Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Tư tưởng Hồ Chí Minh
 Diễn đàn :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh :Tư tưởng Hồ Chí Minh
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Tác giả Nội dung
Hieutri
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 410
Trích dẫn Hieutri Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 5:26am
Lại một lần nữa ...mình nói về cái đề tài bất tận: " tình yêu qua ca dao Việt Nam ". Dù ở thời đại nào , hoàn cảnh nào , không gian và thời gian nào thì tình yêu cũng mang bản chất thiêng liêng , cao quý và đa dạng .Để tiện việc giải trí , thưởng thức và tham khảo ,mình xin hệ thống từng giai đoạn :tỏ tình, đi vào tình yêu , hôn nhân hạnh phúc , bất hạnh , dở dang ...Cuối cùng kết luận : chung thủy .

I.GIAI ĐOẠN TỎ TÌNH :
Nào...bạn và mình hãy cùng nhau đi về đất phương Nam ...để thưởng thức một bức tranh thiên nhiên kỳ thú. Đây là cỏ cây hoa lá còn đọng sương đêm, kìa là những luỹ tre xanh mướt mọc ở đầu làng .Trước mặt bạn cánh đồng lúa vàng óng ả , thẳng cánh cò bay...Tiếng sáo chiều đâu đây của trẻ mục đồng dắt trâu về sau một ngày làm việc...Tất cả những hình ảnh đẹp đó đã gợi nên vần thơ trao đổi ý tình .Hãy nghe chàng trai mở đầu ,hỏi người thôn nữ bằng một câu hỏi ởm ờ , gợi ý xa xôi :
Trúc xinh , trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh !

Thuyền ai lơ lững bên sông
Có lòng đợi khách hay không, hỡi thuyền .


Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
!

Thường thì người con trai hỏi dọ ý một cách nhẹ nhàng ,thơ mộng , và cũng cố ý gài người con gái vào thế phải trả lời cho mình :
Hỏi xa anh lại hỏi gần
Hỏi em phong độ đương xuân thế nào
Thấy em là gái má đào
Lòng anh chỉ muốn ra vào kết duyên .

Duyên kia ai đợi mà chờ
Tình nầy ai tưởng mà tơ tưởng tình .


Bên phía con gái , các thôn nữ không phải lúc nào cũng e lệ rụt rè mà làm thinh , mà đôi khi cũng rất bạo dạn ngõ lời đối đáp :
Hỡi anh đi đừơng cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời .
..

dù vậy, các cô cũng không kém phần hồn nhiên :
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu ,mời anh xơi trầu .


Lúc nào, các cô thôn nữ cũng tỏ ra dè dặt ,quanh co, rào trước , đón sau vì sợ yêu nhầm người có vợ hay đã có hứa hôn thì tan nát đời hoa ...
Anh đã có vợ con chưa
Mà anh ăn nói ngọt ngào có duyên
Mẹ già anh ở nơi nao ?
Để em tìm vào hầu hạ thay anh .


Trong dịp hội hè ở thôn quê ,thường thì có hai làng kề cận chia ra hai nhóm bên nam và bên nữ hò đối đáp nhau rất là ăn ý , đa phần là những câu ca dao tỏ tình gợi ra thật nhẹ nhàng , óng chuốt , nói bóng nói gió mà sao gói gọn ẩn tình thật là sâu sắc .Bên con trai hỏi :
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?

Bên con gái đáp :
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào !

Thật là những câu đối đáp hết sức nên thơ , hửu tình :
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ trước gió , biêt vào tay ai ?

Duyên kia ai đợi mà chờ
Tình nầy ai tưởng mà tơ tưởng tình
.

Giai đoạn mới quen nhau nầy sao mà rất khó với hai người , giống như Kim Trọng mà gặp Thúy Kiều , tình trong như đã mặt ngoài còn e, thật là ngượng ngùng , khó ăn , khó nói :
Công trình ân ái biết bao
Gặp nhau lại thẹn ,toan chào lại thôi !


                                   Ngọc còn ẩn bóng cây tùng
                                     Thuyền quyên còn đợi anh hùng sánh vai .


II . GIAI ĐOẠN TÌNH YÊU :
Sau cái giai đoạn tỏ tình là đến giai đoạn tình yêu.Đây là thời gian thơ mộng đáng yêu , đáng nhớ nhất, và cũng đầy thử thách cam go .Nào yêu đương, nhớ nhung , đợi chờ , giận hờn , xa cách ...Ta hãy nghe chàng và nàng thủ thỉ bên nhau lời ân tình ngọt mềm :
                     Nứơc sông Tô vừa trong vừa mát
                     Em ghé thuyền đổ sát thuyền anh
                 Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
                 Sông bao nhiêu nước , thương mình bấy nhiêu .

Nàng thỏ thẻ khen chàng một cách tình tứ :
                                              Chẳng tham nhà ngói rung rinh ,
                                                     Tham vì một nỗi , anh xinh miệng cười
                                                    Miệng cười anh đáng mấy mươi
                                                   Chân đi đáng nén , miệng cười đáng trăm.

Trông ngóng người thương :
                              Ngày ngày anh đứng anh trông
                             trông non ,non ngất ,trông sông sông dài
                            Trông mây mây kéo ngang trời
                           trông trăng trăng khuất ,trông người người xa
...

Đêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng
Cá buồn, cá lội tung tăng
Em buồn, em biết đãi đằng cùng ai


Những giây phút có nhau thật vô cùng quý giá. Khi tạm xa nhau vì công việc làm ăn , hay vì hoàn cảnh nào đó , chàng trai luyến tiếc khôn nguôi :
                          Còn đêm nay nữa, mai đi              
                          Lạng vàng không tiếc, tiếc chi ngồi kề .

Còn nàng thôn nữ thì nức nở theo ngấn lệ đầy vơi ..
                              Có đêm thơ thẩn một mình
                             Ở đây thức cả năm canh rõ ràng
                           Có đêm tạc đá ghi vàng
                          Ngày nào em chả nhớ chàng , chàng ơi !

Đi đâu, làm gì nàng đều thấy nổi nhớ nhung đeo đẳng , khiến xao lãng cả công việc hàng ngày :
                 chiều chiều mang giỏ hái dâu
                 Hái dâu chẳng hái , nhớ câu ân tình .


                             Nhớ ai hết đứng lại ngồi
                            Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân .


Xa nhau , xa bóng xa hình
Nhưng không xa được tấm tình cho nhau ..


Những nhớ nhung đó đã đong đầy thêm tình yêu .Khi gặp lại nhau hai người đã vội vã ước hẹn mai sau một thiên đường hạnh phúc .Người con trai âu yếm ước mơ :
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân ...


Người con gái ngụ ý bằng lòng :
                 Ước gì sông rộng một gang
                  Bắt cầu dãi yếm để chàng sang chơi

              Ước sao ăn ở một nhà
              Ra vào đụng chạm kẽo mà nhớ thương .

Chẳng chè chẳng chén sao say ,
Chẳng thương , chẳng nhớ sao hay đi tìm.

III. GIAI ĐOẠN TÌNH NGHĨA PHU THÊ :
Tinh yêu chân chính phải đi đến một cuộc hôn nhân đứng đắn :
                 Làm sao nên nghĩa phu thê ,
                 Đó chồng , đây vợ ra về có đôi .
..

Những ngày than mây, khóc gió , hay vẩn vơ nhung nhớ đã qua ...Có những cuộc hôn nhân đem lại hanh phúc đến răng long đầu bạc , có những mối tình dang dở hay là hôn nhân chỉ đem lại đắng cay chán chường .
1. Những cuộc hôn nhân hạnh phúc :
   Đây là cảnh gia đình hạnh phúc , thuận vợ , thuận chồng , sự hoà hợp đôi bên tạo thành bức tranh thiên nhiên giữa cảnh đồng quê mộc mạc :
                  Đầu tôm nấu với ruột bầu ,
                  Chồng chan , vợ húp , gật đầu khen ngon .


Chồng ,vợ không quản nhọc nhằn, lên rừng , xuống bể , dù khó khăn cách mấy cùng nhau hợp tác cùng lao động để xây dựng tương lai ...
Rủ nhau xuống bể mò cua
                             Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
                             Em ơi , chua ngọt đã từng
                             Non xanh  ,nước bạc ta đừng quên nhau ...


