăng sáng vằng vặc ấy, có nhà mới, hương hoa thơm nức, nhà thơ vẫn không quên những "hầm kèo gốc mít", làm hầm trú ẩn tránh máy bay phản lực Mỹ trong những năm kháng chiến vừa qua.

NGUYỄN HUY THÔNG (Báo Nhân Dân)

Việt Báo(Theo_TuoiTre)
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 918
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 28 Nov 2010 lúc 8:19pm

Những câu chuyện phía sau bài thơ 'Tây tiến'

Lâm Bình

Giống hệt như trong "Chữ người tử tù" của nhà văn Nguyễn Tuân, ông tỷ phú nọ ngỏ lời mời Quang Dũng vào Sài Gòn chơi một chuyến để ông ta được ngồi cùng đàm đạo.

Hầu hết những thế hệ học trò ngày nay đều từng được học bài thơ Tây tiến của Quang Dũng - một tác phẩm ra đời từ những năm 40 của thế kỷ trước, nhưng đến nay vẫn được đánh giá là có sức lôi cuốn cả một thế hệ thanh niên.

Những câu chuyện xung quanh Tây tiến dưới đây được chính nhạc sĩ Quang Vĩnh - con trai cả của cố nhà thơ Quang Dũng - hiện sống tại Thái Nguyên, kể lần đầu tiên.

 

Nhà thơ Quang Dũng.

Tây tiến đã “bị” sửa như thế nào?

Quang Dũng tham gia đoàn quân Tây tiến năm 1947 và hành quân lên Tây Bắc với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội nước bạn để bảo vệ vùng biên giới Việt Lào.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm

Ban đầu, bài thơ được Quang Dũng đặt tên là Nhớ Tây tiến. Ông sáng tác rất nhiều, nhưng không hiểu sao lại trăn trở nhất với riêng bài thơ này.

Ông Quang Vĩnh kể lại, nhiều lần, ông thấy cha mình ngồi rất lâu trước một cuốn sổ tay băn khoăn về cái tít vỏn vẹn có 3 chữ ấy. Có lẽ Tây tiến là một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Quang Dũng nên bài thơ thấm đẫm linh hồn đoàn quân hào hoa ngày nào, ông luôn muốn có một sự chỉn chu đến từng câu chữ.

Cuối cùng, Quang Dũng lấy bút bỏ đi chữ “Nhớ”. Dù còn nhỏ, nhưng ông Vĩnh cũng buột miệng hỏi sau khi thấy cha “bóp trán” hàng năm trời mà chỉ sửa được vọn vẹn duy nhất một chữ: “Chữ 'Nhớ' đâu có ảnh hưởng nhiều đến vần điệu bài thơ sao bố nghĩ gì mà lâu thế?”. Quang Dũng chỉ cười mà rằng: “Tây tiến, nhắc đến là đã thấy nỗi nhớ rồi. Thế nên để chữ nhớ là thừa. Không cần thiết nữa con trai ạ”.

Đến quãng năm 1956, có lẽ vẫn chưa “dứt duyên” nổi với Tây tiến, một buổi sáng Quang Dũng lại mang cuốn sổ thơ của mình ra “ngâm cứu”. Rồi như cần đến một người tri kỷ, Quang Dũng gọi con trai lại và hỏi: “Con đọc cho bố nghe cả bài thơ rồi cho nhận xét xem nó thế nào”. "Khi ấy tôi còn rất nhỏ" - ông Vĩnh nói - "mới học lớp 7 nên nào biết cảm nhận văn chương thơ phú nó ra làm sao, thậm chí đọc bài thơ ấy còn thấy hơi... ngang ngang".

Tuy vậy, nhưng ra vẻ con nhà nòi, ông Vĩnh cũng “phán” bừa một câu rằng: “Con thấy câu Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người nghe nó cứ “chối” thế nào. Hay bố thay cái địa danh khác vào nghe cho nó hợp chứ Mường Hịch nghe nặng nề quá”.

 

Bút tích bài thơ "Tây Tiến".

Thực ra lúc ấy ông Vĩnh chỉ thấy nó có vẻ không vần điệu lắm với khổ thơ trên, nhưng nghe vậy Quang Dũng ngần ngừ một lát, rồi suy tính thế nào lại mỉm cười nói, thế thì không ổn con trai ạ.

Mãi về sau ông Vĩnh mới vỡ lẽ ra cái sự ngần ngừ không ổn ấy bắt nguồn từ một nguyên do, Mường Hịch còn là một địa danh gắn liền với kỷ niệm bất ngờ của cha mình. Trong một lần hành quân, đoàn quân Tây tiến đã dừng chân ở Mường Hịch, gần sông Mã. Người dân nơi đây kể cho Quang Dũng về một con cọp đã thành tinh chuyên bắt người ăn thịt. Rất nhiều dân lành đi rừng đã bị con cọp này vồ mất xác.

