Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Tư tưởng Hồ Chí Minh
 Diễn đàn :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh :Tư tưởng Hồ Chí Minh
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Tác giả Nội dung
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 27 May 2014 lúc 8:36pm
                 TỔ QUỐC Ở TRƯỜNG SA

   Trên bản đồ như nắm tấm vung xa
   Quần đảo Trường Sa - chuỗi hạt ngoài xa tít
   Lính giữ đảo: giữa đất đai Tổ Quốc
   Đảo nơi quê: mình mẹ ngóng chờ

   Ai theo Đội Hoàng Sa ra đảo
   Đảo gặp người, thôi kiếp cơm rơi
   Nay mẹ vẫn yêu con bằng gạo mới
   Đảo long lanh kết ngọc ở chân trời!...

                                                 Đinh Ngọc Diệp
              (Rút trong tập thơ Hành trình, NXB Văn học, Hà Nội-2013
               và đăng Tạp chí Văn nghệ quân đội, số cuối tháng 4.2013)

   LỜI BÌNH CỦA NHÀ THƠ PHẠM ĐÌNH ÂN:
   Tổ quốc ở Trường Sa ( đã đăng ở tạp chí VNQĐ số cuối tháng 3/2013 và trong tập Thơ Hành trình, NXB Văn học -2012 của cùng tác giả) thuộc số những bài thơ hay viết về quần đảo Trường Sa. Thường viết về Trường Sa, người ta hay chọn hình ảnh đảo xa giữa mênh mông biển biếc, với đảo chìm, đảo nổi, nhà giàn… Rồi đất liền nhớ đảo xa, nhớ người lính canh giữ đảo giữa trập trùng gian khó, thiếu từ nước ngọt đến rau xanh,thiếu thốn nhất là tình cảm gia đình; đất liền dành hết tình thương cho đảo nên đảoxa hóa gần… Đinh Ngọc Diệp thì sáng tạo ra một hình ảnh Trường Sa mới lạ, một tứ thơ độc đáo:
   Trên bản đồ như nắm tấm vung xa
   Quần đảo Trường Sa: chuỗi hạt ngoài xa tít
   Người đọc đã liên tưởng ngay đến hình ảnh: người vung nắm tấm chính là mẹ. Nơi mẹ đứng là mảnh sân nhà thân thuộc, nắm tấm vung xa có đàn gà con theo gà mẹ liếp nhiếp tranh nhau mổ tấm… Nhưng mảnh sân nhỏ lại tượng trưng cho biển. Đất của đảo là do người mẹ - cư dân của nền văn minh lúa nước - vung nắm tấm sinh ra! Hình ảnh đẹp của người mẹ cụ thể, cũng đồng thời là người mẹ tượng trưng, sinh thành ra đất đai Tổ quốc. Chính vì thế, người mẹ trở nên kỳ ảo, lớn lao, thiêng liêng như Mẹ Âu Cơ trong huyềnthoại! Người mẹ không chỉ của một gia đình mà là người mẹ trăm năm, của nhiều đời, của trường kỳ lịch sử.
   Tiếp theo, tứ thơ đưa đến sự kết nỗi giữa người lính đảo và người mẹ ở hậu phương:
   Lính giữ đảo: giữa đất đai Tổ quốc
   Đảo nơi quê: mình mẹ ngóng chờ
   Sự xa cách địa lý của Trường Sa với đất liền cũng là sự cách xa giữa mẹ và con, dễ gợi nên nỗi niềm nhớ nhung, buồn tủi – đó là lẽ thường. Tác giả không ngại ngần, tránh né mà đào sâu vào cảm xúc, tâm trạng có thật này. Với hai câu thơ trên, người lính vẫn thấy ấm áp trong sự xa cách – hẳn vì đã ý thức, đã tự giác và lấy làm vinh dự lớn khi được nhận lãnh trách nhiệm giữ gìn biển, đảo. Do vậy, ở nơi đảo xa mà anh vẫn thấy như đang “giữa” mảnh sân nhà mẹ hay giữa thủ đô Hà Nội, giữa Tp Hồ Chí Minh, mảnh đất phương Nam đầy nắng gió…
   Ngược lại, trong sự xa cách với đứa con – người lính thì ngôi nhà mẹ thành hòn đảo, mảnh sân thành mặt biển mênh mông hay chính mẹ hóa “đảo nơi quê” ngày ngày “ngóng chờ” con! Hơn ai hết, chính mẹ sinh thành ra quần đảo thì việc con mẹ ra giữ đảo là lẽ tựnhiên, mẹ rất tự hào vì con; nhưng chỉ khoảnh khắc này thôi để người lính (và tất cả chúng ta) thấu hiểu sự cô đơn của mẹ. Trong sâu thẳm của tình mẫu tử, chính tình cảm này, nỗi cô đơn này đã làm nên sức mạnh diệu kỳ của người lính. Ngay lúc này đây, Trường Sa, Hoàng Sa và phần Biển Đông của Việt Nam lại không ít lần có va chạm, có tiếng súng và có máu đổ! Mảnh sân nhà tượng trưng cho quần đảo Trường Sa; mẹ vãi tấm là sinh ra quần đảo nên Trường Sa là một với Tổ quốc Việt Nam, người Việt Nam các thế hệ kế tiếp nhau kiên cường bảo vệ Trường Sa – không phải tham của ai, mà là giữ gìn máu thịt của Tổ quốc mình, không kẻ thù nào có thể làm lung lay ý chí của cả một dân tộc! Ở đây có sự đan xen, hoán đổi vị trí một cách ảo diệu giữa hai hình ảnh đất liền và quần đảo: Mẹ - đất liền (hậu phương) hóa thân vào Người lính – quần đảo (tiền tuyến)và ngược lại.
   Phần cuối bài thơ có 4 câu, là sự tiếp nối, bổ sung hoàn chình hình tượng Người mẹ – Tổ quốc và Người lính trong quá trình lịch sử. Từ mấy trăm năm trước, người lính theoĐội Hoàng Sa (kiêm quản Trường Sa) của triều đình phong kiến Việt Nam ra xác lập và thực thi chủ quyền quốc gia tại hai quần đảo trên. Đó là sự tiếp nối tự nhiên, tất yếu từ việc mẹ vung nắm tấm sinh thành ra quần đảo.
   Cũng trong sự tiếp nối ấy, khi còn là của “vô thừa nhận”, chuỗi đảo xửa xưa xa vắng khác nào “kiếp cơm rơi”; nhưng khi gặp Đội Hoàng Sa, chuỗi đảo bơ vơ ấy như những đứa con lưu lạc gặp lại người mẹ sinh thành, được mẹ ôm vào lòng, vỗ về, chở che, nuôi dưỡng. Đó là giây phút thiêng liêng, xúc động. Đảo – cơm rơi bỗng nhiên “kết ngọc”, thành chuỗi ngọc “long lanh” trên vòm ngực Biển Đông vạm vỡ của Tổ quốc Việt Nam. Người Mẹ – Tổ quốc hôm nay cũng như trong quá khứ, vẫn chăm bẵm, nuôi lớn đàn con chĩu chịt, xúm xít ngoài biển xa…
   Cả bài thơ, những hình ảnh: “nắm tấm” – “cơm rơi” – “gạo mới” – hạt “ngọc” quý – là sự phát triển hợp lý, biểu hiện sự gắn bó ngày càng khăng khít giữa Trường Sa với Tổ quốc, người mẹ, giữa người lính với người mẹ, với hậu phương. Có lẽ chưa có ai ví nắm tấm cho gà ăn, mẹ vung ra trong mảnh sân mà lại là quần đảo, là biển xanh. Cũng chưa ai ví một quần đảo như những hạt ngọc, kết tinh từ những hạt tấm, hạt cơm rơi. Cách nóigiản dị, quen thuộc, như ông bà ta vẫn ví von “hạt gạo là hạt ngọc” (ngọc thực). Quen thuộc nhưng vẫn mới lạ vì hạt gạo ở đây lại là quần đảo.
Bài thơ dồn nén, cô đúc, mang tầm khái quát sâu sắc. Lời thơ bình dị, không gò gẫm, cầu kỳ. Bài thơ tạo nên một hình ảnh Tổ quốc ở Trường Sa mang dấu ấn riêng biệt.   
                                                                                   Tháng 4/2013
                                                                                        P.Đ.Â
       (Địa chỉ: Báo Văn nghệ, 17 Trần Quốc Toản, Hà Nội. ĐT: 0903456761)
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 06 Oct 2014 lúc 7:00am
DÒNG SÔNG MỘT BỜ

NGUYỄN KHẮC THẠCH

Có một dòng sông mang tên em,
Dòng sông anh tự đặt
Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.

Có một dòng sông trôi vào lãng quên,
Nước trong như nước mắt
Điều chưa đến mà sao thấy mất?

Có một dòng sông chỉ có một bờ,
Phía bờ kia quay mặt.
Dòng sông anh không qua được bao giờ...

Lời bình


Từ cái thuở tôi biết yêu thơ và biết yêu em.... Tôi đã đọc bài thơ "Dòng sông một bờ:!...

Với người khác, "Dòng sông một bờ” của Nguyễn Khắc Thạch chỉ có thể là dòng sông thời gian, hay đó là một quá khứ xa xăm. Còn đối với tôi, một chàng trai trẻ đang yêu, khi soi mình vào "Dòng sông một bờ”, tôi như soi vào một câu chuyện tình yêu mà bờ bên này chính là anh - chàng trai, còn bờ bên kia, cái bờ "Anh không qua được bao giờ” chính là em, là trái tim còn bỏ ngở.

Có một dòng sông mang tên em
Dòng sông anh tự đặt
Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.

Ta cứ ngỡ có một dòng sông thật đang tồn tại đâu đó, nó cũng có bên bồi bên lở, dòng sông bắt nước từ trong đất mẹ và chảy hoài về phía biển, bởi Nguyễn Khắc Thạch giới thiệu đó là dòng sông "mang tên em". Tên em là sông Hương (quê của nhà thơ) hay là đòng sông Linh Giang (quê của vợ Nguyễn Khắc Thạch?) Đúng vậy, có dòng sông nào mà chẳng có tên, có nhiều dòng sông mang trong mình những cái tên đẹp, hiền hòa như miền cổ tích... nếu không phải là người đang yêu, có lẽ tôi cũng nhầm như những người đọc khác...

Nhưng sang câu thơ tiếp theo, tác giá "bật mí” dòng sông "mang tên em" chi có anh biết tên nó mà thôi... Chỉ có trái tim anh biết, bởi đó là dòng sông "anh tự đặt", không phải là sông Hương hay dòng Linh Giang xanh thăm, mà đây chính là đòng sông trong tâm tưởng, dòng sông trong hoài niệm, dòng sông không có thực trên đời mà chi có thực trong tim anh, anh chôn chặt nó trong ký ức... Một miền ký ức không vui. Một miền ký ức buồn... Con thuyền lá mà "anh xin mùa thu” cứ mãi trội, trôi đến hư vô, và không gặp được bến bờ nào cả...

Có một dòng sông trôi vào lãng quên
Nước trong như nước mắt
Điều chưa đến mà sao thấy mất?

Là quá khứ của một cuộc tình chăng? Đúng vậy, kỷ niệm, tình yêu dẫu vui, dẫu buồn rồi cũng dần trôi theo năm tháng, thời gian đi qua, tất cả đi qua, hạnh phúc và niềm đau cũng đi qua... ở đây chàng trai trong bài thơ cũng muốn quện đi lắm chứ, một chuyện tình buồn, một mối tình đơn phương, chỉ có phía "bờ anh" mà không có phía "bờ em"... nên anh đã cố quên đi, cho dù không bao giờ quên được.

Dòng sông đó đã trôi vào lãng quên, dẫu đã cố gắng quên đi nhưng anh vẫn nhớ "Nước trong như nước mắt". Có giọt nước nào trong hơn nước mắt, nước mắt khóc cho một cuộc tình có lẽ càng trong hơn bờ nó được "lọc" bằng trái tim đang yêu. Vậy đây là giọt nước mắt của ai, giọt nước mắt của em khóc hay là anh khóc? Anh đã khóc "khóc không phải vì yếu hèn" mà khóc vì yêu em, khóc vì: "Điều chưa đến mà sao thấy mất", khóc vì tình yêu chưa đến mà đã đi xa thật rồi, xa mãi…

Có một dòng sông chỉ có một bờ
Phía bờ kia quay mặt.
Dòng sông anh không qua được bao giờ...

Một lần nữa, Nguyễn Khắc Thạch lại nhắc "có một dòng sông" nhưng đây không phải là một dòng sông bình thường có tiếng ai í ới gọi đò, mà đây chính là dòng sông chi có một bờ, chỉ có bờ bên này mà không có bờ bên kia, vì: "phía bờ kia quay mặt", bờ kia - bờ em quay mặt - em - không - đáp - lại - tình - yêu - của - anh. "Phía bờ kia quay mặt", hay chính là.em "quay mặt".

Bài thơ kết thúc giống như "dòng sông" trong lòng anh đã thôi chảy, dẫu biết rằng dòng sông cuộc đời cứ mãi trôi đi.

(Sưu tầm từ facebook)
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 06 Oct 2014 lúc 7:02am
Cảm xúc trước một bài thơ hay

Tôi thuộc lớp người thuộc chưa nhiều thơ tình, nhưng với thi phẩm "Dòng sông một bờ” thì tôi đã đọc thuộc, thuộc từ lâu lắm rồi, từ cái thuở tôi biết yêu thơ và biết yêu em... Với người khác, "Dòng sông một bờ” của Nguyễn Khắc Thạch chỉ có thể là dòng sông thời gian, hay đó là một quá khứ xa xăm. Còn đối với tôi, một chàng trai trẻ đang yêu, khi soi mình vào "Dòng sông một bờ”, tôi như soi vào một câu chuyện tình yêu mà bờ bên này chính là anh - chàng trai, còn bờ bên kia, cái bờ "Anh không qua được bao giờ” chính là em, là trái tim còn bỏ ngỏ.

…Dòng sông đi vào thơ ca thì nhiều, dòng sông được ví với tình yêu trai gái bờ có hai bờ thương, bờ nhớ thì càng nhiều. Còn ví dòng sông chi có một bờ như tình yêu chỉ đến từ một phía thì có lẽ chỉ có duy nhất Nguyễn Khắc Thạch mà thôi. Cấu tứ bài thơ khá lạ và độc đáo.

Bài thơ ngắn gọn, súc tích nhưng cá 3 khổ thơ đều nhắc đến dòng sông. Ở câu thơ đầu tiên, tác giả viết: "Có một dòng sông mang tên em" mới đọc ta cứ ngỡ có một dòng sông thật đang tồn tại đâu đó, nó cũng có bên bồi bên lở, dòng sông bắt nước từ trong đất mẹ và chảy hoài về phía biển, bởi Nguyễn Khắc Thạch giới thiệu đó là dòng sông "mang tên em". Tên em là sông Hương (quê của nhà thơ) hay là đòng sông Linh Giang (quê của vợ Nguyễn Khắc Thạch?) Đúng vậy, có dòng sông nào mà chẳng có tên, có nhiều dòng sông mang trong mình những cái tên đẹp, hiền hòa như miền cổ tích... nếu không phải là người đang yêu, có lẽ tôi cũng nhầm như những người đọc khác... Nhưng sang câu thơ tiếp theo, tác giá "bật mí” dòng sông "mang tên em" chi có anh biết tên nó mà thôi... Chỉ có trái tim anh biết, bởi đó là dòng sông "anh tự đặt", không phải là sông Hương hay dòng Linh Giang xanh thẳm, mà đây chính là dòng sông trong tâm tưởng, dòng sông trong hoài niệm, dòng sông không có thực trên đời mà chỉ có thực trong tim anh, anh chôn chặt nó trong ký ức... Một miền ký ức không vui. Một miền ký ức buồn... Con thuyền lá mà "anh xin mùa thu” cứ mãi trôi, trôi đến hư vô, và không gặp được bến bờ nào cả...

Đến khổ thơ thứ hai, là quá khứ của một cuộc tình chăng? Đúng vậy, kỷ niệm, tình yêu dẫu vui, dẫu buồn rồi cũng dần trôi theo năm tháng, thời gian đi qua, tất cả đi qua, hạnh phúc và niềm đau cũng đi qua... ở đây chàng trai trong bài thơ cũng muốn quên đi lắm chứ, một chuyện tình buồn, một mối tình đơn phương, chỉ có phía "bờ anh" mà không có phía "bờ em"... nên anh đã cố quên đi, cho dù không bao giờ quên được. Dòng sông đó đã trôi vào lãng quên, dẫu đã cố gắng quên đi nhưng anh vẫn nhớ "Nước trong như nước mắt". Có giọt nước nào trong hơn nước mắt, nước mắt khóc cho một cuộc tình có lẽ càng trong hơn bởi nó được "lọc" bằng trái tim đang yêu. Vậy đây là giọt nước mắt của ai, giọt nước mắt của em khóc hay là anh khóc? Anh đã khóc "khóc không phải vì yếu hèn" mà khóc vì yêu em, khóc vì: "Điều chưa đến mà sao thấy mất", khóc vì tình yêu chưa đến mà đã đi xa thật rồi, xa mãi…

Đến khổ thơ thứ ba, một lần nữa, Nguyễn Khắc Thạch lại nhắc "có một dòng sông" nhưng đây không phải là một dòng sông bình thường có tiếng ai í ới gọi đò, mà đây chính là dòng sông chỉ có một bờ, chỉ có bờ bên này mà không có bờ bên kia, vì: "phía bờ kia quay mặt", bờ kia - bờ em quay mặt - em - không - đáp - lại - tình - yêu - của - anh. "Phía bờ kia quay mặt", hay chính là em "quay mặt".