Dù cảnh thanh bần, nghèo khổ , lao động cực nhọc ,nhưng nghĩa vợ chồng vẩn đẹp muôn đời :
                            Đôi ta nặng nghĩa tào khang ,
Xuống khe bắt ốc, lên đàng hái rau .


Người vợ Á Đông luôn luôn đảm đang ,lo lắng chăm sóc tửng miếng ăn,giấc ngủ cho chồng .Họ cảm thấy đó là niềm vui là bổn phận :
                 Đốt than , nướng cá cho vàng
                 Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi !


Tinh nghĩa vợ chồng dù trong tình huống khó khăn ,khổ sở gì đi nửa ,thì cũng cam lòng chấp nhận không thở than ,ai oán :
                 Chàng đi cho thiếp theo cùng
                 Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
.

                     Yêu nhau chẳng quản chiếu giường
                      Dẫu rằng tàu lá che sương ,cũng tình .

              

               Thương anh vô giá quá chừng
                Trèo truông quên mệt ngậm gừng quên quên cay .

2.Những cuộc hôn nhân không hạnh phúc :
Trên đời nầy không phải tất cả những cuộc tình rồi sẽ đến kết luận một gia đình hạnh phúc. Nhất là thời đại phong kiến , cha mẹ ép gã con , chú rể và cô dâu không hề quen trước , chỉ đến ngày cưới mới biết mặt nhau .cho nên , nổi lòng cay đắng của người con gái không làm sao mà xoa dịu được :
              
Mẹ em ham thúng xôi dền ,
               Tham con lợn béo ,tham tiền Cảnh Hưng
               Bây giờ kẻ thấp người cao
               Như đôi đủa lệch so sao cho bằng !

Người chồng về sau sanh sự, ham mê bóng sắc lấy thêm vợ , gọi là vợ nhỏ hay vợ bé , làm khổ vợ con , san sẻ ân tình , gây nên cảnh ghen tuông , đau đớn :
                  
Gió đưa buội chuối  sau hè  ,
                   Anh mê vợ bé , bỏ bè con thơ !


Người vợ chẳng may gặp phải ông chồng cờ bạc, rượu chè, không lo làm ăn nuôi vợ con , mà suốt ngày rong chơi ngoài đường .Vì sợ chúng bạn cười chê , nên nàng đành ngậm đắng , nuốt cay một mình .
                
Chồng em nó chẳng ra gì ,
                 Tổ tôm, xóc đĩa nó thì chơi hoang !
                 Nói ra xấu thiếp hổ chàng
                 Nó giận , nó phá tan hoang cửa nhà .
                 Đắng cay , ngậm quả bồ hòn .
                 con nhà gia thế , chồng con kém người .

Về nhửng ông chồng bất hạnh , do tục lệ tảo hôn , người con gái lớn hơn chồng cả chục tuổi , đã có người yêu , nên lạnh nhạt làm cho người chồng hiền lành ,chất phác ôm mối hận lòng :
                    
Lấy chồng chẳng biết mặt chồng ,
                     Đêm nằm tơ tưởng đến ông láng giềng
.

Đây là điều mà các bà vợ cần lưu ý , trước khi lấy chồng thì đẹp đẻ . chưng dọn láng lẫy. Nhưng khi đã vào vòng chồng vợ rồi thì lại để lôi thôi lếch thếch. Các bà không biết cái tai hại của sự ăn mặc bê bối , không biết chăm sóc nhan sắc , làm cho người chồng chóng chán ,và từ đó mà hạnh phúc tàn phai :
             
Chữa chồng nón thúng quai thao ,
             Chồng rồi , nón rách quai nào thì quai .
             Chữa chồng yếm thắm đeo hoa ,
             Chồng rồi hai vú bỏ ra ngoài đường .


Rồi thì những lời thở than chung cho những cuộc hôn nhân bắc đắc dĩ chỉ chịu đựng nhau như gánh nặng :
Chồng gì anh , vợ gì tôi .
                   chẳng qua là cái nợ đời chi đây ...

hoặc là bi thương xa xót cho cảnh kẻ ở người đi , người lên xe hoa , người còn ở lại :
Chè non ai hái nửa nương
Cau non nữa chẻ người thương nửa chừng .
Hai hàng nước mắt ngập ngừng
Thà rằng ngày trước ta đừng gặp nhau
.

Đôi ta lỡ cuộc hẹn hò !
Cây đa còn đó , con đò khác đưa ...

IV . PHẦN KẾT LUẬN :
Tình yêu , hôn nhân của người Việt chúng ta rất đáng trân trọng và ngưỡng mộ .Bỡi vì ca dao Việt Nam đã nói lên những tâm tư tình cảm mộc mạc có tính chất chân tình, lãng mạn ,trong sáng và nặng về tình cảm và nhẹ về vật chất , tiền tài :
              
Thấy em đẹp nói , đẹp cười
               đẹp người , đẹp nết , ra vào đoan trang
               Vậy nên anh gữi thư sang
               Dù sao anh quyết lấy nàng mà thôi .

Cái nghĩa cái tình lúc nào cũng đáng trân trọng :
Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về .

Về hôn nhân , đức tính chung thủy sắt son .Đó cũng là nền luân lý thâm sâu ,một nét đặc trưng văn hoá bao nhiêu đời , bao nhiêu thế hệ , được thể hiện tuyệt vời như :
  
Muối ba năm, muối đang còn mặn
  Gừng chín tháng , gừng hãy còn cay
  Đôi ta tình nặng nghĩa dày
  Dù có xa nhau đi nửa cũng ba vạn chín ngàn ngày mới xa .

            
Chừng nào cho sóng bỏ ghành
             Cù lao bỏ biển ,anh mới đành bỏ em. !


      
Trăm năm lòng gắn dạ ghi ,
        Dẫu ai đem bạc ,đổi chì cũng không ...

Qua đình ngã ngói trông đình
Đình bao nhiêu ngói , thương mình bấy nhiêu
...

Hai tay bưng dĩa muối gừng ,
Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau
...

IP IP Logged
Hieutri
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 410
Trích dẫn Hieutri Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 5:35am
EM TẮM
 
Thơ Bạc Văn Ùi
 
 
Sao anh lại rình
Trộm xem em tắm
Da của em ngần trắng
Da của mẹ, của cha
Tay của em lấm lem
Tay của than của bụi
Tay của rừng của núi
Tay của đất của nương
Em tắm xong lại sạch
Vẫn ngát thơm hoa rừng
Da của em trắng ngần
Là của anh tất cả
Không phải người xa lạ
Việc gì mà trộm xem
Em tắm suối giữa mường
Tắm trong mối yêu thương
Có anh đang đứng giữ
Chớ để Tây đến mường