Thấy bộ đội có súng nên một số người dân ngỏ lời nhờ bộ đội Tây tiến diệt trừ giúp. Vốn là người gan dạ, khỏe mạnh, mới nghe thế máu mã thượng trong người Quang Dũng đã bốc lên. Ông gọi một số anh em trong đơn vị lại rồi lấy một con lợn trói tại gốc cây làm mồi bẫy, còn bản thân cùng anh em chia nhau nấp đợi hổ về.

Nửa đêm, dân làng nghe thấy mấy tiếng súng vọng lại từ rừng già, rồi sau đó là tiếng hổ gầm điên loạn, gần sáng thì thấy Quang Dũng dẫn đầu một tốp bộ đội hớn hở tìm về, người ngợm ướt đẫm sương.

Mãi sau này người ta mới biết, lúc bị thương con hổ điên cuồng chống trả, Quang Dũng phải nổ mấy phát súng mới kết liễu được nó. Vậy mà cái địa danh đáng nhớ ấy, suýt nữa thì ông Vĩnh cắt mất của cha mình.

Quang Dũng... còn sống

Mặc dù có người cha là cây bút được đánh giá là “nhà thơ mang trong mình dòng máu lãng du vào loại bậc nhất trong thi đàn đất Việt thế kỷ XX” nhưng ông Quang Vĩnh không bao giờ khoe khoang điều đó. Với đám con của mình, ông luôn dặn, ra ngoài đừng bao giờ vỗ ngực là cháu của Quang Dũng cả. Chính vì thế mới xảy ra câu chuyện nực cười.

Đó là khi con gái ông, chị Bùi Phương Lê ngày còn đi học phổ thông, một hôm học đến bài thơ Tây tiến của ông nội. Thực ra, chị Phương đã đọc bài thơ này tới cả trăm lần, đã được cha kể lại cho hàng trăm lần về những kỷ niệm của ông nội trên đường ra trận. Tiết văn học hôm đó, cả lớp học cũng đặc biệt hứng thú với bài thơ.

Học sinh đưa ra rất nhiều câu hỏi về nội dung bài thơ cho thày giáo. Và để chứng minh mình là người am hiểu, ông thày hôm đó đã cao hứng kể: Mới tuần trước tôi còn ngồi với Quang Dũng dưới Hà Nội. Rằng câu chuyện về đoạn thơ này, nhà thơ Quang Dũng lấy tứ ở đâu, khổ thơ kia lấy cảm hứng chỗ nào. Chính Quang Dũng tâm sự với tôi như thế. Tóm lại là nghe... như thật.

Mặc dù rất băn khoăn, nhưng khi đó chị Lê cũng phải sững sờ vì khi đó Quang Dũng đã mất được chục năm. Hết giờ học, chị về kể lại điều đó với ông Vĩnh. Không chỉ riêng ông Vĩnh mà cả nhà đều tròn xoe mắt. Riêng bà Bùi Thị Thạch - vợ nhà thơ Quang Dũng - bây giờ vẫn ở chung với con giai trưởng thì cười độ lượng: “Ông mày làm một bài thơ mà bây giờ thành bất tử. Thế là hơn đứt nhiều người rồi còn gì”.

Tất nhiên, câu chuyện Quang Dũng đột nhiên sống lại trong một tiết văn học của học sinh cấp III đến nay chỉ có gia đình nhà thơ biết và mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về Quang Dũng, bà Thạch vẫn tường thuật lại câu chuyện đó như một cách trách yêu ông chồng tài hoa của mình.

Bài thơ Tây tiến đáng giá bao nhiêu?

Bút tích Tây tiến của Quang Dũng với nét chữ nắn nót như học trò, bây giờ vẫn được lưu giữ tại nhà ông Quang Vĩnh ở Thái Nguyên.

Ông Vĩnh kể, khi mới ra đời, bài thơ này gây được tiếng vang rất lớn bởi khi đó đại đa số chiến sĩ trong đoàn quân Tây tiến là trí thức, học sinh, sinh viên Hà Nội. Nét hào hoa trong từng câu chữ nói về đoàn quân “xanh màu lá” khiến cho không ít thiếu nữ Hà thành có người yêu là lính Tây tiến phải nhỏ lệ.

Chính vì vậy, cho đến mãi tận sau này, có lẽ đây là bài thơ duy nhất của người lính miền Bắc được ngay cả những người lính cộng hòa miền Nam yêu thích chép lại trong sổ tay. Nhiều nhà xuất bản dưới thời Việt Nam cộng hòa cũng cho in hàng loạt.

Mỗi lần in xong, không biết bằng cách nào, nhưng họ đều gửi sách biếu đến tận nơi. Tuy nhiên, để tránh những hiểu lầm, Quang Dũng đều mang đốt sạch.