Bài thơ kết thúc giống như "dòng sông" trong lòng anh đã thôi chảy, dẫu biết rằng dòng sông cuộc đời cứ mãi trôi đi.

Dòng sông một bờ
(Nguyễn Khắc Thạch)

Có một dòng sông mang tên em,
Dòng sông anh tự đặt
Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.
Có một dòng sông trôi vào lãng quên,
Nước trong như nước mắt
Điều chưa đến mà sao thấy mất?
Có một dòng sông chỉ có một bờ,
Phía bờ kia quay mặt.
Dòng sông anh không qua được bao giờ...

Theo: Tạp chí Trí tuệ
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Jan 2015 lúc 8:35am

Cảm nhận bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính

 

Sáng nay mở cửa ra, bắt gặp một chồi non vừa nhú ra khỏi cội sung già. Nhìn sang cây mai bon sai, lác đác vài nụ hoa còn trong vỏ trấu. Tiết trời se lạnh. Bất giác tôi nhận thấy dấu hiệu của mùa Xuân khi  khoảng không trước nhà xuất hiện mấy cánh én chao liệng....

Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội, mùa của đôi lứa hẹn hò, trao nhau những lời hẹn ước. Mùa xuân cũng là mùa của cảm xúc thơ ca, thăng hoa trong tâm hồn các thi sĩ.

 Trong dòng chảy thơ ca đương đại viết về mùa xuân, tôi đặc biệt yêu thích bài thơ Mưa Xuân của thi sĩ Nguyễn Bính. Mưa Xuân gợi nhớ tuổi hồng năm nào. Mưa Xuân phơi phới bay như tâm tình cô thiếu nữ, đã cuốn tôi ngược dòng về với những năm nửa đầu của thế kỷ 20

 

Mưa Xuân 

 

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già.

Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

 

Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.


Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh…


Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem


Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
Mưa bụi nên em không ướt áo,
Thôn Đoài cách có một thôi đê.


Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em


Chờ mãi anh sang, anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng,
Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng bẽ bang


Mình em lầm lũi trên đường về,
Có ngắn gì đâu một dải đê
áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt
Lạnh lùng em tủi với canh khuya.


Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giầy
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”


Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay”!

(Nguyễn Bính)

 

 

Bài thơ Mưa Xuân được Nguyễn Bính viết theo thể thơ Tứ Tuyệt Trường Thiên. Nội dung viết về mùa xuân ở vùng quê bắc bộ những năm nửa đầu của thế kỷ 20. Trong Mưa Xuân có bức tranh làng quê ngày xuân, có hội làng, có nỗi lòng của một thôn nữ ở tuổi cập kê. Mưa Xuân như một câu chuyện được Thi Sĩ kể bằng thơ .
Câu chuyện Mưa Xuân, được thi sĩ mở đầu không phải cảnh đẹp xuân, không phải tiết trời xuân .Mà là

 

Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.


Nhân vật trong thơ, người mà Nguyễn Bính muốn miêu tả ở đây là một thiếu nữ làm nghề dệt lụa. Cảnh nhà đơn chiếc em “dệt lụa quanh năm với mẹ già” . Em còn trẻ được tác giả ví “như vuông lụa trắng”. tức vuông lụa chưa thành phẩm. Cho nên “mẹ già chưa gả bán”…..Em là hình mẫu người thiếu nữ thôn quê trong trắng, luôn luôn có trong thơ Nguyễn Bính. Trong bài Mưa Xuân,  nhân  vật ấy cũng không ngoại lệ. Bài thơ được nối tiếp sau phần giới thiệu bây giờ là:

 

Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.

 

Cảnh nhà đơn chiếc chỉ có hai mẹ con. Bỗng trở lên vui tươi ở khổ thơ này. Bởi một bữa “mưa xuân phơi phới bay”. Ta có cảm giác lòng Em “phơi phới bay” chứ không phải “mưa xuân” . Hình ảnh Hoa Xoan (Sầu đông) là hình ảnh loài hoa hiện diện ở khắp các làng quê Bắc Bộ từ xưa đến nay. Được Thi sĩ đưa vào Mưa Xuân với “hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”.


Rồi “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” đã làm cho khung cảnh yên bình bị phá vỡ . Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của “hội chèo” cộng thêm “mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.làm cho “vuông lụa trắng” khấp khởi khi ngồi dệt bên khung cửi.
Mưa xuân đã xuất hiện trong thơ làm cho trời xuân khởi sắc, làm cho lòng người khấp khởi . Câu chuyện Mưa Xuân vẫn đang tiếp tục được Thi sĩ kể rằng:

 

...Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh…

 

Ở đây có lẽ do “mưa xuân phơi phới” rồi “hội chèo” đi ngang ngõ . Hay lời nói của Mẹ đã làm cho “vuông lụa trắng” phải “ngừng thoi lại” . Vì sao “tay xinh”ngừng dệt? có phải bởi “lòng thấy giăng tơ một mối tình” . Tại sao mới chỉ “lòng thấy…”mà đã “hình như hai má em bừng đỏ”? Em sao lại ngượng ngùng khi mới chỉ “nghĩ tới anh”. Một khổ thơ với bao nhiêu câu hỏi, khiến người đọc phải suy ngẫm qua đi. Câu chuyện mưa xuân vẫn còn nối tiếp:


...Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem


Trời đã buông màn nhung tối đen xuống, bao phủ làng quê. Nhà nhà đã lên đèn, Em lúc này mới để ý và ra “trước mái hiên”,làm một hành động rất đẹp “ngửa bàn tay” ra đón “mưa xuân phơi phới bay” . Mặc dù “mưa chấm tay em từng chấm lạnh”. Nhưng em không cảm thấy mưa lạnh đang rót vào tay mình từng hạt, mà em chỉ nghĩ tới “thế nào anh ấy chẳng sang xem”.


Mưa Xuân đã xuất hiện như có tâm hồn “phơi phới bay” .Ở đây,chúng ta càng thấy rõ tài sử dụng từ ngữ tài tình của thi sĩ. “vuông lụa trắng” khấp khởi trong lòng khi nghĩ tới “anh ấy”nên không ngần ngại dẫu ngoài trời đang mưa lạnh :


...Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
Mưa bụi nên em không ướt áo,
Thôn Đoài cách có một thôi đê.


Bây giờ chúng ta mới thấy từ “vội vàng” xuất hiện. Sau khi em đã “xin phép mẹ”. Mẹ đồng ý nên “Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe”.


Đọc tới đây, tôi có cảm giác Em đã vội để đến “Thôn Đoài”, dù chỉ cách một “thôi đê”. Chỉ có đi nhanh như bay thì “mưa bụi” mới “không làm em ướt áo”được.
Một điều tôi muốn nói rằng, tâm lý chung của mấy cô con gái mới biết rung động trái tim yêu lần đầu, khi nghĩ đến hẹn hò thì sẽ “chân sáo” để đi là cái chắc. 

 

Nếu ai đã từng đi dưới sương đông, chắc hẳn biết nếu đi chậm sương cũng sẽ làm ướt áo, chứ đừng nói đến “mưa bụi”. dẫu “mưa bụi” là mưa nhỏ li ti đi chăng nữa. Câu chuyện Mưa Xuân vẫn còn lôi cuốn ta đi theo sau khi em đến thôn Đoài mà không bị Mưa bụi làm ướt:

 

...Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em

 

“Hội Chèo làng Đặng” tới hát ở “thôn Đoài”,  mùa lễ hội mà đặc biệt hôm nay, sẽ “Hát thâu đêm”tức tàn canh “đám hát”mới tan. Em đã xin phép mẹ đi xem hội. Vậy mà “Em mải tìm anh chả thiết xem”. Em có tìm thấy hay không? Giữa chốn đông người đi xem hát ấy, chưa biết. Chỉ thấy phía trước và ngay đêm nay, nơi căn nhà ấm cúng của em và Mẹ sẽ có “giường cửi lạnh”. Em không ngủ cũng không dệt nên “thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”. Thoi ngà nhớ người, hay em đangnhớ anh?Câu hỏi này ta mang theo vào câu chuyện Mưa Xuân còn đang tiếp diễn:


...Chờ mãi anh sang, anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng,
Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng bẽ bang


Một khổ thơ diễn tả tâm trạng cũng như những lời trách rất thật, rất nhẹ nhàng của cô gái thôn quê. Hóa ra không dưng mà đầu câu chuyện Mưa Xuân, Em lại “hai má bừng đỏ” khi “nghĩ tới anh” Họ đã gặp nhau ở đám “hát bên làng” hôm nọ. Anh chàng đã “năm tao bảy tiết” hò hẹn. Khiến cô gái “lòng còn như vuông lụa trắng” đã tin tưởng và hôm nay thì lại thấy “cả mùa xuân cũng bẽ bàng”. Em thất vọng vì tìm không gặp anh, phải lủi thủi “bẽ bàng” và có cảm giác rằng mùa xuân tươi mới kia cũng “bẽ bàng” theo đấy thôi!

Hội tan con đường về giờ đây:


...Mình em lầm lũi trên đường về,
Có ngắn gì đâu một dải đê
Áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt
Lạnh lùng em tủi với canh khuya.


Đám hát đã tan, và “em mải tìm anh” trong vô vọng. Anh đã không đến. Hay là em tìm không gặp?hay là bởi “vô duyên đối diện…” hay là? Hay là? Bao nhiêu câu hỏi không lời giải đáp. Chỉ biết rằng giờ đây “mình em lầm lũi trên đường về” ! “Mình em tủi với canh khuya”! có lẽ em là người sau cùng rời đám hát, nên đường về chỉ có mình em.

 

Khi đi, em khấp khởi vui bao nhiêu thì bây giờ về là đoạn đường lê thê .“Mưa nặng hạt” và chỉ có “áo mỏng che đầu”. “Thôn Đoài cách một thôi đê” sao gần thế! em đi hết, mà “mưa bụi không ướt áo”!

 Thế mà giờ đây “Có ngắn gì đâu một dải đê”.

Lầm lũi em về với hình ảnh “áo mỏng che đầu” đủ thấy em bị “mưa nặng hạt” làm ướt áo .Thấm lạnh từ mưa và cả cái lạnh từ trong “vuông lụa trắng”, làm em tê tái bước chân trên đường về cô độc.

Câu chuyện mưa xuân vẫn chưa dừng lại . Sau khi Mưa Xuân xuất hiện “phơi phới bay”. Rồi “mưa bụi không làm em ướt áo” và “Mưa nặng hạt” đã trút lên đầu qua lớp “áo mỏng che đầu”. Bây giờ ta gặp lại Mưa Xuân và hoa xoan, Hội chèo, Mẹ Bảo. Nhưng với hình ảnh khác:

 

...Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay

Hoa xoan đã nát dưới chân giầy

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”

 

Mưa Xuân đã biết vui buồn theo em. Bây giờ Mưa xuân “đã ngại bay”.

Hoa xoan vẫn là hoa xoan rụng rơi trên mặt đất “bữa ấy”. Nó không còn lớp lớp dày” nữa mà giờ thì “hoa xoan đã nát” dưới chân giầy”. Bởi “hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”. Thôn Đoài đã hết hội rồi. Còn mẹ lại bảo “Mùa Xuân đã cạn ngày”.

Hội tan , gánh chèo rời đi.em đâu còn cơ hội để tìm anh nữa….Bao nhiêu hy vọng tiêu tan.Nỗi lòng “vuông lụa trắng”có lẽ là hình ảnh “Hoa xoan ….dưới chân giầy” . Làm sao mà trong lòng không tan nát cho được khi mà đã tới Thôn Đoài mà chỉ “tìm anh chả thiết xem”. Cuối cùng hết hội lủi thủi một mình “tủi với canh khuya”! Bây giờ thì “mùa xuân đã cạn ngày”. Hy vọng không còn em chỉ còn biết tự thầm thì với lòng mình, như đang nói với anh thôi:

 

...Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày

Bao giờ em mới gặp anh đây?

Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ

Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay!

 

Có thể nói, Em đã không may mắn trong mùa xuân này! Với câu hỏi “bao giờ em mới gặp anh đây?” có nghĩa vẫn còn hy vọng. chỉ là chưa gặp thôi! Sẽ gặp! có điều là không biết “bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ”, để mà em lại được nghe “mẹ bảo rằng : Hát tối nay”!Lại đợi chờ...và hy vọng...

 Huỳnh xuân Sơn

 

IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 13 Jan 2015 lúc 10:26pm
Bình bài thơ “Ba Cái Lăng Nhăng” Của Tú Xương
lời bình của Hoa Mai

Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái nấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà

Nhà thơ trào phúng nổi tiếng Trần Tế Xương (1870 - 1907) có rất nhiều giọng điệu hài hước khác nhau nhưng điểm giống nhau là đều... cười ra nước mắt. Cười đời, cười người và cười mình cũng vậy. Tuy thế thỉnh thoảng vẫn có những bài tự trào nhẹ nhàng, cứ tưởng riêng tư mà lại hóa ra đả động đến không ít vấn đề có tính chất như một "mẫu số chung" trong xã hội. Bài thơ "Ba cái lăng nhăng" nằm trong số đó.

Nếu căn cứ vào những bài thơ mà Trần Tế Xương để lại cho đời hơn trăm năm nay thì người đọc có thể nhận ra chuyên môn của ông là "gia sư" dạy cho chính đàn con nheo nhóc của mình mà ông đùa nhạo ông là "quan tại gia", "ăn lương vợ"...
Bà Tú vất vả nơi đầu mom cuối bãi, thân cò lặn lội đường xa để "Nuôi đủ năm con với một chồng". Ấy vậy nhưng bà thương ông, phục ông lắm! Chẳng mấy khi trong túi ông không xỏng xảnh vài đồng để gặp bạn gặp bè vui cùng túi thơ bầu rượu. Hứng lên, ông còn đi chơi hát ả đào và say đến nỗi bị lấy mất cả ô. Thất nghiệp, nghèo khó, bất đắc chí... nhưng ông Tú vẫn là một đấng nam nhi hoàn toàn. Đàn ông thì chuyện trà, tửu, sắc... là chuyện thường tình, ắt phải có. Văn chương, thơ phú... là sản phẩm của những lúc trà dư tửu hậu hoặc ngả nghiêng bên hương sắc giai nhân đấy thôi!

Ta hãy nghe ông Tú liệt kê:
Một trà, một rượu, một đàn bà
Cái giọng điệu thản nhiên đến lạnh lùng, tưng tửng. Đàn bà là một nửa thế giới loài người, quan trọng thế mà ông đặt ngang hàng với những thứ vô tri vô giác như trà vàrượu. Quá đáng thật! Hay là ông cũng nhiễm nặng tư tưởng phong kiến "trọng nam khinh nữ"?!
Có thể lắm chứ, nhất là ông lại là đệ tử thánh hiền.

Tệ hơn nữa, ông xếp đàn bà vào cùng với những "cái lăng nhăng" khác. Mà "lăng nhăng" thì có nghĩa là vớ vẩn, không mấy giá trị:
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Quấy tức là làm cho ta mất thời giờ, mất công sức, tiền bạc... khó mà tập trung vào để lo những việc lớn lao trong đời như học hành, thi cử, đỗ đạt, ra làm quan giúp đời giúp nước... Nói tóm lại là nó ảnh hưởng xấu tới quá trình thực hiện "chí nam nhi".

Biết thế nên ông Tú mới tự nhủ:
Chừa được cái gì hay cái nấy
Nhận thức được rõ ràng như thế là rất tốt! Nhưng quân tử nói được thì phải làm được. Lòng tự nhủ lòng phải cố mà cai, mà chừa hẳn ba cái lăng nhăng cho đời biết mặt. Phen này thì nhất ông chứ chẳng bỡn!

Thế rồi chả biết là chừa được bao lâu? Vài ngày hay một tuần, nửa tháng? Đàn ông phàm đã có tí máu nghệ sĩ trong người mà bắt buộc phải chừa ba cái lăng nhăng này thì có khi chết còn sướng hơn! Sáng sáng không có ấm trà, làm sao đầu óc tỉnh táo được? Rồi trưa trưa, tối tối không có chén rượu đưa cay thì khác chi "Nam vô tửu như kỳ vô phong". Hoặc dăm ba ông thích thơ thích phú bắt buộc phải có hơi men kích thích thì thi hứng mới thăng hoa... Quả là khó nhưng quyết tâm thì vẫn cứ chừađược.

Cuối cùng thì nhà thơ đành gãi đầu tự thú:
Có chăng chừa rượu với chừa trà
Tú Xương viết thế là thật lòng vì ông sợ thiên hạ bảo ông "điêu". Thử hỏi trăm ngàn gã đàn ông, kể cả những bậc tự xưng là "Thiên tử", là "Thánh nhân", là "Quân tử", là "Trượng phu"... chưa kể đám phàm phu tục tử, có ai dám hùng hồn tuyên bố là không cần tới "đàn bà"?!
Thấp thoáng sau câu cuối là một nét cười hài hước, hóm hỉnh.
Cười mình và cười bao kẻ như mình trong xã hội. Mà đọc kỹ thì chúng ta sẽ thấy Tú Xương chỉ đặt ra giả định là nếu cố chừa ba cái lăng nhăng thì may ra chừa rượu với chừa trà chứ không thể chừa được đàn bà. Vậy là ông thấu hiểu tầm quan trọng của đàn bà đấy chứ! Mà cũng lạ! Tại sao đàn bà là thế giới kỳ thú và hấp dẫn đến thế mà đàn ông lại phải chừa? Vô lý thật! Rất may là ông Tú đã sớm nhận ra điều quan trọng đó! Xưa nay người đời chẳng đã lưu truyền câu: "Anh hùng khó vượt ải mỹ nhân"đó sao?!
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 04 Apr 2015 lúc 10:43am
Có phải em là mùa thu Hà Nội...