   
   Bài thơ Em tắm của Bạc Văn Ùi, dân tộc Thái, được bình chọn là một trong 100 bài thơ hay nhất của thế kỷ hai mươi. Đây quả đúng là một thi phẩm rất độc đáo và hiện đại.
   Bài thơ đã vẽ lên bức tranh khoả thân của cô gái Mường đang tắm giữa suối rừng bằng ngôn từ nghệ thuật: Da của em ngần trắng- Da của mẹ của cha… Nó gợi ta nhớ tới những câu thơ bất hủ của Nguyễn Du thể hiện vẻ đẹp của Thuý Kiều lúc nàng tắm:
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.
   Hay là những vần thơ táo bạo của Hồ Xuân Hương vẽ lên bức tranh “thiếu nữ ngủ ngày”:
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc biếng cài trên mái tóc
Yếm đào để trễ dưới lưng ong
Đôi gò bồng đảo gương còn ngậm
Một lạch đào nguyên suối chửa thông…
   Nhưng đâu là sự khác nhau giữa thơ Bạc Văn Ùi với những câu thơ cùng đề tài, chúng ta vừa dẫn. Thuý Kiều hay cô thiếu nữ trong thơ Hồ Xân Hương đều là những đối tượng bị quan sát từ bên ngoài, họ không thể biết mình đang trở thành một đối tượng được thể hiện, một người mẫu cho hoạ sĩ, nếu theo cách hiểu hiện đại. Còn trong bài thơ của Bạc Văn Ùi cô gái tự cảm nhận, tự nói về vẻ đẹp của mình. Nó làm cho bức tranh thơ kia mang vẻ đẹp thuần khiết. Hơn nữa, tâm điểm chú ý của độc giả không phải là ở bức tranh  mà là vẻ đẹp tâm hồn, là cái đặc biệt trong cách nói của cô gái miền núi về chính bản thân.
   Tuy nhiên, nếu tự nói về vẻ đẹp của mình lúc đang tắm thì hoá ra thiếu tế nhị. Ở đây, cô gái nói trong một hoàn cảnh đặc biệt, đó là lời nói với chồng hay là người yêu, những lời chỉ nói riêng với nhau nghe thôi, chứ không phải ở chỗ đông người. Những lời vợ chồng nói với nhau trong khoảnh khắc riêng tư. Và chỉ trong văn cảnh như thế người ta mới có một ngôn ngữ riêng, một giọng riêng. Giọng cô gái trong bài thơ này là cái giọng đặc biệt như thế. Cũng vì thế cô gái giữ được ngữ khí tự nhiên, bộc lộ đúng vẻ đẹp bản chất của mình. Đấy trước hết là vẻ đẹp thân thể:
Da của em ngần trắng
Da của mẹ, của cha
   Và cô đặc biệt chú ý đến đôi tay:
Tay của em lấm lem
Tay của than của bụi
Tay của rừng của núi
Tay của đất của nương
Có thể hiểu đấy là đôi bàn tay lao động cần cù, vất vả. Đôi bàn tay ấy gắn bó mật thiết với rừng để làm nên sự sống. Ở đây, các câu thơ Da của mẹ, của cha và Tay của rừng của núi - Tay của đất của nương; đều cùng hình thức diễn đạt. Hoá ra, em không những chỉ là sản phẩm của mẹ cha mà còn là sản phẩm của cả núi rừng. Cho nên, khi em tắm xong:
         Vẫn ngát thơm hoa rừng
 Em là bông hoa đẹp nhất của núi rừng, là đoá hoa đang toả ngát hương thơm bên suối.
Cho nên cả núi rừng như nâng niu em:
Em tắm suối giữa mường
Tắm trong mối yêu thương
   Và tất cả vẻ đẹp của em là thuộc về anh, nhiệm vụ của anh là phải “canh giữ”, “chớ để Tây đến Mường”. Bài thơ đột ngột chuyển hướng một cách bất ngờ, đang trong không khí riêng tư nhất bổng chuyển sang việc đánh Tây, giữ Mường; nhưng trên thực tế thì nó liên quan rất mật thiết với nhau. Cái ý vị của bức tranh thơ này là bên cạnh cô gái tắm suối giữa rừng trong bầu không khí bình yên là anh thanh niên đang bồng súng canh giữ kẻ thù bảo vệ quê hương.  Đây là một ý thơ độc đáo và cũng là điểm khác biệt giữa bài thơ của Bạc Văn Ùi với tất cả những bài thơ khác cùng đề tài.
                
Th.s Lê Sử
Gv khoa Ngữ văn- Đại học Vinh
IP IP Logged
Hieutri
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 410
Trích dẫn Hieutri Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 5:38am
CHỢT NHỚ
 
 NGUYỄN HỒI THỦ


Em ở sát nhà tôi
Cách nhau bờ giậu thấp
Tụi mình học cùng lớp
Mẹ em bán cau, bán thuốc
Chợ Đầm xa vời vợi
Đường đi cát trắng trùng điệp nắng
mà khi về chợ vẫn hay cười.
Hương ơi
bên giếng nhà em có bụi chuối bồ hương
quanh năm bóng mát sang vườn nhà tôi
nhà tôi lài lý thơm về tối
tôi bỏ ra đi mười mấy tuổi
mà sao còn nhớ tóc em dài

   Mõi lần đọc bài thơ Chợt nhớ của Nguyễn Hồi Thủ, lòng lại thấy bồi hồi, xúc động. Bài thơ tuy ngắn gọn nhưng lại có sức gợi sâu xa. Nó đánh thức dậy trong ta những kỷ niêm về thời ấu thơ, những hồi ức nơi thôn dã và cả nỗi nhớ ngọt ngào, xa xăm về những rung động đầu đời. Bài thơ có tên là Chợt nhớ nhưng nỗi nhớ ở đây không phải là chút gì thoảng qua mà hết sức mãnh liệt, thiết tha.
   Bốn câu thơ đầu chủ yếu thiên về giới thiệu, cung cấp thông tin. Nó hé mở cho độc giả thấy chủ thể trữ tình và “em” vốn ở thôn quê, là láng giềng của nhau: Em ở sát nhà tôi- Cách nhau bờ giậu thấp. Thôn quê nào mà chả có bờ giậu ngăn cách giữa hai nhà. Những câu thơ cũng ít nhiều gợi ra gia cảnh của “em”: Mẹ em bán cau, bán thuốc. Ngôn từ trong bốn câu thơ đầu rất mộc mạc, chẳng hạn từ “sát”  trong câu đầu tiên, hoàn toàn khác với câu thơ của Nguyễn Bính: Nhà nàng ở cạnh nhà tôi- Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn; hay từ “tụi mình” ở trong câu thơ thứ ba. Ngoài ra, tác giả gần như thuận đâu kể đấy, không có sự đẽo gọt nào. Điều này đều có dụng ý, nó tô đậm tình cảm mộc mạc, tự nhiên, tình bạn của hai đứa trẻ cùng lớn lên nơi thôn dã. 
   Nhưng đến hai câu thơ tiếp theo thì khác hẳn:
Chợ Đầm xa vời vợi
Đường đi cát trắng trùng điệp nắng
   Hai từ “vời vợi” thể hiện rõ tình cảm của tác giả đối với mẹ của “em”; ở đó chất chứa sự cảm thông với sự vất vả ngàn trùng của mẹ. Nhưng theo mạch cảm hứng của bài thơ, từ “vời vợi” còn thể hiện sự thể nghiệm về chính sự xa cách của tác giả đối với chính quê hương của mình.
Câu thơ tiếp theo rất giàu hình ảnh: Đường đi cát trắng trùng điệp nắng. Đọc lên, trong âm điệu có vẻ gập ghềnh, gợi lên những bước chân nhọc nhằn, vất vả của mẹ. Vần ắng điệp lại, đồng thời, lại rơi đúng vào chỗ ngắt nhịp tạo nên cái chói gắt của ánh nắng trên những bãi cát dài, trên những bước chân bỏng rát của mẹ. Nó gợi ta nhớ tới những câu thơ khác cũng đặc tả bước chân của mẹ, của bà để nói lên sự lam lũ, khó nhọc:
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Bước thấp, bước cao bên bờ tre hun hút
      Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm

   Bà đi gánh chè xanh ba trại
   Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
         Đò lèn- Nguyễn Duy
Song cái đọng lại sâu sắc hơn cả trong ấn tượng của tác giả vẫn là nụ cười của mẹ:
      Mà khi về chợ vẫn hay cười
Sự cảm thông của chủ thể trữ tình đối với mẹ cũng như tình cảm đôn hậu, mộc mạc của mẹ làm sáng cả những câu thơ. Không phải ngẫu nhiên tác giả lại viết về mẹ của em bằng những vần thơ sâu lắng như thế.
   Bài thơ đột ngột chuyển điệu:
Hương ơi
bên giếng nhà em có bụi chuối bồ hương
quanh năm bóng mát sang vườn nhà tôi
nhà tôi lài lý thơm về tối
tôi bỏ ra đi mười mấy tuổi
mà sao còn nhớ tóc em dài
Trong tình cảm dâng trào, tác giả gọi tên bạn gái của mình. Tiếng thốt lên từ trái tim ấy chất chứa cả một tình cảm bỏng cháy. Những câu thơ cũng vì thế tươi mát, tình tứ hẳn lên. Cảnh như có tình, như đều biểu hiện tình cảm thiết tha nhưng thầm lặng của cả hai người. Cây chuối bồ hương của nhà em thì quanh năm bóng mát sang vườn nhà tôi. Ngược lại: nhà tôi lài lý thơm về tối; phải chăng: Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu? Tất cả hứa hẹn sự chín muồi của tình yêu. Nhưng rồi, sự chia ly đã xảy ra: Tôi bỏ ra đi mười mấy tuổi. Tại sao lại bỏ ra đi? Mấy từ này nghe thật phũ phàng; nó ẩn chứa đằng sau những uẩn khúc của tâm hồn. Như ta đã biết, tác giả sáng tác bài thơ khi ở xứ người. Và người ta vẫn nói thơ của Nguyễn Hồi Thủ là thơ của nỗi niềm sầu xứ. Mấy từ này thể hiện nỗi hận sầu xứ chăng?
Câu thơ cuối cùng thể hiện sự đau đáu của nỗi nhớ:
mà sao còn nhớ tóc em dài
   Hoá ra, trong nỗi niềm tha hương, nỗi sầu viễn xứ, cái luôn da diết trong lòng chính là một tình yêu thiết tha, thầm lặng với cô bạn hàng xóm. Tình yêu ấy gắn liền với quê hương, với tuổi thơ, với những kỷ niệm ngọt ngào, và vì thế, khi nhớ về nó tác giả bao giờ cũng xúc động sâu sắc tận đáy thẳm trái tim. Do đó, bài thơ có khả năng đánh thức những kỷ niệm, những tình cảm đẹp đẽ của chúng ta.
                      