Sau này khi đất nước hoàn toàn thống nhất, bỗng một hôm gia đình Quang Dũng nhận được một lá thư gửi đến từ địa chỉ không quen biết. Nội dung trong thư là chuyện của một tỷ phú đất Sài Gòn. Giống hệt như trong Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân, ông tỷ phú nọ ngỏ lời mời Quang Dũng vào Sài Gòn chơi một chuyến để ông ta được ngồi cùng đàm đạo.

Trong thư, ông tỷ phú tha thiết đài thọ toàn bộ mọi phí tổn chuyến đi, những mong Quang Dũng vào đó và tự tay chép tặng ông ta bài thơ Tây tiến để ông ta treo tại bàn làm việc. Lẽ ra với một người hâm mộ thơ của mình như thế thì có lẽ cha tôi cũng đã “chẳng phụ một tấm lòng tri kỷ trong thiên hạ” - ông Vĩnh kể.

Thế nhưng, cuối lá thư, ông tỷ phú nọ lại “dại dột” tái bút: Nếu được ông chiếu cố vào viết tặng cho bài thơ Tây tiến thì thù lao chí ít cũng phải là một chiếc Honda. Ngoài ra, nếu ông có thể tặng thêm cho vài câu thơ khác thì số quà tặng còn giá trị hơn rất nhiều.

Đọc xong lá thư - ông Vĩnh kể tiếp - cha tôi chỉ cười nhạt mà rằng: “Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng đến thế ư?”. Rồi có lẽ câu chuyện gạ “bán thơ” ấy ông cũng quên khuấy mất trong mớ ngẫu sự thường ngày.

Bằng chứng là sau năm 75 khi có dịp vào Sài Gòn thăm chị gái, ông cũng chỉ ở rịt trong nhà chẳng đi ra đến ngoài. Duy nhất có một lần bà chị gái ép Quang Dũng đi chơi phố thì ông nhất định đòi phải cải trang ăn mặc thành một tay chơi đất Sài Gòn rồi mới chịu bước chân ra đường. Ấy thế mà vẫn có người nhận ra.

Lần đó Quang Dũng đứng chọn sách trong một tiệm bán văn hóa phẩm, một người đàn ông trung niên đi ra bỗng vỗ vai ông hỏi: “Ông có phải Quang Dũng - tác giả Tây tiến không, tôi nhìn giống bức ảnh trong cuốn sách ở nhà lắm”. Ông Vĩnh kể, không hiểu cha tôi học tiếng Nam khi nào mà ông trả lời ngay: “Ông nhầm rồi, tôi ở Bạc Liêu mới zô”.

Ông Vĩnh nói vui: Có lẽ cha tôi lại sợ có người gạ “bán thơ” nên mới không dám nhận như thế. GS Hoàng Như Mai cũng kể lại: “Sau giải phóng, tôi vào Sài Gòn giảng bài, có đọc sách báo cũ. Về Hà Nội, tôi bô bô với Quang Dũng: Này ông, ở Sài Gòn họ ca tụng ông ghê lắm. Quang Dũng vội xua tay: “Thôi xin ông, ông đừng nói với ai nhé”.

Mặc dù “giàu thơ” như thế, nhưng Quang Dũng lại có cuộc sống hết sức đạm bạc. Bà Thạch, vợ nhà thơ nhớ lại, năm 1960 có một phái đoàn văn hóa nước ngoài sang Việt Nam cứ nhất định đòi đến thăm tư gia tác giả Tây tiến.

Căn nhà bé tí tẹo của ông ở 91 Lý Thường Kiệt lại... hơi tồi tàn nên cơ quan “tạm” chuyển ông tới 51 Trần Hưng Đạo, nay là trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, cho đẹp mặt.

Có lẽ muốn giữ thể diện cho những nhà thơ Việt Nam trong con mắt khách nước ngoài nên Quang Dũng đành chấp nhận màn kịch ấy.

Ngay cả đến khi bị liệt, Quang Dũng cũng dạo chơi phố phường Hà Nội lần cuối trên chiếc xe lăn do bạn bè nước ngoài gửi tặng. Cho đến tận những ngày cuối đời nhà thơ hào hoa này vẫn chọn cho mình một cuộc sống thanh bạch.

(Nguồn: An Ninh Thế Giới)

IP IP Logged
GiaodauLamXung
Senior Member
Senior Member


Gia nhập: 10 Aug 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 131
Trích dẫn GiaodauLamXung Replybullet Ngày gửi: 10 Dec 2010 lúc 6:52pm
Video Tây Tiến (Tuyệt hay)
 
 
 
Anh hùng nhất khoảnh
IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: online
Bài viết: 652
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 11 Dec 2010 lúc 6:39am
IP IP Logged
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.115 giây.