Hà Nội ở đây là Hà Nội trong trái tim trìu mến, thiết tha của những người con dân đất Việt: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Những người dân Việt ấy, dù ở phương trời nào vẫn hướng về Hà Nội, vẫn mang trong máu thịt của mình tình yêu với Hà Nội ngàn năm. Một áng văn đẹp, một bài thơ hay, một giọng nói của người Hà Nội, một món ăn mang hương vị Hà Nội… cũng bất chợt chạm vào nỗi nhớ, thổi bùng tình yêu ấy, thăng hoa thành nhạc, thành thơ.                           
 
Nói đến mùa thu, người ta hay nghĩ đến lá vàng. Lá nhuộm vàng trên cây, lá trải vàng mặt đất như trong bức họa trứ danh “Mùa thu vàng” của danh họa Levitan – đó là mùa thu của nước Nga. Còn mùa thu Hà Nội thì sao?
 
Tháng Tám mùa thu lá khởi vàng chưa nhỉ?”. Câu hỏi tưởng như vu vơ của một người bâng khuâng tự hỏi mình ấy thật dễ thương khiến tôi nhớ lại một chuyện: Đại lễ 1000 năm Thăng Long, gia đình tôi được đón nhiều bạn bè. Anh bạn người Sài Gòn, mười mấy năm mới trở lại thăm Hà Nội cứ băn khoăn mãi: Mùa thu lá vàng sao anh tìm mãi chẳng thấy chiếc lá vàng nào? Ở đâu rồi những con phố trong bài thơ “Đất nước” của Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã làm xao xuyến bao trái tim những người yêu Hà Nội?
 
 “… Những phố dài xao xác hơi may
 Người ra đi đầu không ngoảnh lại
 Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy…
 
Bạn xa ơi, tháng Tám mùa thu… Hà Nội vẫn còn rất nóng. “Nắng tháng Tám, rám trái bưởi” cơ mà. Bầu trời mùa thu thật cao, thật xanh, xôn xao hoa nắng và những hàng cây xanh mướt rợp trên các ngả đường, lấy đâu ra lá vàng bay.
 
Hà Nội đẹp và dễ chịu nhất vào các tháng 10, 11, 12 dương lịch, khi những trận bão cuối mùa cũng hết, nắng vàng như rót mật và se se con gió heo may ướp thơm hương cốm, hương hoa. Đó cũng là mùa cưới hỏi rộn ràng nhất. Những ngày đẹp, từng đoàn xích lô chở các bà mặc áo dài, mang lễ hỏi trôi dềnh dang trên phố như khoe; những xe hoa đón dâu trang trí điệu đà chạm nhau ở mỗi ngã tư, chạm những ánh nhìn khát khao, náo nức… Cuối thu đầu đông rồi đấy, nhưng cũng làm gì có lá vàng rơi.
 
Những bức ảnh thiếu nữ áo dài đùa với lá vàng trên đường Hà Nội, những bức ảnh chị bán hàng rong tần tảo đi trong lá vàng bay ấy chỉ có thể chụp vào dịp đầu tháng Năm, khi những cây sấu cổ thụ trên đường Hà Nội vừa trút lá già, vừa thay lá non. Dưới gốc là thảm lá vàng xao xác nhưng trên cành lá non đã xanh mướt, dịu dàng. Dạo trên con đường lá, thấy lòng mình êm ả, chợt bâng khuâng mỉm cười ngắm lá vàng bay. Nhiều đống lá đã được vun gọn lại, vàng tươi, khiến tôi bỗng có một ước muốn điên rồ là được ôm lấy chúng, tung ra, trải ra, dát vàng hết vỉa hè. Chợt nghe lòng ngân lên câu hát "Có phải em là mùa thu Hà Nội, ngày thu sang anh lót lá em nằm...". Trong thực tế, trong thơ, trong họa, trong những tiểu thuyết lãng mạn nhất viết về Hà Nội tôi chưa từng thấy hình ảnh thiếu nữ Hà Nội nằm trên lá bao giờ, dù thảm lá ấy thật đẹp, chỉ thấy duy nhất trong bài hát phổ thơ này. Có lẽ, vì thảm lá của Hà Nội chưa đủ dày. Có lẽ, vì sự giáo dục của người Tràng An không cho phép một thiếu nữ con nhà gia giáo được nằm trước người lạ. Có lẽ, đó chỉ là hình ảnh rất dễ thương trong mộng tưởng của một chàng thi sĩ lãng mạn…
 
Gõ Google mới biết, ca khúc “Có phải em mùa thu Hà Nội”  của nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ bài thơ cùng tên của tác giả Tô Như Châu. Nguyên văn bài thơ ấy thế này:
 
 
 CÓ PHẢI EM LÀ MÙA THU HÀ NỘI                                      
 
 
Tháng Tám mùa thu lá khởi vàng chưa nhỉ.
Từ độ nguời đi thương nhớ âm thầm.
Có phải em là mùa thu Hà Nội.
Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm.
Có phải em mùa thu xưa.
 
Có bóng mùa thu thức ta lòng sang mùa.
Một ngày về xuôi chân ghé Thăng Long buồn.
Có phải em là mùa thu Hà Nội.
Ngày sang thu anh lót lá em nằm,
Bên trời xa sương gió bay.
 
Thôi thì có em đời ta hy vọng.
Thôi thì có em sương khói môi mềm.
Có phải em là mùa thu Hà Nội.
Nghe đâu đây lá ướt và mi xanh.
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát.
 
Có chắc mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi.
Lệ mừng gặp nhau xôn xao phím dương cầm.
Có phải em là mùa thu Hà Nội.
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về.
Ôi mùa thu của uớc mơ.
 
 
 Tô Như Châu, tác giả bài thơ sinh năm 1935, mất năm 2000, quê ở Đà Nẵng. Thuở trẻ, trong xóm nhỏ ông ở nằm trên bờ biển Sơn Trà, Đà Nẵng có nhiều cô gái gốc Hà Nội di cư vào Nam. Các cô gái thật xinh xắn dễ thương làm cho trái tim tác giả mơ tưởng về một Hà Nội ngàn năm văn hiến nhưng khi đó đã quá xa xôi vì ở bên kia bờ giới tuyến. Ông đã sáng tác bài thơ trong tâm trạng đó vào năm 1972.
 
Khi biết tác giả bài thơ và người phổ nhạc – Nhạc sĩ Trần Quang Lộc đều chưa được đến Hà Nội, tôi mới hiểu ra: Hà Nội ở đây là Hà Nội trong trái tim trìu mến, thiết tha của những người con dân đất Việt: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Những người dân Việt ấy, dù ở phương trời nào vẫn hướng về Hà Nội, vẫn mang trong máu thịt của mình tình yêu với Hà Nội ngàn năm. Một áng văn đẹp, một bài thơ hay, một giọng nói của người Hà Nội, một món ăn mang hương vị Hà Nội… cũng bất chợt chạm vào nỗi nhớ, thổi bùng tình yêu ấy, thăng hoa thành nhạc, thành thơ. Tôi không ngạc nhiên nữa khi trong thơ, trong nhạc, trong tranh, trong “Thương nhớ mười hai”  tuyệt hay của Vũ Bằng… Hà Nội hiện lên lộng lẫy, kiêu sa qua bao cơn binh lửa. Được lọc qua lăng kính của Tình yêu, Hà Nội khúc xạ trong niềm thương nỗi nhớ thành muôn mảnh, mảnh nào cũng đong đầy bịn rịn, nhớ nhung…
 

Ai đó viết rằng: chẳng có thủ đô nào trên thế giới lại hiện diện trong văn, trong thơ, trong nhạc, trong họa… nhiều như Hà Nội. Bạn ơi, bởi vì Hà Nội luôn chiếm một góc thiêng liêng trong trái tim người Việt, cả những người sống trong lòng Hà Nội và những người chưa được đến Hà Nội bao giờ. Câu thơ của Nguyễn Phan Quế Mai đã nói hộ nhiều người tình cảm đó:
 
 “Tôi không được sinh ra và lớn lên trong Hà Nội
 Hà Nội tự sinh ra và tự lớn trong tôi”
 
 
Hà Nội 14/6/2011
CHỬ THU HẰNG
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 21 Apr 2015 lúc 7:50am

Con hãy về với má

 

Đã bao mùa lá rụng

Sao con lại không về?

Lòng má còn tái tê

Ngóng chờ con từng phút!

 

Tuổi xanh con xếp bút

Theo con đường ba đi

Từ đất nước chia ly

Nay đã thành một dải.

 

Má mong chờ con mãi

Sao con lại không về

Ba đã trọn lời thề

Chỉ còn con hy vọng.

 

Hay con về báo mộng

Cho má một lần thôi

Con đang ở trên đồi

Hay chơi vơi bờ suối?

 

Ở cây cao bóng núi

Ở ngay giữa đồng bằng?

Giữa thành phố huy hoàng

Hay làng quê cuối hạ?

 

Nếu con về với má

Hãy đi thẳng vào nhà

Đừng dừng bước nữa mà

Đừng đứng nhìn ngoài ngõ.

 

Nhà của ta ở đó

Má chỉ mong con về

Bằng không má sẽ đi

Tìm con về với má

        Nguyễn Quang Huệ

 
Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào

Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào

Chắc ai trong chúng ta cũng từng đắm chìm vào giai điệu và ca từ của bài *lòng mẹ*. Quả thật tình cảm của người mẹ đối với con không thể tả thành lời. Bởi thế đã có biết bao tg đã ca ngợi tình mẹ trong tác phẩm của mình nhưng xem ra việc đó chỉ như những giọt nước đổ vào lòng đại dương bao la tình mẹ. Và hôm nay tôi có dịp chiêm ngưỡng một giọt nước trong những giọt nước đó

Bài thơ năm chữ ,bảy khổ bốn câu với góc nhìn ngôi thứ nhất bày tỏ nổi niềm của người mẹ khi con chẳng thể trỏ về.

Người con chính là cả cuộc đời của người mẹ nên không có gì xót xa hơn khi *người đầu bạc khóc kẻ đàu xanh*

Đã bao mùa lá rụng

Sao con lại không về?

Lòng má còn tái tê

Ngóng chờ con từng phút!

Giọng thơ thiết tha vói câu hỏi nhấn mạnh ý, khiến ta cảm thấy hình ảnh mẹ già ngồi ngóng chờ con tùng phút , đã trãi qua đằng đẳng bao năm khiến cả cơ thể và tấm lòng mẹ tê buốt. Thời gian đằng đẳng ngóng chờ đã quá dư dã để mẹ hồi tưởng lại bao kỷ niệm khi vẫn còn ở bên con

Tuổi xanh con xếp bút

Theo con đường ba đi

Từ đất nước chia ly

Nay đã thành một dải.

Giọng thơ vẫn tha thiết, nhẹ nhàng cho ta biết lý do người con phải xa lìa vòng tay của mẹ. Không có người mẹ nào muốn xa con , nhất là còn *tuổi xanh* và dang dở việc học hành , lại đi vào nơi nguy hiểm. Nhưng vì * đất nước chia ly* nên mẹ mới để con ra đi. Đó ắt hẳn là bà mẹ vĩ đại. Nhung cuối cùng người vẫn là một phụ nữ ,một bà mẹ nên:

Má mong chờ con mãi

Sao con lại không về

Ba đã trọn lời thề

Chỉ còn con hy vọng.

*Ba đã trọn lời thề* cho ta biết người chồng thân yêu của mẹ đã vì nước vĩnh viễn không trở về . Và việc * Chỉ con còn hy vọng* nói lên việc người con của mẹ chính là người con duy nhất, là vạch nối sự sống duy nhất của mẹ ở cỏi đời nay. Hơn nữa câu thơ trên cũng chỉ việc người con bị mất tích. Việc bị mất tích là niềm hy vọng nhỏ nhoi nhưng lại là nỗi đau gấp bội phần và dai dẳng. Vì ngiười Việt ai cũng muốn người thân khi mất đi được * mồ yên mã đẹp* dể sớm hôm nhang khói. Chính vì thế: 

Hay con về báo mộng

Cho má một lần thôi

Con đang ở trên đồi

Hay chơi vơi bờ suối?

 

Ở cây cao bóng núi

Ở ngay giữa đồng bằng?

Giữa thành phố huy hoàng

Hay làng quê cuối hạ?

Tg đã dành cả hai khổ thơ để bày tỏ niềm ưu tư khắc khoải,niềm hy vọng mong manh của bà mẹ. Với chặng thời gian dài 40 năm ,hy vọng người con vẫn sống đã không còn: * hay con về báo mộng*. Điều duy nhất mẹ hy vọng là biết được con mình ở chân trời góc biển nào:  

đồi- suối 

núi - đồng bằng

 thành phố- làng quê

Nhưng xem ra vẫn khó có thể thực hiện được nên mẹ chỉ ước được * báo mộng.*

 Con người ta dù có tuyệt vọng đến đâu thì đâu đó trong lòng vẫn le lói tia hy vọng. Hy vọng nhỏ nhoi được người mẹ thể hiện bằng việc giả dụ người con quay về ( dù có trong mơ)

Nếu con về với má

Hãy đi thẳng vào nhà

Đừng dừng bước nữa mà

Đừng đứng nhìn ngoài ngõ.  

Ắt hẳn từ lúc con đi cửa nhà  mẹ chẳng bao giờ đóng,chỉ sợ con về không vào được sẽ* bước nữa mà* hay * nhìn ngoài ngỏ*

Liên tiếp hai câu đừng: đừng dừng - đừng điứng tg đưa ra đã nhấn mạnh niềm khắc khoải - lo nghĩ trong lòng mẹ. 

Khổ thơ cuối kết dòng suy tưởng của mẹ chính là việc người quay lại với thực tại. Mẹ khẳng định lại lần nữa với người con là sau bao năm cửa nhà vẫn mở và 

Nhà của ta ở đó

Má chỉ mong con về

Bằng không má sẽ đi

Tìm con về với má

Chiến tranh đã trôi qua 40 năm rồi. Ắt hẳn tin về người con mất tích đã còn lâu hơn thế nữa. Vậy nên mẹ giờ này đã gần đát xa trời ,lưng đau gối mỏi. Việc đi lại đối với mẹ hết sức khó khăn. Nhưng không vì thế mà làm nản lòng mẹ.

Bằng không má sẽ đi

Tìm con về với má

 Mẹ khẳng định là sẽ đi tìm con. Hai câu kết này khiến tôi hết sức phân vân. Tại sao bao nhiêu năm chờ đợi đến khi sức tàn mẹ mới quyết định đi tìm con. Chắc là có một tổ chức nào đó giúp mẹ tìm con hay là...Và vỡ òa ra rằng mẹ chuẩn bị cho chuyến đi một chiều và chắc chắn gặp con ở cõi vĩnh hằng.

Hai câu cuối đã khẳng định chắc chắn, niềm hy vọng chưa bao giờ tắt trong lòng mẹ dù thời gian có bao lâu đi nữa. Và đến phút cuối cuộc đời, mẹ vẫn hướng về con. Xin nghiêng mình kính phục tấm lòng của tất cả các bà mẹ trên cõi đời này.

Bài thơ thể hiện rõ tâm tư của người mẹ  cũng như ẩn hiện nỗi ray rứt của người con,cùng với việc đề ngày 30/4 tôi có cảm giác tg  đã từng trãi qua  cuộc chiến. Tg hẵn rất ray rứt về các đồng đội đã ngã xuống khi xưa nhung đến giờ xác vẫn chưa tập kết được. Bài thơ như là lời * trả nợ ân tình* với người đã khuất.

Bài thơ rất hay, gây xúc động cho người đọc. 

Cám ơn tg Nguyễn Quang Huệ cho tôi cảm giác ấm áp với tấm lòng người mẹ

Chúc tg vui khỏe và có thêm nhiều tác phẩm hay

Trên đây là vài cảm nhận riêng ,nếu có gì sai sót mong tg và bạn đọc bỏ qua cho.

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 21 Apr 2015 lúc 7:53am

MỜI KHÓI UỐNG RƯỢU
Nguyễn Lâm Cẩn

Muốn mời mấy đứa cụng li 
Đứa thì xuống đất, đứa đi về giời 
Đứa thì lễ hội rong chơi 
Đứa thì cơm áo chưa rời áo cơm
Ngồi buồn nhóm ngọn lửa rơm 
Nâng lên mời khói cho thơm vị đời

Đạo người, đạo chữ chơi vơi 
Chí Phèo, Bá Kiến coi trời bằng vung 
Đã rơi xuống đáy bần cùng 
Những ai lương thiện không khùng cũng điên!

Ta mời khói chén bình yên 
Đêm nay dốc ngược túi tiền mà say 
Cầu xin ngọn khói đừng bay 
Trọi trơ ta giữa đất này khói ơi!