Lê Sử
Giảng viên khoa Ngữ văn- Đại học Vinh
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 6:15am

Ca dao với những cung bậc nỗi nhớ của tình yêu

 Trong ca dao Việt Nam, những bài nói về tình yêu nam nữ nhiều hơn cả, mỗi bài mỗi câu đều long lanh tỏa sáng như những nốt nhạc diệu kì trong giai điệu bất tận của tình yêu, cuộc sống. Đặc biệt những cung bậc của nỗi nhớ được khắc họa rõ nét với những khắc khoải khi xa cách, những lo lắng buồn phiền khi muốn bảo vệ mối tình chung thủy.

“Thế giới không có người biết yêu thì mặt trời sẽ tắt’’ (Vich-to Huy-gô). Phải chăng vì “Tình yêu là cuộc sống-tình yêu là mối quan hệ duy nhất kết hợp vạn vật” ( L.Tôn-xtôi) ?

Yêu nhau để rồi thương rồi nhớ, khi sợi “tơ hồng” đã buộc hai người xa lạ với nhau, trái tim thổn thức ngân rung nhịp đập của tình yêu. Đôi người yêu nhau thương nhớ khôn nguôi với tâm trạng chưa từng trải qua:

Gió sao gió mát sau lưng

Bụng sao bụng nhớ người dưng thế này ?

Người ta hỏi để khỏa lấp các tâm trạng bối rối, xốn xang khi nhận ra những rung cảm tuyệt vời, để vơi đi nỗi nhớ.

Trong cuộc sống có biết bao điều để thương để nhớ, nhưng với tình yêu, nỗi nhớ quả là rất đặc biệt :

Nhớ ai con mắt lim dim

Chân đi thất thểu như chim tha mồi.

Nhớ ai hết đứng lại ngồi

Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.

Chỉ với mấy từ “thất thểu’’, “tơ tưởng’’, hình ảnh và tâm trạng của người đang yêu đến độ si tình hiện lên rõ nét với tất cả sự buồn rầu, bồn chồn, ủ dột.

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than

Trong ca dao, so sánh là thủ pháp nghệ thuật thường gặp. Với câu ca dao này có lẽ không một ai có cách diễn đạt đắc địa hơn.

Yêu nhau, người ta nhớ nhau mọi lúc mọi nơi, không kể cả không gian và thời gian:

Bốn mùa xuân-hạ-thu-đông

Thiếp ngồi dệt vải những trông bang chàng

Dừa xanh trên bến Tam Quan

Dừa bao nhiêu trái trông chàng bấy nhiêu.

Cặp từ chỉ số lượng không hạn định diễn tả rất thành công nỗi nhớ nhung vô hạn của “thiếp’’ khi xa “chàng”.

Nhớ ai em những khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa

Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ

Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai ?

Lối nói thậm xưng với đại từ phiếm chỉ đã trở thành một đơn vị nghệ thuật rất độc đáo trong ca dao. Cùng với câu hỏi tu từ và điệp từ, bài ca dao rất tinh tế và thành công khi diễn tả tâm trạng nhớ mong, lo lắng, ước muốn sự chung tình biến cái trìu tượng thành cái cụ thể nhưng đầy ý nhị, sâu sắc.

Nhớ người yêu, người ta nhớ tới những nét duyên dáng đáng yêu của người thương:

Mình về mình nhớ ta chăng?

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

Có lẽ đó chính là hàm răng đen nhức hạt na, kín đáo như trong “nụ cười như thể hoa ngâu’’ đã hớp hồn kẻ tình si.

Nhưng có lẽ chỉ khi yêu nhau mà phải xa nhau dù với bất cứ lý do gì thì nỗi nhớ càng cháy bỏng, có lúc còn mang hơi thở của sự khổ đau:

Chim bay về núi Sơn Trà

Chồng Nam vợ Bắc ai mà muốn xa.

Sự này cũng tại mẹ cha

Cho nên đũa ngọc mới xa mâm vàng.

Có lúc vì những lý do nhất định, đôi người yêu nhau phải xa nhau, họ bất lực và chỉ biết than khóc:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng

Đưa nhau một bước lên đàng

Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa.

Trong chế độ phong kiến đây không phải là cảnh hiếm gặp, đã có biết bao “đũa ngọc’ phải xa “mâm vàng’’ vì những hủ tục lạc hậu.

Xa nhau người ta không chỉ nhớ mong da diết mà còn lo lắng cho sự chung tình:

Anh đi đằng ấy xa xa

Để em ôm bóng trăng tà năm canh

Nước non một gánh chung tình

Nhớ ai, ai có nhớ mình chăng ta?

Ta gặp lại hình tượng “trăng’’ quen thuộc trong tâm trạng thao thức đằng đẵng “năm canh’’ cùng đại từ phiếm chỉ “ai’’ và điệp từ “nhớ’’ trong câu hỏi tu từ khắc họa không chỉ nỗi nhớ, sự lo lắng mà còn là sự hy vọng vào tình yêu.

Họ bầy tỏ sự sắt son thủy chung:

Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Đây là một trong những câu ca dao hay nhất về tình yêu, con thuyền tình trong nghệ thuật ẩn dụ làm cho lời thơ gợi cảm thắm thiết và đẹp biết nhường nào.

Nhớ thương, lo lắng, ước muốn khôn nguôi, tình cảm nồng nàn đằm thắm nhưng cách diễn đạt sao mà ý nhị:

Khăn thương nhớ ai,

Khăn rơi xuống đất.

Khăn thương nhớ ai,

Khăn vắt lên vai.

Khăn thương nhớ ai,

Khăn chùi nước mắt.

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt?

Mắt thương nhớ ai,

Mắt ngủ không yên.

Đêm qua, em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên mọi bề.

Nghệ sĩ dân gian khéo tránh nói đến cái “tôi’’ và đã sử dụng nhuần nhụy nghệ thuật nhân hóa, những vật vô tri được thổi vào cái hơi cái hồn của tình yêu, chúng bỗng hồi sinh rung động cùng nhịp đập thổn thức của trái tim yêu.

Những bài ca dao nói về tình yêu, về nỗi nhớ thật khó mà kể xiết, trong đó có nhiều bài đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và nội dung. Có lẽ chỉ tình yêu với những rung cảm mãnh liệt và bất tận mới giúp nghệ sĩ dân gian sáng tạo được những tuyệt bút sống mãi với thời gian.

Ca dao là tiếng vọng ngàn năm của cha ông, là nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp mỗi chúng ta hiểu thêm về dân tộc mình, đất nước mình, hiểu hơn về chính chúng ta. Chúng ta hãy cùng chiêm ngưỡng những viên ngọc quý và hãy cùng trân trọng, nâng niu, góp phần làm cho ngọc ngày càng tỏa sáng hơn.

 

Trần Vân Hạc

 

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 7:37am
Thằng Bờm có cái quạt mo
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi hòn xôi Bờm cười

 

 
 
 
Bài ca dao "Thằng Bờm" lâu nay vẫn được giới nghiên cứu văn học và tiếp cận từ góc nhìn quan hệ trao đổi vật thể không ngang giá để đi đến nhận xét về tính gàn dở hay tâm lý thiết thực, thiển cận của Bờm - đại diện cho con người tiểu nông. Chúng tôi cho rằng góc nhìn này là dễ dãi và chưa thỏa đáng vì nó dừng lại ở bên mặt sự vật và hiện tượng, chưa cho phép ta khám phá những đặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phú ông. Trong bài viết này, chúng tôi thử đề xuất một cách nhìn mới, một cách đánh giá khác về bản chất văn hóa của cuộc thương lượng thú vị này.