\
Lủa tàn, rơm hết, than tơi 
Ta cùng hồn đất hồn trời cụng đêm!
Hà Nội, 3-2-2015

*
* *

Bài thơ vốn liền mạch, nhưng tôi tách ra thành các phân đoạn để bạn đọc dễ theo sát lời bình đối với bài thơ.
Tạm chia thành bốn mạch ý tưởng với cảm nhận theo từng mạch ấy.
Sáu câu thơ đầu là nỗi niềm cô đơn của nhà thơ – đại diện cho “cái tôi” và cũng là “cái ta” – nhân thế. Nỗi cô đơn thiếu vắng bạn bè đến buồn thảm: 
Muốn mời mấy đứa cụng li 
Đứa thì xuống đất, đứa đi về giời 
Đứa thì lễ hội rong chơi 
Đứa thì cơm áo chưa rời áo cơm
Để đến nỗi người cô đơn phải “Ngồi buồn nhóm ngọn lửa rơm /Nâng lên mời khói cho thơm vị đời”.

Nỗi niềm cô đơn ấy có lý do dễ hiểu là bởi mỗi người có hoàn cảnh và theo đuổi một mục đích khác nhau, nhưng thẳm sâu là nguyên nhân được bộc lộ trong bốn câu thơ ở phân đoạn thứ hai. Đó là cái xã hội “Đạo người, đạo chữ chơi vơi/Chí Phèo, Bá Kiến coi trời bằng vung” – xét cho cùng, không chỉ Bá Kiến mà cả Chí Phèo (thời xưa và thời nay) cũng “coi trời bằng vung”, biểu hiện của một xã hội rối ren phi luật pháp, nên chi, những người bần cùng “không khùng cũng điên”. Khùng điên đối với nhà thơ là “mời khói uống rượu”? Không! Không thể khác trong hoàn cảnh ấy và đó là cuộc chơi chưa hề gặp – cuộc chơi rất đẹp, mà cũng rất thơ!
Phân đoạn ba là cuộc chơi uống rượu cùng khói. Song, vẫn thấp thỏm, bởi đến lượt mình, khói cũng như những người bạn trên kia, rồi khói cũng sẽ bay đi lúc nào không biết trước. Vậy nên, nhà thơ “Cầu xin ngọn khói đừng bay” để mình khỏi trơ trọi cô đơn như mọi trường hợp.
Như là phân đoạn thứ tư kết thúc bài thơ, hai câu thơ cuối bài mở ra một ngạc nhiên vừa thẩm mỹ về nghệ thuật thi ca, vừa lạ lẫm về ý nghĩa cuộc đời:
Lửa tàn, rơm hết, than tơi 
Ta cùng hồn đất hồn trời cụng đêm!
Tất cả đều “ra đi”, bạn bè, đạo người, đạo chữ, và cả khói nữa! Chỉ còn lại ta trơ trọi? Không! Ta ngồi với cái hồn bao la muôn thuở - HỒN ĐẤT HỒN TRỜI (tôi nhấn mạnh bằng chữ viết hoa hai hồn này) để cụng ly – à không, cụng đêm – đồng nghĩa với cụng ly trong đêm với HỒN ĐẤT HỒN TRỜI, thì quả là cuộc rượu bao la và tĩnh mịch chừng nào! Chỉ có cuộc cụng ly như vậy mới đầy đủ ý nghĩa cho cuộc đời nhân thế cô đơn mà thi nhân là người đại diện! Hơn thế nữa, đó là cuộc cụng ly giải thoát cho những thân phận cô đơn trần thế! Phải chăng, đó là cái còn lại của con người, của cuộc đời.
Đến đây, tôi bỗng nhớ tới bài thơ “Hư vô” của nhà thơ Quang Huy với bốn câu thơ:
Cái gì rồi cũng rụng rơi
Quả nơi Vườn Cấm hoa nơi Địa Đàng
Chỉ còn lại với thời gian
Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ
Với Quang Huy là Tình yêu; còn với Nguyễn Lâm Cẩn là HỒN ĐẤT HỒN TRỜI!

 

Nguyễn Lâm Cẩn là một cây bút thơ lục bát sành sõi! Tôi khỏi phải nhiều lời về điều này. Và vì vậy, khỏi nói thêm về nghệ thuật thể hiện của bài thơ “Mời khói uống rượu” của anh.
Mới độc giả đọc lại những bài thơ trong kho tàng thơ lục bát của Nguyễn Lâm Cẩn, rồi so sánh, đối chiếu với bài thơ “Mời khói uống rượu” để hiểu thêm giá trị nghệ thuật của bài thơ này – ý tôi muốn nói là bài thơ này đã vượt lên các bài thơ kia ra sao?
Chúc mừng nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn về thơ lục bát nói chung và về bài thơ “Mời khói uống rượu” nói riêng!

 
MAI THANH
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 21 Apr 2015 lúc 7:57am
NỬA ĐÊM TỰ TÌNH
                         Đỗ Anh Thư
 
Nửa đêm nghe gió trở mình
Hương bay thoang thoảng dáng Quỳnh đâu đây


Nửa đêm sương đọng cánh nhài
Vầng trăng quyện áng mây bay lưng trời

Nửa đêm lòng chợt nhớ người
Chìm trong cõi ái mộng ngời dấu xưa


Nửa đêm chợt tỉnh cơn mơ
Trải lòng trên những vần thơ dạt dào

Nửa đêm tay níu chùm sao
Soi con sóng nhỏ dâng trào trong tim


Nửa đêm còn mãi vọng tìm

 Câu thề hương lửa bên thềm trăng thưa


Nửa đêm đêm đã tàn chưa?
Gà eo óc gáy mới vừa sang canh


Yêu ơi ! mộng vẫn chưa thành....
ATĐ.

 

CHU LONG Tâm Sự cùng NỬA ĐÊM TỰ TÌNH Của ĐỖ ANH THƯ 


Nói đến đêm thì đại đa số là không thích chút nào, trẻ thì sợ ma ,già thì đi sợ ngã .Bởi nói đến đêm rõ ràng là tối ,mà bóng tối thì chẳng có ai có hứng thú với nó bao giờ .Nhưng có những điều chỉ về đêm mới có ,mới cho ta thấy được vẻ đẹp về thực thể cùng với mùi hương độc đáo của nó Mùi của Dạ Hương vẻ đẹp của Quỳnh Dao trắng trong mềm mại Và cũng chỉ có đêm ta mới thấy ánh vàng của Trăng mới tuyệt mỹ làm sao mà cả những giọt sương của đêm cũng tinh khiết vô cùng 
Đêm khi đã sang canh ,lúc đó là giao giờ của ngày hôm trước với hôm sau NỬA ĐÊM 
Nửa đêm nghe tiếng thì thầm 
Lời Mây gọi Gió giọng Mầm gọi Cây .
Bài thơ tôi đọc dưới đây của tác giả Anh Thư 
NỬA ĐÊM TỰ TÌNH

Nửa đêm nghe gió trở mình
Hương bay thoang thoảng dáng Quỳnh đâu đây


Nửa đêm sương đọng cánh nhài
Vầng trăng quyện áng mây bay lưng trời

Nửa đêm lòng chợt nhớ người
Chìm trong cõi ái mộng ngời dấu xưa


Nửa đêm chợt tỉnh cơn mơ
Trải lòng trên những vần thơ dạt dào

Nửa đêm tay níu chùm sao
Soi con sóng nhỏ dâng trào trong tim


Nửa đêm còn mãi vọng tìm

 Câu thề hương lửa bên thềm trăng thưa


Nửa đêm đêm đã tàn chưa?
Gà eo óc gáy mới vừa sang canh


Yêu ơi ! mộng vẫn chưa thành....
ATĐ.
Trong bài thơ những cặp câu lục bát cặp nào ta cũng gặp từ Nửa Đêm là chủ ngữ chỉ thời gian .
Nửa đêm trong không gian yên lặng trầm tư sâu lắng ta nghe “tiếng gió “ đó là rất thực ,nhưng người viết đã nâng đến nét đẹp cho ngôn ngữ ‘Trở mình “ chứ không viết “Ào ào ,hay vi vu “ để biết rằng gió cũng có tâm hồn chúng biết cảm nhận .”
Nửa đêm nghe gió trở mình”Và “Hương bay thoang thoảng dáng Quỳnh đâu đây”Chỉ cần ngửi thấy mùi hương là đã biết cái dáng quen thuộc của một Bóng Hình quen thuộc ẩn hiện nơi này . Thật quá ,mà ngôn ngữ lại ảo .ảo lại thực.” Nửa đêm sương đọng cánh nhài” đêm về khuya thì sương mới tạo hình ,lúc đó mới thành giọt Đêm về khuya vầng nguyệt mới tinh khôi màu sắc và thả lửng bầu trời.Ta cứ hiểu theo tự nhiên của quy luật thiên nhiên.Nửa đêm ,chợt nhớ nỗi khát khao ,sự chờ đợi mong ngóng mà chưa thành ,nên trong lòng luôn mong ao ước để rồi “Nửa đêm lòng chợt nhớ người
Chìm trong cõi ái mộng ngời dấu xưa”và cũng cái thời gian của không gian ấy giật mình trở về thực tại ,” Nửa đêm chợt tỉnh cơn mơ
Trải lòng trên những vần thơ dạt dào” Để vơi đi hay tạm quên đi cái chưa được thả tâm tình gửi nỗi lòng mình vào trang giấy vần thơ.

Nửa đêm nghe gió trở mình
Hương bay thoang thoảng dáng Quỳnh đâu đây
Nửa đêm sương đọng cánh nhài
Vầng trăng quyện áng mây bay lưng trời

Nửa đêm lòng chợt nhớ người
Chìm trong cõi ái mộng ngời dấu xưa
Nửa đêm chợt tỉnh cơn mơ
Trải lòng trên những vần thơ dạt dào

Nhưng vẫn không đành lòng quên được biết rằng chưa được .Nhưng vẫn níu kéo của cái xa rất xa chưa đưa tay tới .Mà hình hài thì hiển hiện ngay trước mắt mà chưa cầm nắm được.

“Nửa đêm tay níu chùm sao
Soi con sóng nhỏ dâng trào trong tim

Để rồi trong lòng nỗi khao khát kìm nén cứ dâng trào mà không phá nổi Nó như lò lửa chỉ cần gặp gió là bùng lên dữ dội Nhưng đành phải đợi …chờ thôi.

Nửa đêm còn mãi vọng tìm
Câu thề hương lửa bên thềm trăng thưa”
Nửa đêm đêm đã tàn chưa?
Gà eo óc gáy mới vừa sang canh

Yêu ơi ! mộng vẫn chưa thành....

Thơ Anh Thư rất đa cảm ,cũng như tâm tư người viết ,Nếu không lấy từ tình cảm cũng như tâm trạng chính mình thì không bao giờ bộc lộ được cái hồn quyện với câu chữ ,đó là cái chính để có được bài thơ vào lòng đọc giả. 
Bài thơ có nỗi lòng là vậy .Tác giả đã dùng điệp ngữ NỬA ĐÊM liên tiếp cho từng cặp câu lục bát để nhấn mạnh những ý mình muốn những ý mà người đọc cần hiểu ,tô đậm không gian và thời gian rõ nét ,Cũng là làm cho câu thơ mạnh ,nhưng lại mềm Thật lại Hư .Ảo không Mờ Rõ nhưng Ẩn .Bài thơ rộng nghĩa nhưng với tôi cũng chỉ hiểu đến như vậy ,rất mong đươc bạn đọc cùng thi hữu cảm thông cùng đọc và chia sẻ động viên tôi được viết và viết những bài khác tốt hơn .Mong mọi người cùng vui vẻ đọc .Chúc sức khỏe 
Cám ơn ơn bạn đọc cùng tác giả NỬA ĐÊM TỰ TÌNH
Hải Phòng 4/2015

Chu Long

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 21 Apr 2015 lúc 8:03am
VẦN THƠ TRÊN DÒNG SÔNG THẠCH HÃN
                                                     LÊ HIẾU
 
Trên dòng sông linh thiêng và huyền thoại
Đọc tráng ca vang mãi khúc bi hùng
Thạch Hãn ơi sâu thẳm tới tận cùng
Dòng sông đỏ cháy ngời lên sắc đỏ

Máu thịt anh đã tan vào cây cỏ
Tan vào bùn vào đất để sinh sôi
Cho Việt Nam mãi mãi rực sáng ngời
Cho lịch sử ca vang lời chiến thắng

Đêm Thạch Hãn mênh mang và tĩnh lặng
Những linh hồn trộn lẫn ánh trăng tan
Những âm thanh réo rắt chốn tịnh đàn
Tiếng gọi mẹ xé lòng đau chới với

Đêm Thạch Hãn thuyền nhẹ chèo đi tới
Hồn ngược về tám mươi mốt ngày đêm
Những chiến công đổi tim óc ruột mềm
Mùa hè đỏ dòng sông xanh nhuốm đỏ

Mãi mãi tuổi hai mươi anh nằm đó
giữa lòng sông lòng mẹ Việt Nam ơi
Tiếng thơ rơi nấc nghẹn chẳng nên lời
Ghi nhớ mãi những con người bất khuất

Đêm Thạch Hãn đất trời như vô tận
Hồn các anh tan thành khói thành sương
Tiếng thơ ngân da diết nổi yêu thương...

…(Đất Quảng Trị kiên cường thành Cổ thép.)

 
Lời bình của Chu Long
 
Sông Thạch Hãn bờ Bắc là nơi tập kết của bộ đội ta chờ lệnh vượt sông sang thành Quảng Trị .cùng bao chuyến đò đưa bộ đội rút quân .Chính dòng sông này cũng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của bao con người trên hai chiến tuyến Xương và máu của họ đã hòa trộn sông này.Để cho muôn đời nhắc nhở mãi chúng ta Bi và Hùng 
Lê Hiếu chưa từng chiến đấu nơi đây ,Thế mà trong anh đã chất chứa những nỗi đau thương mất mát quá lớn của một thời mà ngòi bút trong tư duy anh đã viết ra cho chính anh cho mỗi chúng ta.

Trên dòng sông linh thiêng và huyền thoại
Đọc tráng ca vang mãi khúc bi hùng
Thạch Hãn ơi sâu thẳm tới tận cùng
Dòng sông đỏ cháy ngời lên sắc đỏ

Máu thịt anh đã tan vào cây cỏ
Tan vào bùn vào đất để sinh sôi
Cho Việt Nam mãi mãi rực sáng ngời
Cho lịch sử ca vang lời chiến thắng

Nếu ai đã từng đến đây ,đã từng đặt những ngọn nến vào những bó hoa ,tự tay mình thả xuống dòng sông Thạch Hãn thì ta mới biết nó linh thiêng đến mức độ nào .Không ồn ào khuấy động ,không sô bồ xáo trộn ,mà lặng lẽ âm thầm ,không ai bảo ai ,mọi người đều như đã thuộc hết cả .Chỉ có trong tâm họ nghĩ gì thì không ai biết.
Mà đúng lắm ,những câu thơ dưới đây của Lê Hiếu viết rất đúng “im lặng ,im lặng cảm giác còn nghe được âm hồn quanh quẩn bên chúng ta .Có tiếng cười tiếng nói ,những tiếng ngân nga thơ ca thi phú của các anh các chị cùng với nỗi nhớ thương héo rầu tâm dạ hàng đêm của biết bao người mẹ.
( Viết đến đoạn này tôi không cầm được nước mắt –xin phép bạn đọc cho tôi viết thêm -Sư 325 của tôi con đẻ của mảnh đất Quảng Trị này e 18 ,e101 e 95 e pháo 84 ,đã biết bao nhiêu những người con đã nằm lại mãi mãi . và ngay cạnh dòng sôngThach Hãn bờ bắc thuộc phường AN ĐÔN gần chùa AN ĐÔN thành phố ĐÔNG HÀ đã mọc lên tượng đài chiến thắng của sư đoàn 325 đại đoàn BÌNH TRỊ THIÊN hùng dũng.để tưởng nhớ đến các anh các chị.)

Đêm Thạch Hãn mênh mang và tĩnh lặng
Những linh hồn trộn lẫn ánh trăng tan
Những âm thanh réo rắt chốn tịnh đàn
Tiếng gọi mẹ xé lòng đau chới với

Đêm Thạch Hãn thuyền nhẹ chèo đi tới
Hồn ngược về tám mươi mốt ngày đêm
Những chiến công đổi tim óc ruột mềm
Mùa hè đỏ dòng sông xanh nhuốm đỏ

Khi đọc những câu thơ của cuối bài của Lê Hiếu thì tôi lại nhớ đến một người , đã có 4 câu thơ được lưu mãi mãi

Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm

Anh là người trực tiếp chiến đấu trong lòng thành Cổ thuộc trung đoàn TRIỆU HẢI anh cũng là người nghĩ ra cách tri ân đồng đội là thả hương hoa trên dòng Thạch Hãn từ những năm 1987.Và mỗi khi anh cùng đồng đội trở lại chiến trường Quảng Trị ,thì các chợ ,đặc biệt là chợ Quảng Trị có bao nhiêu hoa là anh mua hết .Lê Bá Dương .

Nay chính Lê Hiếu ,đúng chính thơ anh ,đoạn kết của bài này ,anh đã làm trong tôi thức dậy ,những ký ức hào hung cứ lần lượt hiện lên đau thương và tự hào ngẹn ngào cùng xúc động .Chính những câu thơ của Lê Hiếu đã làm cho tôi nhớ đên những câu thơ ,nhớ đên những bài thơ bài báo những bức ảnh của những người đi trước .Cám ơn Lê Hiếu đã đánh thức tiềm thức của tôi .