I - Cái quạt mo - một siêu giá trị

Khi nghe nói đến "Cái quạt mo", ta thường nghĩ ngay đến giá trị sử dụng bé nhỏ của nó, bé đến mức gần như vô giá trị. Vô giá trị vì nó sẵn quanh ta trong môi trường xã hội nông nghiệp, nó là vật phế thải của thiên nhiên mà người nghèo đến đâu cũng có. Vì thế, khi Phú ông đem những vật có giá trị sử dụng lớn như "ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim",v.v ra đổi, ta thấy phi lý buồn cười. Ta cười là bởi vì ta chỉ nhìn cái quạt mo của Bờm và trâu, bò, gỗ, cá... của Phú ông như những giá trị sử dụng có thể cân, đo, đong, đếm và sử dụng vào sản xuất hay sinh hoa.t. Nhưng nếu như ta nhìn những thứ này như những đối tượng văn hóa - những kỷ vật, những biểu trưng... thì ta sẽ thấy đồng cảm với Bờm trong sự kiên định giữ lấy cái quạt mo, giữ bằng mọi giá.

Thực ra thì cuộc trao đổi có vẻ phi lý và hài hước đã và đang diễn ra trên thị trường văn hóa phương Tây. Chúng ta chẳng bật cười khi thấy người ta đấu giá trả đến mấy triệu đô-la để mua một cái khuy áo hay một kỷ vật của danh hài nào đó? Ta bật cười vì ta còn mang cái nhìn thực dụng tiểu nông, chưa hiểu "siêu giá trị" của cái sản phẩm văn hóa và chưa hiểu "siêu lợi nhuận" của ngành kinh doanh văn hóa. Các nhà tỷ phú chẳng dại gì ném tiền qua cửa sổ. Họ bỏ tiền ra để mua một kỷ vật của bác học Einstein hay Công nương Diana nếu không phải để nâng cấp bộ sưu tập hay bảo tàng của mình thì cũng để nâng cấp văn hóa và quyền lực đầu tư của mình nhằm tới một cái đích vô giá. Phú ông trong bài ca dao "Thằng Bờm" cũng vậy thôi - ông ta tìm mọi cách mua cho được "cái quạt mo" không phải vì ngớ ngẩn, hay tham lam mù quáng như nhiều người đã phân tích, mà vì hắn muốn sở hữu cái quạt mo - biểu tượng của nhân vật Bờm, bản ngã văn hóa của Bờm. Bài ca dao chỉ nói "Thằng Bờm có cái quạt mo" không nói nguồn gốc và tính chất của cái quạt mo này. Nhưng không loại trừ cái quạt mo là một kỷ vật thiêng liêng của cha ông để lại, hay một chiến lợi phẩm từ sự thất bại nhục nhã của Phú ông trong thuở hàn vi mà Phú ông muốn phi tang. Và dù cho cái quạt mo ấy chỉ là một vật dụng bình thường mà Bờm quyết giữ, thì nó cũng mang chứa đặc trưng nhân cách của Bờm, tước đoạt được nó là tước đoạt được một cách tượng trưng ý chí và bản lĩnh kiên định của Bờm, và biết đâu đó lại là cách Phú ông dùng của cải khuất phục được tên nông dân nổi danh cứng đầu cứng cổ, từ đó khuất phục số đông? Nghĩa là, cái quạt mo không còn là cái quạt mo - nó chính là biểu trưng của nhân cách, lịch sử và ý chí. Nỗ lực của Phú ông thực chất là nỗ lực tước đoạt bản ngã văn hóa của những nông dân nghèo khó như Bờm.

Nếu là cuộc trao đổi thực dụng thì Phú ông không thể đấu giá với chính mình theo cách kỳ quặc như ta đã thấy. Phú ông tự đặt ra giá cao rồi giảm dần xuống từ "ba bò chín trâu, hạ xuống nắm xôi". Đó không phải là lôgic đấu giá hay mặc cả. Đó là lôgic của tiếp biến văn hóa. Phú ông đổi từ "ba bò chín trâu sang ao sâu cá mè" rồi sang "một bè gỗ lim" không phải là sự hạ giá hay đổi thay giá trị trao đổi, mà chỉ là một cuộc trình diện cụ thể rất khác nhau về ý nghĩa và giá trị trong tương quan văn hóa.

Trong tư cách là những vật cụ thể thì những vật trao đổi Phú ông đưa ra là bình đẳng về giá trị trong tiêu chí cảm tính của người Viê.t. Thái độ cụ thể là một thái độ khá đặc trưng của người Việt - cùng là một nắm xôi, một miếng ăn, nhưng đặt trong thời gian và không gian cụ thể nó mang các giá trị khác nhau "miếng khi đói bằng gói khi no, miếng giữa làng bằng sàng giữa chợ, lời chào cao hơn mâm cỗ, miếng ăn là miếng nhục, đánh nhau chia gạo chào nhau ăn cơm,v.v." Với người Việt không có một công thức chung cứng nhắc, giáo điều hay một thứ cẩm nang bảo bối! Nội dung tính chất, giá trị của sự vật được người Việt kiểm chứng trong các quan hệ cụ thể, để "tùy", "lựa", "liệu" rất linh hoạt và linh ứng. Từ tâm thức văn hóa đó đẻ ra cách mặc cả kỳ quái như của Phú ông, đem cái cụ thể này đổi lấy cái cụ thể khác để kiểm chứng nhu cầu cụ thể của Bờm. Nói Phú ông tiếp biến văn hóa là theo nghĩa đó. Song, sự tiếp biến văn hóa của Phú ông không hề là sự hạ cấp giá trị trao đổi. Xét từ góc độ giá trị văn hóa và sự tôn trọng thì cách thỏa thuận của Phú ông là ngày càng đưa Bờm lên một bậc giá trị cao hơn. Nếu như "ba bò chín trâu" là tư liệu sản xuất, thì "ao sâu cá mè" là thực phẩm, "bè gỗ lim" là vật liệu xây dựng, "chim đồi mồi" là thú ăn chơi đài các và "nắm xôi "là đồ thờ cúng, là thức ăn lễ Tết. Rõ ràng là qua cách đổi thay vật trao đổi, Phú ông vừa tiếp thị văn hóa, vừa nâng cấp thân phận của Bờm. Lúc đầu Bờm chỉ được Phú ông coi là kẻ vai u thịt bắp, cày ruộng chăn bò hay là kẻ lái trâu, sau đó Bờm được coi như con người, đã đến lúc lo việc xây dựng cơ ngơi, rồi lại nâng cấp Bờm lên con người biết ăn chơi đài các như ai, và cuối cùng mức cao nhất là nâng Bờm lên một người ăn thức ăn thanh cảnh trong lẽ Tết. Lôgic cư xử của Phú ông là ngày càng tỏ ra coi trọng Bờm, lịch sự với Bờm, đặt Bờm xa dần những tương quan vật chất thô lậu để đưa Bờm vào cương vị quý tộc có chim đồi mồi và biết quý nắm xôi hơn cả trâu bò, nhà cửa. Nghĩa là, bằng sự mặc cả theo lôgic nâng cấp thân phận, nâng cấp giá trị văn hóa đó, Phú ông đã giải phóng Bờm khỏi thân phận nông dân trong các quan hệ kinh tế sản xuất để đưa Bờm vào không gian văn hóa, môi trường giá trị văn hóa. Và nếu như ta đã từng bán nhà, bán cửa, bán trâu bò để giành lấy một thanh danh, một "miếng giữa làng" thì sao Bờm lại không thể đổi quạt mo lấy nắm xôi kia, nhất là khi nắm xôi được đưa ra trong tư cách phủ định trâu bò, nhà cửa?

II - Nụ cười của Bờm, một bản lĩnh nước đôi

Khả năng giải mã một văn bản là vô tận và mỗi cách tiếp cận, lại có nhiều góc nhìn khác nhau, mỗi góc nhìn khác nhau lại có nhiều công cụ và thao tác khác nhau.

Khi giải mã lôgic trao đổi giữa Phú ông và Bờm theo hướng tìm kiếm một lôgic văn hóa như đã trình bày ở phần trên, chúng tôi mong mã số mới này bao quát cả nụ cười của Bờm ở câu cuối của bài ca dao. Nhưng với một sự thận trọng cần thiết, chúng tôi muốn phân tích sâu nụ cười nước đôi, đi vào hai hướng khác nhau giả định hai ý nghĩa khác nhau để đi đến kết luận rằng: nụ cười của Bờm là chấp thuận hay từ chối thì lôgic ngầm đã phân tích ở phần trên vẫn không sụp đổ.