Bài thơ VẦN THƠ TRÊN DÒNG SÔNG THẠCH HÃN của anh thật là xúc động ,anh đã tri ân với những người đi trước bằng một tấm lòng vô bờ bến bằng sự biết ơn trân thành và trung thực qua lời thơ cây bút của anh Cả bài thơ không hề có tiếng bom đạn pháo .Mà lòng người như chúng tôi đây đang bị đạn pháo cày lên Ta không nói đến cái tài của Lê Hiếu ,mà ta nói cái thông minh trong cách viết của anh .Chỉ cần đọc thơ thôi thì mọi ký ức bỗng ầm ầm thức dậy .Mọi xung quanh ta hiện hữu đến rõ ràng .Chỉ cần nói vậy thôi ,thì đã đủ biết Lê Hiếu có cái nhìn sâu rộng ,một kiến thức về lịch sử vững vàng .một tâm hồn đầy xúc cảm .mà người đọc cảm thấy như anh đã từng là người lính thành Cổ Quảng Trị năm xưa .

Với những liệt sĩ ,với những người từng chiến đấu trên mảnh đất Quảng Trị nói riêng ,trên các chiến trường Miền Nam nói chung thì những việc làm ,nghĩa cử ,những bài văn thơ ca là chưa bao giờ đủ .Mà chỉ có cái tâm ,cái trung nghĩa trong ta mới làm nỗi đau mất mát nguôi ngoai phần nào

Mãi mãi tuổi hai mươi anh nằm đó
giữa lòng sông lòng mẹ Việt Nam ơi
Tiếng thơ rơi nấc nghẹn chẳng nên lời
Ghi nhớ mãi những con người bất khuất

Đêm Thạch Hãn đất trời như vô tận
Hồn các anh tan thành khói thành sương
Tiếng thơ ngân da diết nổi yêu thương...

…Đất Quảng Trị kiên cường thành Cổ thép. ( Lê Hiếu cho phép tôi nối thêm một dòng vào câu cuối bài thơ anh nhé )

Viết thì vô cùng ,mà với tri thức của tôi không đủ .Nay được đọc bài thơ của LÊ HIẾU đã làm tâm tôi thức dậy chính thơ anh đã làm cho bạn đọc hiểu về Quảng Trị 81 ngày đêm đỏ lửa .
Cho tôi mượn những câu thơ của Nguyễn Đình Lân làm phần kết .Mong bạn đọc hiểu tấm lòng tôi cũng như hiểu bài thơ của LÊ HIẾU ,Xin được cảm ơn mọi người .
Thành cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật
Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật
Cho hôm nay, tôi đến nghẹn ngào
Bạn nằm lại nơi này, nơi nao?
Phía đông thành, tây thành hay
dưới dòng Thạch Hãn
Tám mươi mốt ngày đêm
đất trời ken dày bom đạn
Cát trắng rang vàng, nghiêng lệch
cả dòng sông
Xin cảm ơn bạn đọc –thi hữu –cùng tác giả .đã cho tôi được giãi bày cảm xúc .
Hải Phòng 17/4/2015

Chu Long

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 04 May 2015 lúc 9:29am
Nhân ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, đọc lại một bài thơ hay
 

NÔNG DÂN (Nguyễn Sĩ Đại)

 

Có người nói nông dân không tư tưởng
Nông dân làm cản trở bánh xe lăn
Tôi đã thấy nông dân suốt một đời làm lụng
Nuôi cái ăn chung trên mảnh đất khô cằn.

Tôi đã thấy trên chiến trường ngã xuống
Những nông dân áo lính, máu tươi ròng
Chết tưới đất, sống ngày cày xới đất
Không bổng lộc nào theo đến luỹ tre xanh.

Tôi đã thấy những xiềng xích phong kiến
Cái trói tay của công hữu màu mè
Mấy chục năm kéo người xa ruộng đất
Mấy chục năm ròng cái đói vẫn ghê ghê.

Nghèo chữ quá nên trọng người hay chữ
Bóp bụng nuôi con thành ông trạng , ông nghè
Sáu mươi tuổi, mẹ còn cấy hái
Ông trạng áo dài, ông trạng sống li quê!

Dẫu năm khó, không quên ngày giỗ chạp
Nhớ người xưa, con cháu quây quần
Vâng, có thể nông dân nhiều hủ tục
Nhưng không yêu được họ hàng, yêu chi nổi nhân dân!

Tôi đã thấy tằng Bờm và mẹ Đốp
Còn sống chung với Bá Kiến, Chí Phèo
Con gà mất, chửi ba ngày quyết liệt
Con gái gả chồng, cả xóm có trầu vui.

Tôi đã thấy đổ mồ hôi, sôi nước mắt
Từ hạt lúa gieo mầm đến cấy hái phơi phong
Dăm bảy tạ vài trăm nghìn một vụ
Bữa tiệc xoàng của mấy "sếp" là xong!

Có miếng ngon, nông dân dành đãi khách
Thờ Phật, thờ Tiên, thờ cả rắn, cả rồng
Cả tin quá, tin cả dì ghẻ ác
Sống chết mấy lần, nợ quyết trả bằng xong!

Nông dân sống lặng thầm như đất
Có thể hoang vu, có thể mùa màng
Xin chớ mất, chớ niềm tin sai lạc
Chín phần mười đất nước - nông dân!

LỜI BÌNH (Phạm Văn Chữ)

Chấp nhận sự sàng lọc nghiệt ngã của quy luật thời gian, bài thơ "Nông dân" của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại (NSĐ) đã qua 20 năm vẫn sống trong lòng bạn đọc vì tiếng nói mới mẻ, giàu ý nghĩa của nó.

Là thơ trữ tình chính luận nhưng không phải cảm hứng lãng mạn của thời trước đó, chỉ có màu hồng với điệu "véo von ca" về cuộc sống mới ấm no, tươi vui, hạnh phúc. Bằng tư duy thơ, bằng cảm xúc thẩm mĩ, bằng "đôi mắt" của thời kì đổi mới, nhà thơ đã nhìn thẳng vào sự thật để nói lên sự thật. Cho nên, người đọc dễ đồng cảm về những điều "Tôi đã thấy..." trong năm lần điệp ngữ. Nguyễn Du chẳng đã từ "những điều trông thấy" mà cất lên khúc "Đoạn trường tân thanh" bất hủ đó sao?

Sinh ra và lớn lên từ làng quê, rồi "Trải mình theo đời lính, đời văn" (NSĐ), tác giả có điều kiện làm cho ta hiểu đúng, hiểu sâu về nông dân. Trong anh có tiếng nói đầy bản lĩnh của vị trạng sư và người nghệ sĩ nên lời thơ vừa chất chứa xúc cảm vừa mang tính "phản biện". Bởi vì, có những người đã chẳng biết tri ân, lại còn nói: "nông dân không tư tưởng" và "làm cản trở bánh xe lăn"! Minh chứng về công lao to lớn của nông dân thật hiển nhiên. Chính họ đã mùa tiếp mùa làm lụng để "Nuôi cái ăn chung trên mảnh đất khô cằn". Khi giặc thù đến xâm lăng, lại chính là các thế hệ nông dân nối đời đã ra trận chiến đấu và sẵn sàng hi sinh xương máu:

Tôi đã thấy trên chiến trường ngã xuống
Những nông dân áo lính, máu tươi ròng.

Câu thơ tả thực tạo hình điện ảnh đã gây ấn tượng sâu sắc với nhiều nỗi niềm trong ta. Khi "Nước nhà tắt lửa chiến tranh" (NSĐ), thì "Không bổng lộc nào theo đến luỹ tre xanh". Nhưng yên hàn rồi, lẽ ra đời phải khác. Thế mà "những xiềng xích" và cái nghèo, "cái đói vẫn ghê ghê" cứ đeo đẳng họ mãi tới "mấy chuc năm ròng" trong "cái trói tay", cái trì trệ vì ảo tưởng "của công hữu màu mè". Nông dân cứ thiệt thòi và cứ khổ, chẳng bao giờ Trời ở cho cân:

Dăm bảy tạ vài trăm nghìn một vụ
Bữa ăn xoàng của mấy "sếp" là xong!

Đó là sự thật dau long, chứ đâu phải ngoa ngữ để hài hước cho vui! Nông dân đâu chỉ biết cấy cày và đánh giặc. Bài thơ nói nhiều đến cách sống, lối sống của nông dân để ghi nhận và làm bật nổi về công lao tạo lập, dựng xây nền văn hoá tự bao đời của họ. Đó chính là văn hoá làng quê. Mà văn hoá làng của nông dân là cội nguồn cho linh hồn và sự sống của dân tộc. Nhìn khách quan, dễ thấy "có thể nông dân nhiều hủ tục". Nhưng cần phải khẳng định, trong văn hoá sống của họ có nhiều phẩm chất tốt đẹp: họ quyết tử vì nghĩa lớn, họ trọng người hay chữ, trọng hiếu nghĩa ân tình; sống hiền hoà, độ lượng bao dung, họ cần kiệm mà giàu lòng thơm thảo. Đó là truyền thống, là tâm thức, là cốt cách văn hoá, là tinh thần nhân văn cao đẹp mà những nơi phồn hoa dễ gì có được. Ơ đây, những câu thơ thật độc đáo và tự nhiên, không có dấu ấn nỗ lực tìm cách thể hiện mới lạ của thi pháp thơ hiện đại mà vẫn tạo ấn tượng sâu đậm, khiến người ta thuộc nằm lòng.

Hiểu đúng để xử sự cho phải. Chiêu tuyết cho nông dân, khẳng định công trạng và vị thế của họ, đâu phải để kiến nghị trao tặng Huân chương. Điều cần có là tạo công bằng xã hội và làm sao cho họ ngày một đỡ khổ, đỡ cực hơn. Thông điệp nghệ thuật dồn kết vào khổ thơ cuối với những hình ảnh đầy sáng tạo. Đất "lặng thầm" đấy nhưng đất là mênh mông, "Có thể hoang vu, có thể mùa vàng". Sức mạnh hai đối cực của cái tỉ lệ" chín phần mười đất nước" là ghê gớm thay!

Làng quê giờ đây nhieu noi đã hồng tươi sắc thắm. Nhưng không ít nông dân còn nghèo và khổ. Đây vẫn là lời cảnh bao, lời khuyến nghị đối với các "nhà khoa bảng" hiện đại có trọng trách, vốn là con em nông dân, là công bộc của nhân dân. Nhắc chuyện xưa để cùng suy ngẫm: cách nay sáu trăm năm, sau khi đánh tan quân Minh, nước nhà vừa độc lập, Nguyễn Trãi thiên tài đã biết tâu lên, mong nhà vua và triều đình hãy biết "chăn dân", làm sao con dân trăm họ được sống yên vui, để "tận thôn cùng xóm vắng sao cho không có tiếng kêu than, hờn giận, oán sầu".

(Từ "Trước bài thơ hay" - Phạm Văn Chữ, NXB Hội Nhà văn 2011)

 

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 04 May 2015 lúc 9:39am

Bình Giảng Bài Thơ Tống Biệt Hành

Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi. Ngày 18.8.1950, nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng. Năm ấy, ông mới ba mươi tuổi. Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh, viết văn, làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm.

Đã thế,Thâm Tâm làm thơ ít, số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục. Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi. Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, màu hoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ, loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.

Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm , cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến, bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.

Bài thơ được sáng tác vào năm 1940, không biết đích xác là ngày nào. Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam, với lời bình của Hoài Thanh:

Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm ,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.

Tên bài thơ:

Tên bài thơ không có gì là khó hiểu, rõ ràng đằng khác: tiễn đưa nhau khi li biệt. Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành. Hành vừa có nghĩa là đi, dời đi, lại có nghĩa là khúc hát, bài ca. Bởi vậy, khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường, người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành (Thôi Hiệu), Lũng Tây hành (Trần Đào)… mặc dù Trường Can, Lũng Tây đều là địa danh. Xa hơn nữa , người ta thấy , hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ , Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ , tức những bài thơ có thể phổ nhạc , nhưng chỉ để dùng trong cung cấm. Do đó, Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ , song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ . Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau. Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết . Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài : tình yêu nam nữ , về chiến tranh , loạn lạc , chia li… Thời Đương , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn (Tì bà hành – Bạch Cư Dị, Trương Can hành – Lí Bạch), hoặc ngũ ngôn (Trường Can hành –Thôi Hiệu), nhưng cũng có trường hợp dài , ngắn tuỳ ý (Binh xa hành – Đỗ Phủ).

Sau đời Đường, trong văn học các nước phương Đông, thơ hành không thiếu. Ở Việt Nam , có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du. Tuy nhiên ,nhìn chung , số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác. Bẵng đi thời gian khá dài , ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bài hành của các nhà thơ Thâm Tâm (Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành). Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu. Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn ,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.

Sau năm 1954, ở miền Nam ,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc, Duynh Trầm Ca… Thơ của họ, tuy nội dung có khác, nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc, khinh đời:

- Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)

Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa hề ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)

Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước ,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng ,như muốn nói cho bằng hết ý mình ,mà đó thường là những điều khó nói,khó được chấp nhận .Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:

Quên mình, thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)

Hay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng, kiêu bạc:

Rãy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay

Rõ ràng, thơ hành của Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông, những nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Chuyện Tống Biệt

Tống biệt là chuyện muôn thuở , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm ,chuyện tống biệt chừng như khác . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục ,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ) ,hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ) .Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thế Lữ:

Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.

Những chỉ gần mà không giống. Cách nhau độ năm, mười năm mà đã thế, làm sao bảo li khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?

Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu .Vì lí do gì ư? Nhiều lắm ! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:

Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.

( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )

Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích:

Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.

Những năm 40 của thế kỷ trước , đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy mãi trong lòng họ:

Ôi ! Ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta ?
……………………………………
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Thiên thu? ngờ sự nghiệp!
Chiều mưa rồi đêm mưa;
Gió lùa gian gác xép,
Đời tàn trong ngõ hẹp.

( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )

Với các nhà thơ trường phái thơ hành, nỗi đời còn bức bách hơn. Trần Huyền Trân gào thét:

Thế rồi thí bỏ rủi may
Đưa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…

(Độc hành ca )

Đi không đòng nghĩa với sung sướng. Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại: Kinh thành mây đỏ như son, Cái l**g chật chội giam con chim trời (Trần Huyền Trân-Vô đề). Người đi có phần bất chấp:

Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.

(Nguyễn Bính –Hành phương Nam )

Sau này, khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình (cũng là một cuộc ra đi từ trước năm 1945), Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi ,có thể đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác , vì một bi kịch riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về bài thơ Đất Nước ,Văn nghệ ,số 53/1994).

Trường hợp Thâm Tâm ,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành . Ở Tráng ca (1994), có Bọn ta một lớp lìa nhà. Ở Can trường hành (1944), có chàng là bậc trẻ không biết sợ… Vợ con thí tất cho thiên hạ… Ta lênh đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó, vào năm 1940, người ra đi với bao quyết tâm:

Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn li không có đường về
……………………………………………
Ngày mai ngược gió tôi đi ngược
Ai có quan tâm gọi trở về
Trời hỡi ,ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất li bôi…
( Ngược gió )

Đến năm 1944, chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người đi lại rất cụ thể:

Tiệc này đêm cuối mai chia li
Anh cố lưu tôi có ích gì
………………………………….
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
……………………………………………
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Sẽ thấy se lòng trận gió tê
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi tôi phải đi .

Cách đây không lâu, nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách ở bài thơ Tống biệt hành. Rất tiếc, các tư liệu ấy, có độ tin cậy cao (một người bạn thân của Thâm Tâm, một người là nhà văn cùng thời), nhưng lại trái ngược nhau. Tôi đồ rằng, sẽ còn những phát hiện như thế nữa. Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận bài thơ thêm khó khăn. Giả dụ rằng, không có cuộc chia tay với những con người cụ thể kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành, bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là chính nhà thơ Thâm Tâm!

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Chuyện ra đi là thế ,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm .

Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp, như một thông báo, không nhiều lời:

Đưa người, ta không đưa qua sông.

Song, đây lại là câu mở đầu,khiến người ta liên tưởng rất xa. Đây là chuyện Kinh Kha ,người nước Tề , thời chiến quốc . Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng. Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên , thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch) ,tỏ rõ quyết tâm của mình:

Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.

(Gió vi vu ,sông Dịch lạnh ,
Tráng sĩ một đi không trở về).

Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành .Chàng bị đam chết giữa cung điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương. Đời Đường, Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:

Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.

(Người xưa đã khuất rồi.
Nước sông còn lạnh buốt).

Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha ,song lưu ý mọi người đây không phải là chuyện xưa : Đưa người ,ta không đưa qua sông .Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu ,nhưng buồn hiu hắt ,chất đầy tâm trạng :

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng :không có bờ sông dậy sóng nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà dương !Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường ,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng ,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây , tâm trạng nổi bật hẳn lên ,nỗi buồn ,sự tê tái mang vóc dáng ,hình thù hẳn hoi.

Người ta hay bàn cãi ,nỗi buồn của ai đây ?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi buồn của người đưa tiễn .Người ấy đang nói , đang kể chuyện rành rành ra đó .Bởi vậy ,mới có những câu thơ tiếp theo :

Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy,
Một gã gia đình, một dửng dưng…

Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn ,liền sau đó lại khẳng định: không ,người ấy rất dửng dưng ?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi ,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể cưỡng lại đuợc:

- Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm ,mẹ già cũng đừng mong.

Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi .Song , chắc đấy không là lí do đơn giản ,bình thường.Việc gì người ta phải đánh đuổi, kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ thiêng liêng để ra đi , nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể ,nhưng chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi ,từng lời ,từng lời ,một,thật rắn rỏi , việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi :

Ta biết người buồn chiều hôm trước :
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị ,hai chị , cùng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu ,tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ , đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs .Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và “một chị ,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy ,nhưng vẫn lẻ loi , đơn chiếc .Người ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh và tình cảm sâu nặng như thế ,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:

Đời người say tỉnh được bao dịp
Xin cạn chén rượu để tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri
Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió
Lòng không cùng sống với cầm thi…

Người ấy vẫn cứ đi .Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được
Vì thế ,người trong cuộc ,dù biết rất rõ ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ ngác:

Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!
Mẹ già coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 04 May 2015 lúc 9:43am

“Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu” – Xuất xứ bài thơ “Mai em về nhà chồng” của Trần Hòa Bình

 

(Kỷ niệm 3 năm ngày mất của nhà thơ – nhà báo Trần Hòa Bình)

Thị trấn Xuân Hòa – Vĩnh Phúc hai mươi năm trước…

Tối mịt, sau khi ăn uống quấy quá cho xong tại quán cơm bình dân, tôi và Trần Hòa Bình đang định quay lên căn phòng tập thể của Bình ở Đại học Sư phạm Hà Nội II, thì Bình bảo: “Tôi với ông đi dạo quanh thị trấn đi?”

Hồi ấy, chỉ cần ra khỏi khu vực của trường ĐHSP là khung cảnh vắng ngắt, ao chuôm đầm lầy ngổn ngang. Chúng tôi lang thang trong đêm vắng, chỉ có tiếng côn trùng, ếch nhái hân hoan chào đón những bước chân lãng du…

Thỉnh thoảng, tôi lại phóng xe lên Xuân Hòa với Trần Hòa Bình, những hôm anh có giờ dạy ở trường. Quang cảnh tịch mịch của thị trấn nghèo không xa lạ với chúng tôi, nhưng lần nào chúng tôi cũng đều tìm thấy thêm một điều gì đó thi vị, thân thương đối với hai kẻ cô đơn, hạnh phúc gia đình trắc trở… Đi mãi lên gần phía hồ Đại Lải, một cơn mưa giông bất chợt ào xuống, chúng tôi chạy vội trú chân trong một quán lá sơ sài ven đường. Chúng tôi rét run, im lặng nhìn mưa đêm, mỗi đứa âm thầm theo đuổi những nỗi niềm run rẩy mơ hồ của cõi đời phù du…

Hơn tiếng sau, mưa ngớt, chúng tôi lóp ngóp trở về phòng tập thể của Bình… Quá nửa đêm, khi tôi đang gật gà ngủ ngồi bên một cuốn sách, thì Trần Hòa Bình lay tôi dậy. Anh đã đặt sẵn chai rượu trắng nút lá trên sàn đá hoa. Anh rót rượu và bảo: “Ngủ làm gì ông, phí của giời!” Anh với tay lên bàn cầm một tờ giấy có những dòng viết vội. “Làm tí rượu nhạt cho tỉnh, rồi tôi đọc ông nghe. Tôi vừa viết xong đây…”

Bình đã đọc cho tôi nghe bài thơ “Mai em về nhà chồng”, bằng cái giọng sang sảng của một giảng viên văn khoa và đượm nghẹn ngào của của một thi sĩ đa cảm mà sự mộng mị đắm đuối đầy những linh cảm bất trắc đã được khung cảnh vắng lặng nhoè mưa của thị trấn buồn phụ hoạ thêm:

Mai em về nhà chồng

    Tặng Nguyễn Anh Tuấn

Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi

Cớ sao cơn mưa xứ đồi lại đến cùng anh

Đêm thương buồn giữa hạ?

 

Chỉ còn đêm mưa này

Ngày mai em về nhà chồng

Mưa giăng trắng cánh đồng

Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả

Anh nhìn em qua mưa hun hút đường dài…

 

Mọi sự đều không đúng lúc

Đã quá muộn để nói lời yêu đương

Lại quá sớm khi nói lời giã biệt!

Mai em về nhà chồng

Hết rồi những cơn mưa ướt mái đầu con gái

Một đêm nào chúng ta chia tay

Bong bóng nước dưới chân dập dờn nghìn hoa trắng…

Mai em về nhà chồng

Mưa theo em ròng ròng thương nhớ

Mai em về nhà chồng

Nước mắt gửi vào mưa âm thầm khung cửa…

 

Anh thức qua đêm nhìn mưa

Anh thức qua năm tháng nhìn em

Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu

Bong bóng nước trôi xuôi vỡ nghìn hoa cánh trắng

Đâu rồi dấu chân em

In mòn thời thiếu nữ?

 

Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi

 Chỉ mình anh nhận thấy?

Sớm mai ra là góc bể chân trời

Chúng mình xa nhau mãi mãi

Đưa tiễn một thời con gái

Mưa bây giờ lùa ướt tóc anh…

Tôi định hỏi ngay: “Vì sao ông lại đề tặng tôi, chẳng phải là ông viết cho Em nào sẽ về nhà chồng?” Nhưng tôi đã không hỏi, và không bao giờ hỏi nữa. Bởi ngay sau đó, tôi chợt đặt mình trong tâm trạng của Bình; nếu tôi có làm được một bài thơ nào trong đêm ấy, dù là có nghĩ về ai hay làm cho một đối tượng nào đó, tôi cũng sẽ chỉ đề tặng THB mà thôi. Độc thoại trong đêm mưa và đối thoại trong im lặng đã là nguyên cớ để bài thơ ra đời. Cô em nào đấy ngày mai, hoặc ngày kia đi lấy chồng, đâu có quan trọng! Điều chính yếu là từ rất lâu rồi, THB đã để tuột cơ hội tìm một tình yêu và hạnh phúc đích thực… Nỗi cô đơn và cảm giác bất lực xót xa trước những gì tốt đẹp ta hằng khao khát cứ rời xa ta từng ngày từng giờ đã là một nguồn cảm hứng thơ ca của nhiều thời đại, và thật không may (hay là may mắn?) THB đã bị chúng bất chợt “tóm” mất hồn vía trong một đêm mưa thật buồn!

Anh thức qua đêm nhìn mưa

Anh thức qua năm tháng nhìn em

Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu

Cái cách mà tác giả “thức” qua đêm nhìn mưa để rồi liên tưởng tới những năm tháng dài, tới cả cuộc đời “thức” để nhìn em, để nhìn tình yêu quả là đậm “chất THB”: thông minh, biến hóa một cách tài hoa, nhưng nhờ cảm xúc mạnh mà ấn tượng về “tiểu xảo” đã bị xóa nhòa trong thụ cảm người đọc. Thức qua cả cuộc đời để nhìn tình yêu, tìm tình yêu, sao có cái gì đó thật xa vời, vô vọng, song vẫn cứ phải làm thế, như một thứ định mệnh; có điều nỗi buồn rưng rưng bởi Tình yêu chưa thành, chưa tìm thấy, ở đây vô tình hòa nhập với khát vọng về sự hoàn thiện nên nó mang một giá trị về Thẩm mỹ và Nhân cách.

Cả cái triết lý này nữa:

Mọi sự đều không đúng lúc

đã quá muộn để nói lời yêu đương

lại quá sớm khi nói lời giã biệt…

Sự thông minh đã không biến chúng thành triết lý vặt, “khổ lắm biết rồi”, bởi có những vần thơ phập phồng nhớ thương tiếc nuối làm nền trải khắp bài để chúng trở thành phát hiện bất ngờ mới mẻ về nhân tình thế thái – điều mà chúng ta vẫn gặp phải song ít khi ngẫm về chúng như một chiêm nghiệm thấm thía – không phải chỉ riêng trong Tình yêu, mà còn cho mọi lĩnh vực của quan hệ xã hội mà ở đây Tình yêu chỉ là một cái cớ trực tiếp, cụ thể, như giọt nước làm đầy tràn cốc nước…

Ông thầy dạy văn bậc đại học giàu hồn thơ THB thời đó dường như vẫn chưa cắt được hết cái “đuôi” của một anh giáo làng quê mà hồi xưa từng được hình tượng hóa trong “thầy đồ Cóc” dân gian- bởi lẽ thi hứng và thi liệu trong bài thơ khá “siêu thực” này lại mang đậm âm hưởng ca dao Bắc Bộ ngàn đời:

Bong bóng nước dưới chân dập dờn nghìn hoa trắng…

Mai em về nhà chồng

Mưa theo em ròng ròng thương nhớ

Mai em về nhà chồng

Nước mắt gửi vào mưa âm thầm khung cửa…

Xứ đồi đêm ấy đã gợi cho THB  bao suy tưởng về Xứ Đoài nghèo khó thân thương của anh- nơi anh từng chứng kiến những cơn mưa ướt mái đầu con gái và có dấu chân em/ In mòn thời thiếu nữ… Trĩu buồn bởi ký ức, nhưng anh đã bình thản để Đưa tiễn một thời con gái  và chia tay với một “thời xa vắng” của mình:

Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi

 Chỉ mình anh nhận thấy?

Sớm mai ra là góc bể chân trời

Chúng mình xa nhau mãi mãi

Đưa tiễn một thời con gái

Mưa bây giờ lùa ướt tóc anh…

Có lẽ đây là một trong những bài thơ tập trung nhiều nhất tâm lực, cảm nghĩ, nước mắt, và… cả kỹ thuật thơ của THB! Đêm mưa Xuân Hòa ấy thức dậy trong anh bao đêm mưa và chiều mưa của một tuổi trẻ từ “xứ đồi” ra thành phố, nghèo túng, long đong, phải chật vật tìm hướng đi cho khát vọng đời mình, tìm cách giải tỏa bao cơn “tức nghẹn” của sự nghiệp văn chương, khi Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả và hạnh phúc tưởng đã nắm gọn trong tay mà hóa ra mịt mù sương khói… Giả sử anh có một cô người yêu nào sắp lấy chồng ngày đó thì chắc cũng không da diết, buồn thương khắc khoải đến thế! Mà thực ra, không ít cô gái- trong đó có học trò thầm đeo đuổi anh chàng tài hoa đeo kính cận dày cộp có khả năng làm tan hoang rơi rụng trái tim người bởi giọng nói tự tin thủ thỉ, và có thể cũng được anh đền đáp ít nhiều về tình cảm, rồi họ chẳng liên tiếp báo tin là sẽ đi lấy chồng đấy thôi! Nói cho công bằng, “cô em mai đi lấy chồng” trong bài thơ là hình bóng của tất cả những cô gái yêu anh, được anh trân trọng tình yêu đó- nhưng lại không có điều kiện để đến được với nhau… THB ít có khả năng dung hòa được giữa thực tế trần trụi và ước vọng cao vời, anh tìm an ủi trong học trò, bè bạn; không có bất kỳ khả năng “đập phá” nào, anh tìm sự giải tỏa trong thơ, nhạc, tranh vẽ… Và anh đã chọn một đêm mưa Xuân Hòa, đúng hơn là đêm mưa đó đã chọn anh- khi đồng cảm cùng thằng bạn cũng “ngơ ngẩn” về đời sống còn hơn mình, để lưu lại trong vườn Thơ một đóa hoa không màu mà chứa đủ các màu sắc như giọt mưa giữa bầu trời của tâm hồn thi sĩ…

Kỷ niệm ngày mất của nhà thơ, nhà báo Trần Hòa Bình
16/8/2008 – 16/8/ 2011
Nguyễn Anh Tuấn (Đạo diễn)

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 04 May 2015 lúc 9:50am

Mưa xuân - Bài thơ viết về mùa xuân và tình yêu hay nhất của Nguyễn Bính

 
NGUYỄN TƯỜNG THỤY
 
 
Thơ Nguyễn Bính hay hơn ở những sáng tác trước năm 1945, tức là khi ông chưa sáng tác theo phương pháp hiện thực XHCN, chưa có tính đảng. Đây cũng là nét chung của các nhà thơ trong phong trào thơ mới như Xuân Diệu, Tế Hanh, Huy Cận, Chế Lan Viên…
 
Trong giai đoạn này thì thời kỳ 1936-1940 là thời kỳ rực rỡ nhất của thơ Nguyễn Bính, trong đó thành công hơn cả là mảng mùa xuân - làng quê - tình yêu. Sau đó thì đuối dần.
 
Khi chọn 100 bài thơ hay nhất thế kỷ 20, chia đều cho100 tác giả, mỗi tác giả 1 bài thì với Nguyễn Bính, người ta chọn bài "Những bóng người trên sân ga". Không ai phủ nhận đấy là một bài thơ hay nhưng nếu được quyền, tôi sẽ chọn bài "Mưa xuân". Khi giới thiệu 8 bài thơ của Nguyễn Bính vào “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh không lấy bài này cũng như “Những bóng người trên sân ga” 
 
MƯA XUÂN
 
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
 
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay".
 
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
 
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
 
Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe.
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Đoài cách có một thôi đê.
 
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
 
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng.*
 
Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.
 
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: "Mùa xuân đã cạn ngày".
 
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay?
 
(* Có bản chép "Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”, hoặc “lỡ làng”)
 
Đã có nhiều bài bình về bài thơ này, mỗi người cảm thụ một vẻ, nhưng cũng có những phần giao thoa.
 
Mùa xuân trong bài thơ có mưa bụi, có hoa xoan, có hội chèo. Ba nét ấy là những nét chấm phá nói về mùa xuân ở làng quê. Bức tranh làng quê sống động hẳn qua ngòi bút của ông. Cách dùng chữ của ông thật tài tình. Mùa xuân đẹp đến hạt mưa cũng bay phơi phới, như nỗi lòng con gái dậy thì, đầy nhựa sống và xúc cảm. Tác giả đã thổi hồn vào hạt mưa thật đẹp. Chữ phơi phới nhiều người dùng, nhưng dùng làm tính từ kèm theo mưa xuân thì chỉ Nguyễn Bính. 
 
Qua hình ảnh “hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy, ta biết bối cảnh trong bài thơ là vào tháng Ba. Lúc này, ở làng quê đang tiếp tục mùa lễ hội. Trong các lễ hội thường có diễn chèo, diễn tuồng, gọi chung là đi xem hát, chứ không nói là xem chèo hay xem tuồng (hát bội). Hát ở đây không phải là chương trình ca nhạc như bây giờ. Đó là các gánh hát tư nhân thường diễn các tích chèo, tuồng cổ. Các đôi trai gái đang yêu vụng nhớ thầm thường mượn những nơi hội hè, phiên chợ để tìm cơ hội gặp nhau. Nhưng cũng chỉ là lúc mới thương thương nhớ nhớ mơ hồ thôi, chứ khi họ đã thuộc về nhau rồi thì chẳng dại gì đem nhau ra những nơi ấy. Họ có bờ ao, gốc cây riêng của họ.
 
Cô gái trong bài thơ cũng thế. Lý do là đi xem hát nhưng là để mong gặp chàng trai đấy thôi chứ thiết gì xem. Đi chơi cần tiết trời đẹp. Nhưng vì trời đang mưa nên cô phải thử: 
 
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh.
 
Và cô nghĩ mưa nhưng nhẹ để cho rằng "Thế nào anh ấy chả sang xem". Cũng qua câu này, ta biết đây không phải là cuộc hẹn mà cô gái phỏng đoán, là hy vọng đấy thôi. Nhưng cũng đáng trách chàng trai là trước đó có hứa, có hẹn gì đấy nhưng không cụ thể, theo kiểu sẽ thế này, sẽ thế nọ.
 
Cô gái ở đây là con nhà bình dân làn nghề canh cửi, có khuôn phép. Cô đang độ xuân thì, còn trong trắng, ví như "cây lụa trắng" mà quyền bán là của người mẹ. Ấy thế nhưng không thể đóng khao khát yêu đương của cô vào một cái khuôn nào đó:
 
Lòng thấy giăng tơ một mối tình 
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh 
Hình như hai má em bừng đỏ 
Có lẽ là em nghĩ đến anh. 
 
Hai chữ "hình như" và "có lẽ" đặt vào tâm trạng cô gái lúc này là rất chính xác. Cắt nghĩa ra thì nó không mang tính khẳng định nhưng ai cũng biết má cô bừng đỏ thật, cô đang nghĩ đến người yêu thật, chứ không phải “hình như” hay “có lẽ”. Cô vừa muốn thừa nhận lại vừa sợ người khác biết, thậm chí muốn dối lòng mình nên chỉ lấp lửng như vậy thôi. Nó còn nói lên tâm trạng phân tâm, nên đi hay không đi.
 
Cuối cùng thì cô đã bị tình cảm lấn át:
 
Em xin phép mẹ vội vàng đi.
 
Tác giả tả cảnh, tả tình thật tuyệt vời. Người và cảnh hòa quyện đến độ con đê, hạt mưa, hoa xoan cũng biết vui, biết buồn.
 
Sau khi "chờ mãi anh sang anh chẳng sang", cô gái "lầm lụi trên đường về". Có một sự trách nhẹ ở đây: 
 
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng.
 
Ai đã từng một lần mong gặp người yêu mà không được sẽ thấu hiểu hơn tâm trạng cô gái lúc này. Nguyễn Bính diễn tả tâm lý cô gái khi đi và khi về rất tinh tế. Ông sử dụng thủ pháp tương phản rất hiệu quả. Đây là điều cơ bản tạo nên sự thành công của bài thơ.
 
Hãy đọc lại những cặp câu tương phản sau:
 
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Mưa bụi nên em không ướt áo/ Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Thôn đoài cách có một thôi đê/ Có ngắn gì đâu một dải đê
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay/ Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày
 
Tình cảm của cô gái đã rõ, còn chàng trai đối với cô gái như thế nào? Chàng được nhắc đến hai lần:
 
... hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
 
Và:
 
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang.
 