1. Nụ cười chấp thuận.

Theo lô gíc thông thường vì được nâng giá văn hóa và được cải thiện thân phận qua những lần Phú ông mặc cả, Bờm cười và chấp thuâ.n. Nụ cười của Bờm đã được hầu hết các nhà phân tích coi là nụ cười chấp thuận, nhưng lại nói bản chất sự chấp thuận này là cái nhìn thiết thực thiển câ.n. Theo hướng giải mã của chúng tôi thì nụ cười này của Bờm lại là nụ cười chiến thắng, nụ cười của kẻ mạnh vì Bờm đã được Phú ông liên tục "xin đổi" một cách năn nỉ và trân trọng, hơn thế nữa ngày càng đưa ra những vật đổi thanh cao. Quá trình thay vật trao đổi cũng là quá trình thanh cao hóa, tượng trưng hóa và song song với nó là quá trình Phú ông từ chỗ huênh hoang, cậy của trở thành kẻ thành tâm. Như vậy là Phú ông lại xoay như chong chóng trước một cái lắc đầu duy nhất của Bờm và cuối cùng phải thay đổi thái độ. Đó là sự chiến thắng của Bờm. Sự chiến thắng này là chiến thắng về văn hóa, vì trong quan hệ quyền lực và quan hệ cạnh tranh kinh tế không thể có chuyện kẻ mạnh về gạo bạo về tiền như Phú ông phải xoay xỏa năn nỉ Bờm như thế. Chỉ có thể hiểu sự bất lực cay cú của Phú ông từ góc nhìn văn hóa. Khát vọng chinh phục, khát vọng đồng hóa là một khát vọng không dễ gì thỏa mãn bằng tiền của và bạo lư.c. Sự kiên định bản ngã văn hóa tạo nên sức mạnh "phú quý bất năng di" của những người nông dân nghèo khổ. Suy rộng ra sự kiên định của Bờm cũng chính là sự kiên định của bản lĩnh văn hóa kiểu Việt Nam.

2. Nụ cười từ chối

Nụ cười của Bờm nếu hiểu là nụ cười từ chối thì lôgic văn hóa của cuộc trao đổi vẫn không vì thế mà bị sụp đổ, trái lại được khẳng định rõ hơn. Bờm vẫn có thể từ chối một ngôi vị văn hóa càng ngày càng cao mà Phú ông đã đưa tới cho Bờm vì bản lĩnh của Bờm là một tự do bên ngoài những liên kết ấy. Khát vọng của Bờm chỉ là được là chủ nhân của cái quạt mo, khát vọng ấy là một nhu cầu tinh thần mang tính triết học mà ngay cả những giá trị tinh thần cũng không thể trao đổi được dù Bờm có được Phú ông phong Thánh hay dù ai đó có quyền lực đặt Bờm vào ngôi Vua như trong truyện cổ tích thì Bờm vẫn không thể đánh đổi cái quạt mo, lấy những ngôi vị cao quý đó, đơn giản chỉ vì Bờm yêu cái quạt mo gắn bó và thủy chung với nó. Logic của tình yêu là như vâ.y. Người nông dân Việt Nam trong cổ tích và ca dao đã luôn ca ngợi những đức tính thủy chung:

Chồng em áo rách em thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người


Bài ca dao "Thằng Bờm", cũng có thể là một bài ca dao ngợi ca đức thủy chung tình nghĩa của con người đối với đồ vật của mình. Với đồ vật cũng gắn bó như vậy thì với con người còn gắn bó đến mức nào.

Như vậy là chấp thuận hay từ chối, nụ cười của Bờm cũng bộc lộ một phương thức ứng xử tế nhị đầy tính nước đôi của con người Việt Nam. Trong tư cách một tín hiệu nghệ thuật, nụ cười của Bờm là một tín hiệu đa nghĩa. Nó là viên ngọc đặt trên bệ đỡ của cuộc thỏa thuận kỳ lạ đó. Và dù viên ngọc có ánh lên mầu sắc khác nhau, thì cái giá đỡ nâng nó lên vẫn không vì thế mà thay đổi. Mỗi một câu ca dao là một nấc thang nâng cao nhân cách, phẩm giá và sự kiên định văn hóa của con người Việt Nam. Bài ca dao "Thằng Bờm" là một sự cắt nghĩa giải mã bản lĩnh văn hóa Việt trước bao nhiêu tham vọng, âm mưu đồng hóa và chiếm đoạt.

Bài ca dao "Thằng Bờm", dù có ý thức hay không đã phát lộ khát vọng văn hóa trong con người Việt Nam là khát vọng lớn hơn khát vọng của cải. Quan hệ văn hóa đã lấn át quan hệ thương mại, dẫn đến cái giá trị hơn vàng bạc hay tiền của, khát vọng về đổi thay thân phận và đổi thay diện mạo lớn hơn khát vọng về tài sản. Cái quạt mo ở đây chính là biểu trưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọi giá.

Có thể nói, cũng đều là những bài ca dao bộc lộ khát vọng văn hóa của người nông dân Việt Nam, nhưng bài Thằng Bờm là tương phản, đối trọng với bài "Con cò mà đi ăn đêm". Nếu như con cò bị lộn cổ xuống ao phải năn nỉ xin "ông ơi, ông vớt tôi nao và xin được xáo nước trong" để giãi bày tấm lòng trong sạch, thì "Thằng Bờm" đã có thể nở nụ cười hạnh phúc, nụ cười của kẻ mạnh trước tư thế năn nỉ của Phú ông. Sự đảo thế trong hai bài ca dao cũng phát lộ một dải tần rộng của bản lĩnh văn hóa Việt Nam, dù ở thế mạnh hay thế yếu, dù lúc sa cơ hay lúc lên ngôi, người nông dân Việt Nam vẫn kiên định khôn nguôi một khát vọng văn hóa giản dị: sự trong sạch, đức thủy chung vượt lên giầu sang và cái chết.

Người post bài Phạm Văn Hóa



Sửa bởi Hoangtube - 10 Nov 2011 lúc 7:40am
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 8:00am
" Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này , khế ơi !
Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng .
Mình ơi ! Có nhớ ta chăng ?
Ta như sao Vượt chờ Trăng giữa trời"
 
 
Tôi yêu ca dao ko chỉ yêu cái mượt mà đằm thắm của ngôn từ, tôi yêu ca dao còn bởi cái tình giản dị e ấp, dịu dàng đến mê hoặc lòng người. Ca dao mượn phú, tỷ ,hứng để làm phương thức bày tỏ cái sâu thẳm của cõi lòng ưu ái. Phú là khi cảnh sắc bày ra trước mắt, vung lời thành thơ miên man bất tuyệt theo ngoại giới. Hứng là lúc tức cảnh sinh tình, ý-tình-hình-nhạc khởi phát theo chiều cảm xúc. Tỷ là sự đối chiếu so sánh, mượn câu chuyện thế sự để dãi bày câu chuyện của nội tâm. Mỗi một phương thức là một dáng vẻ riêng nhưng Tỷ có lẽ là phương thức được dùng nhiều hơn cả trong câu chuyện đôi lứa bởi chính nó đã làm nên cái thần cuả ca dao, làm nên cái dáng vẻ e ấp bẽn lẽn của duyên tình...
Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi
Cái mô tuýp "Trèo lên..." có lẽ ko phải là độc quyền của bài ca dao này. Chiều cao của không gian dường như là yếu tố thôi thúc cảm xúc nảy sinh, làm nên cái trăn trở của một tâm sự ko thể dễ dàng bày tỏ. Cây khế đi vào huyền thoại với câu chuyện "ăn một quả trả cục vàng" giờ lại đi vào ca dao nhưng ko phải để phô diễn cái đối cực 2 chiều Thiện-Ác như trong cổ tích mà nó lại là cái cớ để nhân vật trữ tình trong ca dao dãi bày tâm trạng. Mượn cái chua của Khế để nói thay cho cái chua của tâm trạng. Khế ko còn tồn tại như một thực thể vô tri, nó hoá thành nhân vật thứ 2 trong bài ca dao đóng vai trò phản thân với nhân vật chính. Câu thơ Ai làm chua xót lòng này, khế ơi? đã minh chứng cho điều ấy. Cấu trúc câu thơ là cấu trúc nghi vấn nhưng ko dùng để hỏi, nó có vai trò khắc hoạ những trăn trở băn khoăn, độ chua của vị giác giờ hoá thành thước đo cho những xót xa của tâm trạng. Cái vi diệu của ca dao là ở đó. Những so sánh bất ngờ, những chuyển hoá tinh tế về ngôi kể khiến cho câu thơ mở đầu tạo được sự hấp dẫn đặc biệt với người đọc!