Có thể nói anh chàng này rất khả nghi, còn tình cảm cô gái rất mãnh liệt. Mặc dù việc không gặp được người yêu làm cho "cả mùa xuân cũng bẽ bàng" nhưng cô gái vẫn tha thiết, mòn mỏi, hy vọng. 
 
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày 
Bao giờ em mới gặp anh đây? 
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ 
Để mẹ em rằng hát tối nay?
 
Và với cả sự trách nhẹ của cô đã nhắc trên đây nữa, ta thấy ở cô một tấm lòng bao dung, trong sáng và cao đẹp.
 
Khi yêu, thường là người con trai chủ động hơn người con gái. Nói như thế, không phải là tình yêu của con trai mãnh liệt hơn. Cô gái ở đây chỉ có một hành động duy nhất là sang hội chèo xem có gặp người ta không, rồi về, thế thôi. Nếu như chàng trai cũng sang xem hát, chắc là cô sẽ không hỏi trước, không tỏ ra vồn vã. Đó là sự kín đáo của con gái, nhất là con gái nhà quê. Nhưng ai bảo là cô không khao khát yêu đương.
 
Kể ra, bài thơ có thể thay nhân vật cô gái bằng chàng trai. Như vậy có vẻ hợp với lẽ thường hơn. Nhưng nếu thế, có lẽ bài thơ kém hay đi nhiều. Chợt nhớ Huy Thục, ít nhất đã có 2 lần đổi ngôi anh thành ngôi em khi phổ nhạc. Đó là bài "Đợi" của Vũ Quần Phương, "Trăng khuyết" của Phi Tuyết Ba, và cái sự có vẻ trái khoáy ấy làm cho bài hát thành công hơn hẳn:
 
Anh ngỏ lời yêu em => Em ngỏ lời yêu anh
Anh đứng trên cầu đợi em => Em đứng trên cầu đợi anh.
 
Trở lại bài "Mưa xuân". Bài thơ được bố cục rất chặt chẽ. Ta không thể thay đổi vị trí các câu, các khổ thơ cho nhau, cũng không thể bỏ đi hay thêm vào một khổ thơ nào. Từ ngữ được huy động đầy dụng ý, không có một chữ nào khiên cưỡng. Khó có thể thò bút chữa đi một chữ mà không làm suy giảm giá trị của bài thơ. "Những bóng người trên sân ga" cũng được bố cục rất chặt chẽ nhưng ở "Mưa xuân", ý và chữ nghĩa hay hơn, đẹp hơn. Có thể nói, "Mưa xuân" là một bài thơ toàn bích.
 
Nguyễn Bính không cố đi tìm những từ lạ, lối diễn đạt lạ. Ông chỉ sử dụng ngôn ngữ bình dân nhưng với ngòi bút tài hoa, ông đã để lại cho đời nhiều bài thơ xuất sắc, trong đó "Mưa xuân" - một bài thơ tình tuyệt đẹp là ví dụ điển hình.
 
 
Tháng 2/2013
Tháng 2/2015
 
NTT
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 08 May 2015 lúc 10:26am
Mẹ ốm
        Thơ: Trần Đăng Khoa

Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan.
Khắp người đau buốt, nóng ran
Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào.
Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương
Cả đời đi gió đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi.
Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo.
Vì con, mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
Con mong mẹ khoẻ dần dần
Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say.
Rồi ra đọc sách, cấy cày
Mẹ là đất nước, tháng ngày của con...
Trần Đăng Khoa
Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:
“Mọi hôm mẹ thích vui chơi.
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”
Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã.
Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên
“Truyện Kiều gấp lại trên đầu...”.
Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian
nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:
“Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.
Tác giả - một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của
cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng
ran” khi bị ốm.
Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm
đượm tình người:
“Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm.
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.
Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ.
Còn nhà thơ - em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ
mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:
“Cả đời đi gió, đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.
“Cả đời đi gió đi sương” là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.
Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của
các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những
điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:
“Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.
Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả
ba vai chèo” - một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ
mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ,
Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:
“Vì con mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.
Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:
“Con mong mẹ khoẻ dần dần
Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.
Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con - một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”.
Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:
“Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.
Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất
nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con !

Trần Thị Thành (báo Bắc Giang).

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 08 May 2015 lúc 10:35am
VỀ VÙNG TRƯỚC SÓNG
Thơ: Trịnh Toại

Lại về trước sóng quê ta
Qua Cầu Khuể rợp cờ hoa hội mùa
Khói chùng quyện với chân chua
Suối trong nước khoáng, chuông chùa ngân vang…

Rung rinh phượng gọi hè sang
Tay trong tay nắm ánh vàng trong tay
Rượu nồng tình đã ngà say
Hương đồng gió nội ngất ngây quê mình.

Bến Vua sóng vỗ ân tình
Đâu đây ẩn hiện dáng hình Người xưa
Gió hòa, mưa thuận, mây đưa
Xôn xao lễ hội men vừa đủ say.

Cánh cò gấp mở trang ngày
Em nghiêng vành nón vời mây xuống đồng
Một vùng ấm nắng hừng đông
Đẹp sao cô Tấm mơ mòng đợi ai?

Miền quê gái đảm, trai tài
Sản xuất giỏi, chống càn hay đã từng
Hân hoan hội mở tưng bừng
Hồn thơ lai láng hào hùng vút cao.

T.T


Lời bình:

       “Lại về trước sóng quê ta/ Qua Cầu Khuể rợp cờ hoa hội mùa”… Câu mở đầu tác giả (TG) không nói về Tiên Lãng mà nói về vùng trước sóng. TG như hiểu thấu cội nguồn của mảnh đất này. Thật chắc tay thơ, khi nói như vậy. Tiếp theo là: “Qua Cầu Khuể rợp cờ hoa hội mùa”. Cầu Khuể, bổ nghĩa ngay cho địa danh “về vùng trước sóng”. Và còn thêm thông tin nơi đất và người của một miền quê gian lao mà anh dũng. Đặc biệt, câu thơ này đã đưa động từ lên trước, khí thơ vận hành ngay bộc lộ tình cảm hồ hởi của người viết. Đồng thời, có sức truyền cảm tức thời cho người đọc, dung nạp sự cộng hưởng. Cả bài thơ là bức ký họa toàn cảnh: Nhanh, đẹp, khá trọn vẹn; khắc họa thiên nhiên, tình cảm con người qua những vần thơ, nhịp, nhạc uyển chuyển sinh động.

              Tứ thơ TG chớp bắt từ trước đó là “Bến Vua”. Xoay quanh cái trục này, anh thoải mái thao túng tâm hồn, tình cảm, bút pháp của mình. Ngòi bút tung tẩy: “Khói chùng quyện với chân chua/ Suối trong nước khoáng, chuông chùa ngân vang”. Chỉ mười bốn chữ đã nêu hết đặc trưng sản phẩm, danh thắng của miền quê thân thương ấy. Bài thơ như một tiếng reo vui náo nức: “Rung rinh phượng gọi hè sang/ Tay trong tay nắm ánh vàng trong tay”. Không gian nóng lên cùng thời gian nắng hạ, tình người giăng níu. Thi ý tinh tế: Người cầm tay người, nối vòng tay lớn cầm chắc ánh vàng, cầm chắc tương lai huy hoàng đã, đang, sẽ đến. Nơi đây, thuở ấy Vua từng neo thuyền, đất lành chim đậu: “Bến Vua sóng vỗ ân tình/ Đâu đây ẩn hiện dáng hình Người xưa”. Bóng dáng mình rồng như đang ám ảnh cả nay và cả mai sau. Câu thơ bất ngờ làm ta khá ngạc nhiên.


     Thử hỏi, có vị vua nào lại không muốn lấy dân làm gốc? Có vị vua nào lại chẳng ân cần dặn dò dân: Hãy thương yêu nhau, hăng say lao động, sẵn sàng bảo vệ non sông gấm vóc. “Gió hòa, mưa thuận, mây đưa/ Xôn xao lễ hội men vừa đủ say/ Cánh cò gấp mở trang ngày/ Em nghiêng vành nón vời mây xuống đồng”, hai câu thơ lục bát này có thiên thời, địa lợi ,nhân hòa. Cái hay được dấu kín. Tứ thơ phục chờ sẵn trong ý thơ. Cảnh quyện vào tình, tình luồn trong cảnh. Phải chăng đây là thi pháp lục bát được vận dụng như một phương tiện biểu đạt ý tưởng. Trong niềm rung động ấy, năng lực giao cảm ấy, con người cảm nhận được sự tương giao như một ái lực gắn kết không gian, thời gian vào hạ nồng nàn: “Rung rinh phượng gọi hè sang”. Một thi ảnh đẹp về cánh cò gấp mở nhịp nhàng, sự bảo tồn sinh thái ở vùng đất này, cánh cò thoái mái tự do không sợ săn bắt; bật thêm thông tin khác là nhịp sống không ngừng nghỉ.

    Lại bất ngờ nữa đến ngạc nhiên: “Em nghiêng vành nón vời mây xuống đồng”. Con người làm chủ thiên nhiên, chơi đùa với thiên nhiên; thiên nhiên không còn là lực lượng đe dọa đáng sợ như xưa, mà còn thân thiện được. Câu thơ vừa ẩn dụ vừa tạo hình. Người đọc không chỉ cảm giác, thị giác, mà còn xúc giác về một cô gái miền quê có vẻ đẹp phồn thực, khao khát tình yêu. Giống như bức tranh dân gian phô diễn được mảng khối sinh động, hoành tráng: “Một vùng ấm nắng hừng đông/ Đẹp sao cô Tấm mơ mòng đợi ai?”. Bài thơ càng phát triển về cuối như một sự kế thừa tiếp tục truyền thống: “Miền quê gái đảm, trai tài/ Sản xuất giỏi, chống càn hay đã từng”.

   Câu kết đã chấm hết, nhưng còn mở ra một trường liên tưởng mới: “Hân hoan hội mở tưng bừng/ Hồn thơ lai láng hào hùng vút cao”. Phong cảnh nơi đây, thiên nhiên nơi đây, tình người nơi đây thổi vào tác giả hồn thơ ấy. Vì vậy bài thơ ra đời rất nhanh chóng, nhẹ nhàng, thoải mái chảy suốt trên dòng cảm xúc chủ đạo, câu trước gọi câu sau. Thưởng thức xong, dư ba bài thơ vẫn còn đồng vọng

                                                                                   Vũ Anh Vũ


IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 08 May 2015 lúc 10:39am
THẬM THÌNH
Nguyễn Bùi Vợi


Đi qua xóm núi Thậm Thình
Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm
Vua Hùng một sáng đi săn
Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này

Dân dâng một quả xôi đầy
Bánh chưng mấy cặp bánh dầy mấy đôi
Đẹp lòng vua phán bầy tôi
Tìm đất, kén thợ, định nơi xây nhà

Trăm cô gái tựa tiên sa
Múa chày đôi với chày ba rập rình
Đêm đêm tiếng thậm… tiếng thình
Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non.

Không còn dấu cũ lầu son
Phía sau thành phố khói vờn trong mây
Trời cao nắng tỏa đường cây
Nhịp chày xưa thoảng đâu đây… Thậm Thình!
Việt Trì, tháng 7-1971


Lời bình của nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú

    
     Thậm Thình là tên một địa danh thuộc ngoại thành Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Tương truyền đây là nơi vua Hùng dựng lều giã gạo. Bài thơ "Qua Thậm Thình" của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi viết theo thể lục bát: Giản dị mà không giản đơn, chân thành mà không cường điệu. Cái nhịp chày giã gạo thậm thình tạo ra tiết tấu nhịp nhàng, khoan thai mà sâu nặng tình nghĩa khi nghĩ về cội nguồn quá khứ Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm...

    Thường thì cái tứ bắt đầu câu chuyện như vậy dễ giãi bày kể lể, nếu như nhà thơ không dùng bút pháp "thi họa" có nét tung tẩy mà vẫn đằm sâu bởi tình quê, tình người, tình vua tôi mộc mạc của cái thuở xa xôi bắt đầu dựng nước ấy: Dân dâng một quả xôi đầy/ Bánh chưng mấy cặp, bánh giầy mấy đôi... Hình ảnh "quả xôi" có gì thật gần gũi nâng niu và chắt lọc tinh chất của lúa gạo để thành những "đặc sản" truyền thống của dân tộc. "Quả xôi" chứ không phải là mâm xôi, đó là sự sinh thành vun đắp của sự sống. Bánh chưng và bánh giầy có từ truyền thuyết Lang Liêu nhưng đặt trong khung cảnh này có sức lay động để: Đẹp lòng vua phán bầy tôi/ Tìm đất kén thợ định nơi xây nhà...

    Tứ thơ được phát triển bằng âm điệu của tiếng chày với bức tranh sơn cước thật đẹp của một đời sống văn hóa tự nhiên tỏa ra từ tâm linh hướng thiện: Trăm cô gái tựa tiên sa/ Múa chày đôi với chày ba rập rình... Nhịp lục bát đang trải ra bỗng ngắt nhịp tạo sự đung đưa kết nối giao hòa, thân thiện của con người với tự nhiên của cái đẹp.

     Đây là một bài ca lao động tuyệt đẹp bởi Đêm đêm tiếng thậm tiếng thình/ Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non... Câu thơ không còn đơn tuyến, đơn lẻ nữa mà nâng lên khái quát thành một đạo lý sống của người Việt. Cứ ngỡ nhà thơ dừng lại đây hình như cũng đã trọn vẹn, thì khổ thơ cuối như một hòa âm hoài niệm ngân vọng trong tâm thức trong ký ức. Đó là sự vận động cảm xúc từ ngoài hướng nội của những vòng sóng đan xen nhau thành sự thánh thiện biết ơn nguồn cội.

    Cứ mỗi dịp đến ngày 10-3 âm lịch Giỗ Tổ Hùng Vương, đọc lại bài thơ "Qua Thậm Thình", tôi cứ ngỡ mình như sống lại với những âm điệu trong ngày lễ hội. Đó là những chàng trai cô gái giã gạo làm bánh chưng, bánh giầy dâng lên tiên tổ. Ta lại càng nhớ hình ảnh vị Vua Hùng gắn bó với đồng ruộng thôn quê thật giản dị, khiêm nhường biết nhìn xa trông rộng để lại cho con cháu mai sau một di sản lớn của văn hóa Việt. Từ tiếng chày giã gạo đến những sản vật thiêng liêng bắt đầu từ hạt lúa, hạt gạo. Đó là hạt ngọc của nền văn minh lúa nước.

              
                                                                                Nguyễn Ngọc Phú
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 08 May 2015 lúc 10:42am
MUỘN ĐÒ
Thơ: Nguyễn Ngọc Hưng

Muộn rồi, đã muộn rồi sao
Buồng cau phai biếc dây trầu héo xanh
Đôi chim học hót trên cành
Ngập ngà ngập ngọng tiếng anh tiếng nàng…

Bến đò vẫn bến đò ngang
Nam xuôi biển, bắc ngược ngàn… nỡ sao?
Dòng xưa vẫn sóng dạt dào
Đêm còn nửa bóng hanh hao trăng vàng

Phải chăng em, đã muộn màng
Không còn kịp chuyến đò ngang nữa rồi
Bơi mình tôi, lội mình tôi
Biết ai chia sẻ lở bồi đục trong?
Lối về khúc thẳng khúc cong
Nhà ai trước mặt tôi vòng sau lưng
Xa nhau đã cực chẳng đừng
Lỡ mà gặp lại… người dưng… đau lòng!

Đã qua thời lúa xanh đòng
Sao còn đỏ mắt riềng dong đợi gì
Về thôi em, hãy về đi
Lửa rơm dễ bén bấc chì khó tan!

Không cùng củi lửa tro than
Đành gom hương nhớ thả làn gió bay
Đò ngang muộn chuyến cuối ngày
Biết là sông hẹp đêm nay rất dài…

Nguyễn Ngọc Hưng.


Muộn đò - Bản nhạc chậm chứa chan tình ý của Nguyễn Ngọc Hưng.



“Xa nhau gió ít lạnh nhiều
Lửa đêm tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh”
(Tương tư 1940-1942 – Trần Huyền Trân)

    Đọc “Muộn đò” của Nguyễn Ngọc Hưng, tự nhiên tôi lại nhớ câu thơ trên, cái xa vắng, cái lạnh lẽo, cái buồn man mác lan tỏa từ chữ đầu đến chữ cuối chầm chậm, chậm ngấm vào lòng tôi.
   
    Bài thơ này được viết theo thể thơ lục bát. Chọn thể thơ này, phải chăng Nguyễn Ngọc Hưng cũng có ý tạo nên một bản nhạc chậm, da diết:
Muộn rồi, đã muộn rồi sao
Buồng cau phai biếc dây trầu héo xanh
Đôi chim học hót trên cành
Ngập ngà ngập ngọng tiếng anh tiếng nàng…

     Ngay từ đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ: Muộn rồi, đã muộn rồi sao; Muộn rồi được láy lại thể hiện một tâm trạng thảng thốt, ngỡ ngàng không thể tin được. Hỏi đi, hỏi lại, rồi ngẩn ngơ trước cau phai, trầu héo, kể cả đôi chim cũng không còn líu lo,véo von mà “ngập ngà ngập ngọng”. Từ” ngập ngà ngập ngọng” Hưng dùng ở đây thật đắt. Đôi chim đã ngập ngọng, hay anh và nàng đã ngập ngọng vì chưng: Muộn rồi. Hình ảnh này còn diễn tả tâm trạng bối rối, bẽ bàng không thể thanh minh hay giãi bày cái sự “sớm”, nguyên cớ tạo ra cái sự “muộn” kia.