Sửa bởi Hoangtube - 10 Nov 2011 lúc 8:01am
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 8:29am

Sang thu

                                                                      (Hữu Thỉnh)

                                      Bỗng nhận ra hương ổi

                                      Phả vào trong gió se

                                      Sương chùng chình qua ngõ

                                      Hình như thu đã về.

   

                                      Sông được lúc dềnh dàng

                                      Chim bắt đầu vội vã

                                      Có đám mây mùa hạ

                                      Vắt nửa mình sang thu.

 

                                      Vẫn còn bao nhiêu nắng

                                       Đã vơi dần cơn mưa

                                       Sấm cũng bớt bất ngờ

                                       Trên hàng cây đứng tuổi.

        

            "Thu là khoảng ngưng kì diệu để mọi vật bừng sắc một lần chót rồi đi vào lụi tàn".Quả đúng vậy,ta đã có một khoảng ngưng kì diệu như thế trong sang thu của Hữu Thỉnh.Bài thơ là khúc giao mùa nhẹ nhàng,thơ mộng,bâng khuâng,là tiếng gõ trái tim người đọc,đưa người đọc trở về với bức tranh thu vừa đẹp,vừa trong sáng.Song qua đó cũng là sự gửi gắm những nỗi niềm:"Con người sẽ trở nên trầm lặng hơn trước những biến cố,những dông bão của cuộc đời".Đó là suy ngẫm và chiêm nghiệm của Hữu Thỉnh về con người và cuộc sống.

             Những khoảnh khắc giao mùa ít ai để ý đến,nhịp sống hối hả ngày thường cuốn chúng ta rời xa những thi vị của cuộc sống.Nhưng với thi sĩ,những khoảnh khắc nhỏ ấy luôn trở nên thơ mộng,bâng khuâng,khiến tâm hồn ta thêm yêu cuộc sống,yêu những giây phút đang lặng lẽ trôi vào quá khứ.

               Mùa thu và thi ca luôn có mối duyên đằm thắm,nói như Chế Lan Viên:

                                    "Bài thơ anh,anh làm một nửa mà thôi

                                      Còn một nửa cho mùa thu làm lấy."

Quả vậy,mùa thu mang đến cho thi sĩ những thi tứ tuyệt diệu,nhờ đó mà Nguyễn Khuyến đã có được "Tam tuyệt thơ thu",Xuân Diệu thấy được "Đây mùa thu tới",Tản Đà sống mãi với "Đêm thu" và Hữu Thỉnh, bằng những giác quan nhạy bén ,cảm nhận tinh tế,ông đã nhận ra khoảnh khắc giao mùa nhẹ nhàng,thơ mộng ,bâng khuâng mà cũng thì thầm triết lí qua "Sang thu".

             Bằng một từ "bỗng", Hữu Thỉnh đã đánh thức giác quan của mọi người.Hãy cảm nhận đi,trong làn gió có mùi hương của ổi, hãy tạm dừng cuộc sống để thấy khoảnh khắc giao mùa đang đến:

                                    "Bỗng nhận ra hương ổi".

Bằng một từ "bỗng" mở đầu bài thơ mà Hữu Thỉnh đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc về sự đột ngột, bất ngờ bởi những dấu hiệu chuyển mùa.

              Nghe đâu đó trong làn gió nhẹ phảng phất hương vị của ổi, đây chính là một cách cảm nhận thật khác của Hữu Thỉnh.Thời khắc giao mùa thương gắn với những hình ảnh :"Sen tàn cúc lại nở hoa", hay mùa thu hiện hữu qua sắc vàng của lá :"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo". Nhưng với Hữu Thỉnh, ông cảm nhận được bước chân của thu, sự hiện diện của thu qua hương vị quen thuộc, bình dị, dân dã, thứ hương thơm gắn bó với tuổi thơ của mỗi người đó là mùi hương của ổi.

              Cách sử dụnh từ ngữ của Hữu Thỉnh cũng thật tài tình với động từ mạnh "phả":

                                       "Phả vào trong gió se".

Ông đã ném vào không gian thứ hương vị ngọt lịm_hương ổi khiến nó lan toả khắp nơi,không khỏi làm nao lòng người.Không chỉ bằng khứu giác,tác giả còn cảm nhận thấy thu đang tới qua làn gió se, đó là những cơn gió heo may đầu mùa mang theo chút hơi lạnh của khí thu. Tác giả phải là người tinh tế và nhạy cảm lắm mới có thể nhận ra những dấu hiệu thu về, những dấu hiệu vừa gần gũi ,gắn bó nhưng cũng hết sức tinh tế mà không phải ai cũng cảm nhận được.

             Sự tinh tế của tác giả còn là sự phất hiện ra làn sương mỏng bay là là mỗi sớm:

                                            "Sương chùng chình qua ngõ".

Từ láy chùng chình là một trong những sáng tạo của nhà thơ. Sương được tác giả nhân hoá như con người, nó đi đến từng căn nhà, nó vấn vương trong những ngõ xóm với dáng điệu dềnh dàng, đủng đỉnh, dường như nó cố ý chậm hơn để mọi người nhận ra nó, dáng điệu duyên dáng, bước chân nhẹ nhàng như chờ đợi hay nuối tiếc điều gì.Chính những điều mơ hồ ấy đã tạo nên nét đẹp riêng cho thu.

               Hữu Thỉnh đã đưa chúng ta vào thơ ông đầy ngỡ ngàng bằng từ "bỗng",nhưng khi khép lại khổ thơ ông lại dùng từ "hình như". Phải chăng tác giả vẫn chưa tin, chưa chắc chắn rằng mùa thu đang đến? Con người ta dẫu luôn chờ đợi một khoảnh khắc nhưng khi nó đến thì không dám tin và tưởng như nó chỉ hiện hữu trong trí tưởng tượng, chỉ là một giấc mơ kì diệu.

              Nhưng Hữu Thỉnh đã cụ thể các hình ảnh quen thuộc, những hiện tượng của tự nhiên để khẳng định với mọi người và với bản thân răng thu đang đế. Đã qua rồi những cơn mưa rào của mùa hạ, dòng chảy cũng không xối xả cuốn them mình dòng nước cuồn cuộn, mà thay vào đó giờ đây dòng chảy như chậm hơn, thong thả hơn, đủng đỉnh và chậm chạp. Hữu Thỉnh thật tinh ý đã đưa ra hai hình ảnh dấu hiệu thu trái ngược nhau, nhưng lại bổ sung, hoàn thiện cho nhau_hình nhr cáh chim vội vã,gấp gáp bay lên tìm miền ấm áp và hình ảnh "dềnh dàn",chậm chạp của dòng sông khi tín hiệu thu về. Chính sự đối lập này đã thể hiện nét đặc trưng của thu trong lúc giao mùa.

             Qua hình ảnh dòng sông và cánh chim, bằng biện pháp nhân hoá chúng trở nnên có hồn , ta thấy rằng tất cả mọi vật đều được cảm nhận từ cảm xúc con người. Mùa thu đã hiện ra bằng những hình ảnh thơ thật đặc biệt, hình ảnh "đán mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu" là một liên tưởng sáng tạo, thú vị ,táo bạo, bất ngờ.Sao lại có một đám mây như thế và giữa hai mùa lại càng không có sự phân định rạch ròi, sự giao mùa giữa hạ và thu chỉ bằng cảm nhận mà thôi. Chính khả năng liên tưởng và tưởng tượng của tác giả đã đem đến cho người đọc một hình ảnh thơ kì thú, qua đó ta cảm nhận được không gian và thời gianchuyển mùa thật quyến rũ và thi vị. Hình ảnh "vắt nửa mình sang thu" tạo cho người đọc cảm giác quyến luyến đầy nuối tiếc không phải của con người mà là của thiên nhiên, nửa muốn bước sang nhưng còn ngập ngừng chờ đợi. Đây quả là khoảnh khắc giao mùa tuyệt diệu!