     Nếu như ở khổ thơ đầu là tâm trạng ngỡ ngàng, xa xót thì ở khổ thơ thứ hai như một lời trách móc:

Bến đò vẫn bến đò ngang
Nam xuôi biển, bắc ngược ngàn… nỡ sao?
Dòng xưa vẫn sóng dạt dào
Đêm còn nửa bóng hanh hao trăng vàng

     Hàng loạt hình ảnh thân thuộc, gợi cảm trong thơ ca xưa đã được tái hiện trong bức tranh quê sinh động: Bến đò, dòng xưa, trăng vàng. Để rồi những hình ảnh ấy xoáy vào tâm can ta những kỷ niệm, những hồi ức thật trong sáng, thánh thiện và quí giá. Những hình ảnh này thật quen mà cũng thật lạ: quen vì vẫn là bến đò, dòng sông, trăng vàng…lạ là vì có bến , có sông mà chẳng có đò, có trăng vàng mà chẳng có người tát nước. Bến đò vẫn còn đây, dòng xưa vẫn dạt dào, trăng vàng vẫn tỏa bóng…những chứng nhân của tình yêu vẫn soi rọi thế mà con đò đã xuôi biển hay ngược ngàn, ra bắc hay vào nam rồi. Cái cách kết hợp: Xuôi - ngược, bắc - nam, biển -ngàn của tác giả cũng thật độc đáo. Mượn hành trình để tạo cái cớ “ muộn” như một lời phân bua khéo léo. Không tả đò mà chỉ gợi hành trình “nam xuôi biển, bắc ngược ngàn”; không một câu trách móc, chỉ một từ “nỡ” thôi cũng đủ để thấy nhà thơ trân trọng hình bóng quá khứ và tiếc nuối với kỉ niệm thế nào.

     Mượn hình ảnh “dòng xưa vẫn sóng dạt dào” để gửi gắm tâm trạng của mình cũng là một cách thể hiện khôn ngoan và tinh tế- điều thường gặp trong thơ Hưng.

Phải chăng em, đã muộn màng
Không còn kịp chuyến đò ngang nữa rồi
Bơi mình tôi, lội mình tôi
Biết ai chia sẻ lở bồi đục trong?

    Khổ thơ được đóng khung bởi hai câu hỏi tu từ, có vẻ như “tôi” đã chấp nhận cái sự muộn. Phép đảo ngữ kết hợp với nghệ thuật đối: “Bơi một mình tôi, lội một mình tôi” như nhấn mạnh cái trơ trọi, cái trống vắng, không ai sẻ chia, không ai bên cạnh cuộc đời còn lắm lở bồi, đục trong. Cho đến khổ thơ thứ ba, “tôi” mới xuất hiện, xuất hiện trong tâm thế chấp nhận, không còn ngỡ ngàng, không còn trách cứ.


Lối về khúc thẳng khúc cong
Nhà ai trước mặt tôi vòng sau lưng
Xa nhau đã cực chẳng đừng
Lỡ mà gặp lại… người dưng… đau lòng!

Đã qua thời lúa xanh đòng
Sao còn đỏ mắt riềng dong đợi gì
Về thôi em, hãy về đi
Lửa rơm dễ bén bấc chì khó tan!

    Nhưng sao thế! Hình như lửa lòng phải tắt, mà nghe ra vẫn còn quyến luyến quá đỗi: Đi vòng sau nhà vì sợ lỡ gặp. Câu thơ: “Lỡ mà gặp lại… người dưng… đau lòng” được ngắt ra làm ba nghe vừa như ngại ngùng, vừa như khí khái, lại vừa như pha chút xót xa. Chỉ vì “muộn” mà thành ra lỡ dở, chỉ vì “muộn” mà thành ra người dưng, chỉ vì muộn mà thành ra đau lòng- mà thực ra cũng sợ người dưng đau lòng. Một câu thơ ẩn chứa tầng tầng ý nghĩa, hiểu nghĩa nào cũng thấy xót xa. Chưa kể những hình ảnh như: “đỏ mắt riềng dong”, “lửa rơm dễ bén bấc chì khó tan” cũng thật giàu ý nghĩa. Hoa dong riềng nở đỏ góc vườn như mắt hoe đỏ đợi chờ…Chờ ai, ai chờ, chờ điều gì đều ẩn ý cả. Câu “Lửa rơm dễ bén bấc chì khó tan” cũng chứa đựng ẩn ý dặn người, dặn lòng như thế. Giọng thơ ở hai khổ thơ này mới thật tha thiết làm sao, ngọt ngào làm sao. Vậy mà sao vẫn pha chút mằn mặn, chua chát. Nhưng, vượt lên tất thảy là sự thứ tha, là sự hy sinh, là sự kìm nén. Đó không chỉ là tình, đó còn là bản lĩnh mà không phải ai cũng có được.

Không cùng củi lửa tro than
Đành gom hương nhớ thả làn gió bay
Đò ngang muộn chuyến cuối ngày
Biết là sông hẹp đêm nay rất dài…

    Khổ thơ cuối hay quá! Không thể cùng nhau sống tới răng long đầu bạc, cùng nhau đi đến tận cùng trời cuối đất được thì “gom hương nhớ thả làn gió bay”, chút tơ duyên, tình ý gửi làn gió mang đi. Khôn ngoan quá! Lãng mạn quá! Mà cũng lém lỉnh quá! Như thế khỏi sợ người dưng đau lòng, khỏi sợ riềng dong đỏ mắt, khỏi sợ tiếng bấc tiếng chì…Vậy nhưng, biết là đã muộn đò, biết là con sông hẹp, biết là bơi một mình, lội một mình… vẫn còn trằn trọc, bâng khuâng. Tình ơi là tình! Người ơi là người! Sao thế…

    “Muộn đò” là một bài thơ hay: lỡ làng mà không bi lụy, da diết mà không níu kéo… Bài thơ như một làn điệu dân ca trong trẻo, thánh thiện, chứa chan tình ý.

Lê Thị Hương Thủy
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 12 Jun 2015 lúc 7:37am
Em gái đi lấy chồng

                     

Đưa dâu qua chiếc cầu tre

Lòng anh chạm lá chua me chạnh buồn

Nắng run trên cánh chuồn chuồn

Ngõ sâu như sợi chỉ luồn buộc quanh

Tuổi em như hoa dành dành

Hương bay đã mắc tơ mành nhện giăng

Ao người ta nước dung dăng

Vầng trăng em cất lên bằng vó thưa

Giấc mơ ủ xuống gáo dừa

Hoa cau còn rụng, vại mưa còn đầy

Đường trơn cây cỏ dang tay

Quang trành gót nhỏ đỡ gày đồng xa.

Em ơi, từ độ vắng nhà

Cá rô kho mặn ăn ba bốn ngày!

Màn lưa thưa gió heo may

Chắc là mẹ ngủ đêm nay chập chờn...



Mai Văn Phấn





Lời bình của nhà thơ Lâm Xuân Vi:



Mai Văn Phấn là nhà thơ luôn gây được ấn tượng với độc giả trên thi đàn. Những năm tám mươi của thế kỷ trước, anh đã có những bài lục bát rất độc đáo, được nhiều người hâm mộ chép sổ tay, chuyền nhau đọc. Rồi cả dũng khí dấn thân cho những tìm tòi đổi mới thi pháp những năm gần đây, anh cũng đã có những đóng góp, làm sôi động đời sống văn học.



Là người gần gũi thân tình, cùng quê hương, tôi hiểu Mai Văn Phấn từ khi còn là một quân nhân mới nhập ngũ. Trải qua bao ngành nghề, bao thăng trầm và những dịch chuyển qua năm tháng cho tới nay, nhà thơ vẫn là người nhiệt huyết tài hoa, sống “có đạo”, nhân hậu, ân tình, cá tính, bản lĩnh và sau trước. Một trong những chi tiết nhỏ khảng định cho nhận định của tôi, đó là tình thương yêu của anh dành cho người em gái, được thể hiện trong bài thơ “Em gái đi lấy chồng”.



Cặp câu mở của bài thơ, đã chứa chất tâm sự và ngổn ngang tâm trạng của người anh trai – nhà thơ Mai Văn Phấn với em gái mình. Phải là người anh thương yêu em gái lắm, và cũng phải vào thời khắc, hoàn cảnh, trạng huống đặc biệt lắm mới thốt được lên câu thơ ấy.



Em gái đến tuổi thành duyên, thành hôn thì mừng chứ sao lại buồn? Mừng là lẽ đương nhiên. Nhưng là anh trai “quyền huynh…” nguời vốn dĩ rất thương yêu em gái, đứng trước bước ngoặt của cuộc đời em, buồn lo lắm chứ. Em đi làm dâu nhà người, với bao lạ lẫm, bỡ ngỡ khó khăn, đang chờ đợi phía trước, chưa biết em mình rồi sẽ ra sao? Em vẫn “có lớn mà chưa có khôn” liệu có sớm thích nghi, có được quan tâm chỉ bảo dạy dỗ nâng đỡ ân cẩn không…? Tâm trạng anh trên con đường đưa em về nhà chồng, Đưa dâu qua chiếc cầu tre/ Lòng anh chạm lá chua me chạnh buồn. Đọc câu thơ sao cứ thấy rưng rưng, anh chạnh buồn, nỗi buồn ấy như được lây sang, nhân lên trong lòng người đọc. Phải là qua cây cầu tre lắt lẻo cheo leo mới có sức lay động thế, chứ nếu nhà thơ viết qua cây cầu hiện đại vững chãi, tôi dám chắc câu thơ sẽ non lép và bị trôi tuột. Đấy là sự khéo léo, tài hoa trong cách chọn hình tượng, trong sử dụng nghệ thuật ngôn từ, là tình thương yêu em tự đáy lòng anh. Cái lá chua me mơ hồ bay tới “chạm” được vào tâm trạng, không biết có vị gì mà ai cũng cảm được hết cái chát đắng đến day dứt. Chính cái thiêng liêng, huyền diệu của thơ lại nằm ở chỗ không rõ ràng này. Con đường dẫn em tới nhà chồng: Nắng run trên cánh chuồn chuồn/ ngõ sâu như sợi chỉ luồn buộc quanh. Sao như có gì xa xôi lạ lẫm, khúc khuỷu, mong manh lắm? Không, đó chỉ là vì quá thương em mà anh lo xa, tưởng tượng ra vậy. Chỉ có sự lo lắng quá mức, mới linh cảm thái quá viết nên câu thơ đẹp, buồn, tinh tế nhẹ nhàng, như có, như không vậy. Tình thương, nỗi lo lắng với biết bao dự cảm về tương lai cuộc đời em, cứ thế trào dâng cảm xúc, tràn lên câu chữ. Còn non nớt dại khờ, ở nhà mình em đang được chiều chuộng, nương nhẹ như hương hoa. Thế mà nhà người ta lại đang đặt vào em với biết bao kỳ vọng, bao công việc nặng nhọc phải lo toan gánh vác? Em lại cứ hồn nhiên, mơ mộng viển vông, mọi suy nghĩ hiểu biết mới chỉ quẩn quanh giấc mơ ủ xuống gáo dừa/ Hoa cau còn rụng vại mưa còn đầy hay Ao người ta nước dung dăng/ Vầng trăng em cất lên bằng vó thưa. Như thế bảo anh không lo sao được? Nhưng mọi lo lắng của anh giờ cũng chẳng thể giúp gì được em, chỉ còn biết tâm niệm ước aoĐường trơn cây cỏ dang tay/ Quang trành gót nhỏ đỡ gày đồng xa.



Em đi đã vậy, còn nỗi nhà cũng chẳng hơn chi, cảnh thiếu hụt trống vắng mới đáng sợ làm sao? Mọi nền nếp trật tự, như bị xộc xệch đảo lộn, thậm chí đến cả bữa ăn giấc ngủ, cũng chiếu lệ qua ngày, Cá rô kho mặn ăn ba bốn ngày. Những câu thơ khác ẩn dụ, tinh tế, hư ảo bao nhiêu, thì câu thơ này, lại cụ thể chi tiết mộc mạc đến dị biệt bấy nhiêu. Chính sự khác biệt ấy đã làm nên một chỉnh thể đa diện sinh động, bởi hồn vía ngôn từ. Cứ như thế mạch buồn cảm động được đẩy cao mãi cho đến khi bài thơ khép lại.



Dẫu thương yêu lo lắng cho em gái đến tột cùng, nhưng tới câu kết nhà thơ lại dành nói về mẹ. Đó là đạo lý, là tình cảm thiêng liêng hợp lô gíc. Bởi đối với mẹ, con gái mới là người được mẹ sẻ chia, bù trì gần gũi nhất.



Nỗi xót xa thương cảm mẹ, là lòng hiếu thảo thường trực trong anh, như bản năng trỗi dậy. Đó cũng là câu kết rất có hậu, đầy nhân bản, mà bạn đọc nhiều thế hệ đã và sẽ đón nhận sẻ chia, với tất cả lòng ngưỡng mộ chân thành dành cho thi sỹ./.



Thịnh Long, ngày 11 - 5 – 2010

L.X.V

(Rút từ tập sách “Làm nên giọt khát” của Lâm Xuân Vi, Nxb, Hội Nhà văn, 2010)
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 12 Jun 2015 lúc 7:40am
Tắm đầu năm



thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch

quay về tắm bằng ngọn đèn



thử đưa bờ vai về phía ánh sáng

rồi cả hai tay

bàn chân, cằm, đầu gối

cả đôi tròng mắt và tiếng ho khan



xối ánh sáng vào từng góc khuất

góc khuất như lò thúc mầm

như thép nóng đem tôi vào nước

như quả trứng trong ổ đang ấp

rễ thân cành đã chiết đâm ngang



tắm gội cho mùa xuân về

vừa lặn vào ánh sáng

vừa gọi thầm ông bà, cha mẹ

cơ thể bốc cao về phía ngọn đèn



vừa xối mạnh vừa gọi tên em

ánh sáng bồng bềnh bụng mang dạ chửa

thử gọi một ai xa lắc xa lơ

ngọn đèn lặng phắc càng tỏ

càng tỏ.



Mai Văn Phấn





Lời bình của nhà thơ Đỗ Trọng Khơi:



Tắm đầu năm, ở đây là tắm bằng ánh sáng. Và bởi lẽ “thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch”, không có hình thức “tắm” nào khác cho sạch được mới phải về nhà, thắp đèn lên để tắm bằng “ánh sáng”. Rõ là nhu cầu cần được “sạch” không chỉ cho làn da, thân thể. Ở tình huống không gian thơ này, điều căn cốt là nhu cầu “thanh tẩy” tâm hồn, ý thức, tư tưởng. Điều mong này kể cũng không có gì lạ. Điểm mới, lạ của thơ là ở cách trình bày, ở cách làm khác câu chữ trong biểu đạt ý tưởng.



Thử đưa bờ vai về phía ánh sáng/ rồi hai tay/ bàn chân, cằm, đầu gối/… những thao tác và vật thể được đưa ra tắm vẫn trong dạng thể hình dung được. Sự chờ đợi cuộc thanh tẩy chỉ thật diễn ra khi câu thơ “cả đôi chòng mắt và tiếng ho khan” xuất hiện. Vậy là vật thể “đôi chòng mắt”, khả năng nhìn, sử dụng ánh sáng và thậm chí cả âm thanh “tiếng ho khan” cũng được tắm, cũng cần được thanh tẩy. Ngôn ngữ diễn ra tới đây vẫn trong nhịp điệu, phép tắc đối đãi cho phép. Nó cho thấy một nhịp điệu sống có tiến trình, không đột ngột. Thật tự tin, bình thản trong công việc của mình. Chính vì vậy, cuộc tắm rửa, thanh tẩy tâm hồn, ý thức, tư tưởng mới diễn ra, mới đủ sức làm thứ việc này. Công cuộc nhằm tái tạo, tái sinh lại đời sống:



Xối ánh sáng vào từng góc khuất

Góc khuất như lò thúc mầm

Như thép nóng đem tôi vào nước

Như quả trứng trong ổ đang ấp

Rễ thân cành đã chiết đâm ngang…



Qủa thực là vậy. Và chỉ nhờ vậy, trong dòng ánh sáng đó mới cho thấy được hiện thực hình ảnh người vợ đang “bụng mang dạ chửa” – nghĩa là cũng trong khả năng “sinh nở”, và cho thấy “ông bà” – tổ tiên, quá khứ. Tới đây, thơ đã tạo ra một trạng thái sống đồng hiện, huyền ảo. (Cứ bảo, thơ Mai Văn Phấn là thơ hiện đại – hậu hiện đại, là Tây, không chỉ có thế. Thơ ông vẫn gần với thi pháp cổ tích, cổ điển phương Đông).



Với không gian nghệ thuật: Đồng hiện, huyền ảo, qua bài thơ Tắm đầu năm cho phép thơ Mai Văn Phấn mở đường biên biểu tượng rất rộng. Trong không gian sống này, ngõ hầu tư duy thơ ông tiếp cận tới được cả những vùng sống tối khuất nhất của quá khứ, của tương lai, của tâm thức: “thử gọi một ai xa lắc xa lơ/ ngọn đèn lặng phắc càng tỏ/ càng tỏ”…



Mới, lạ trong trình bày, biểu đạt ý tưởng mà vẫn không xa lạ với phương pháp nghệ thuật cổ điển. Đây là thành công, một đóng góp quý của nhà thơ Mai Văn Phấn cho nền thơ Việt Nam đương đại.

       

Đ.T.K
IP IP Logged
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.141 giây.