             Thêm một lần nữa Hữu Thỉnh đã nhận ra:

                                  "Vẫn còn bao nhiêu nắng

                                    Đã vơi dần cơn mưa".

Ánh nắng đã chan hoà lên tất cả mọi vật, nhưng đó là những tia nắng dịu dịu, mát mẻ, những sắc nắng khiến cho trái tim nhiều người, nhất là trái tim thi sĩ đã bao lần suy cảm trước vẻ dẹp của thu để có những tác phẩm mang hồn thu trải khắp không gian. Và những cơn mưa không còn bất ngờ, vội vã như những cơn mưa của mùa hạ. Sang thu, những hiện tượng của thời tiết, nét đặc trưng riêng của quy luật tự nhiên cũng đổi thay, nhưng lẽ thường ta vẫn hay lãng quên và bỏ qua nó. Hữu Thỉnh đã gõ cửa trái tim mỗi người, đánh thức mọi người cùng cảm nhận những nét đẹp quyến rũ của khoảnh khắc giao mùa, khoảnh khắc đẹp mà không phải lúc nào ta cũng cảm nhận được.

             Hai câu thơ: "Sấm cũng bớt bất ngờ

                                    Trên hàng cây đứng tuổi"

đã kết lại bài thơ và nó không chỉ đơn giản là những từ ngữ tả cảnh thu mà trong nó còn chấp chứa những suy ngẫm, chiêm nghiệm của tác giả về con người, cuộc đời, đây chính là chất triết lí được nhà thơ "vắt" ra từ những trải nghiệm cuộ sống. Hình ảnh "hàng cây đứng tuổi" chính là hình ảnh biểu tượng về con người. về vẻ đẹp cuộc sống.

             Chủ đề thu là một đề bài có nhiều cách giải, tất cả các nhà thơ đều có cách giải riêng cho mình, mỗi một nét thơ trong từng trái tim mỗi thi sĩ tạo nên một mùa thu căng đầy sự sống. "Sang thu" mang đến cho ta cảm nhận về thu bằng những sự vật xung quanh, bằng những dấu hiệu của tự nhiên mà ngày thường chúng ta thường lãng quên. Hữu Thỉnh đã dùng "Sang thu" để đánh thức thi vị thu trong mỗi chúng ta để nét thu ấy mãi hoà quyện vào cuộc sống, để mọi người cùng được tận hưởng thứ hương vị, phút thơ mộng, bâng khuâng của tự nhiên ban tặng.

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 10:23am

HẸN ĐỒNG

                                                                               (Lê Văn Lộc)

Nước rút lâu rồi

Cánh đồng làng tôi

Còn mênh mông cát

 

Nhẽ ra bây giờ vào mùa giáp hạt

Nhẽ ra bây giờ bát ngát ngô khoai

 

Gió vẫn thổi thầm khoảng trống ban mai

Lao xao ai vùi trong cát

Lũ trẻ chăn trâu còn ngơ ngác

Khúc nhạc đồng giao

“Bao giờ cây lúa còn bông

Ngọc cỏ ngoài đồng....”

Nghẹn thắt bỗng dưng

 

Cát vốn bao đời gắn bó với triền sông

Sao nỡ quay lưng với đồng với ruộng

Bao năm bao đời chiêm mùa bận rộn

Cây lúa đâu còn chín đợi mười trông

 

Thêm công

Thêm việc nhà nông

Nghiêng đồng gạt cát

Hẹn ngày giáp hat

Bát ngát thăm đồng

Câu hát thơm nồng dành để sang năm.

 

                   (Lê Văn Lộc - Như chưa hề qua thu – Nxb Hội nhà văn,2010)

 

 VỀ BÀI THƠ HẸN ĐỒNG
 CỦA LÊ VĂN LỘC   

(Kính tặng Nhà giáo ưu tú, nhà thơ Lê Văn Lộc, nguyên Hiệu trưởng trường THPT Lý Thường Kiệt)

 

Rõ trần mà ngỡ lên tiên

Muối tiêu tóc nhuộm, chẳng phiền gió mây

Lá vàng rũ hết cho cây

Chẳng phiền thổn thức hao gầy nữa đâu

Thi gan thách cả thần sầu

Bao giờ chú Tễu cúi đầu lệ tan

 Đọc những câu thơ này, những ai chưa từng gặp nhà giáo ưu tú, nhà thơ Lê Văn Lộc hẳn cũng nhận ra chân dung con người, chân dung cuộc sống và cả khuôn mặt thơ của thầy. Nhưng trong những lời thơ ấy, có lẽ còn ẩn chứa tâm huyết bao năm cho nghề làm thầy, cơ duyên đến với thơ có lẽ cũng bởi thầy đã từng có biết bao trăn trở trong đời. Và làm thầy giáo, nhất là thầy giáo dạy văn thường nhạy cảm với đời sống hơn ai hết. Sau một thời gian thầy nghỉ hưu, khi gặp lại, thầy vẫn nói đùa: “Tưởng là về hưu thì nhàn hơn hóa ra lại vất vả hơn trước”. Thầy nói vậy vì thực tế điều đặc biệt ở thầy là tuổi tác càng tăng thì sức sáng tạo càng dồi dào, vườn thơ ngày càng đầy màu sắc. Mà cái duyên với nghệ thuật đã đến thì khó lòng dứt ra cho đành!

Khi nhận được tập thơ “Như chưa hề qua thu”, đọc lời tựa của nhà thơ Nguyễn Đình Chiến, tôi thấy mình hiểu thầy mình ít quá. Tôi có cảm giác hơi xấu hổ khi thầy gọi tôi là “bạn thơ” và nhất là khi có ý định viết về một bài thơ của thầy. Nhưng khi đọc “Hẹn đồng” thì chính cảm giác ấy xui tôi viết. Đơn giản là bởi tôi đã rất muốn viết 1 bài thơ như vậy về cơn lũ số 4 đã từng qua quê tôi, và bao cơn lũ vừa qua nơi dải đất miền trung nhỏ bé. Nhưng không viết được! Hẹn đồng là cả niềm đau đáu xót xa nhưng lại lấp lánh tia sáng của hi vọng ngọt ngào. Ở đây, vẫn là giọng điệu dân ca đầy thương mến nhưng không gửi trong thể lục bát vốn là thể thơ thành công trong sáng tác của thầy mà trong thể tự do của dòng cảm xúc tràn lên mặt giấy.

Mở đầu bài thơ, tác giả trải ra trước mắt người đọc một không gian tràn ngập cát. Mênh mông là cát. Nhưng cát mang theo nó một quá khứ: “Nước rút lâu rồi”. Cách nói về lụt lội như có nét của bút pháp ấn tượng, đầy sáng tạo cũng đầy niềm đau. Bởi lần ngược từng câu trở về đầu bài thơ mới thấy đó là cái cảnh đau lòng của “cánh đồng làng tôi”!

Vẫn lấy cát làm chủ thể, sau cơn lũ, nhìn thấy cát, tác giả còn nhìn sâu vào lòng cát để thấy quá khứ mà “nhẽ ra” đầy hứa hẹn :

           Nhẽ ra bây giờ vào mùa giáp hạt

          Nhẽ ra bây giờ bát ngát ngô khoai

Thủ pháp điệp cấu trúc khiến hai câu thơ như một lời ai điếu khóc thương cho một mùa màng bội thu bây giờ chỉ còn là một “khoảng trống ban mai/ Lao xao ai vùi trong cát” . Gió hình như cũng cứ âm thầm len lỏi đi tìm lại những náo nức xốn xang ngày ấy dù chỉ là thổi vào khoảng trống ban mai... Câu thơ là nỗi đau âm thầm của gió hay nỗi đau của con người khi trống vắng sắc màu của mùa giáp hạt. Dù sao, vẫn tìm kiếm có nghĩa là vẫn còn có niềm tin!

Từ trong gió, câu đồng dao của trẻ chăn trâu cất lên như một quá khứ trong veo và giàu có trở về:

Bao giờ cây lúa còn bông

Ngọn cỏ ngoài đồng...”

gì đó khiến khúc nhạc đồng dao vụt tắt nghẹn ngào. Là cát! Không! Là nước mắt nữa....

Đã có lần Lê Văn Lộc viết:

Đâu rồi thao thức đồng xa

Đâu rồi rưng rức hạt na đầu mùa

Đâu rồi cổ yếm đeo bùa

Đâu rồi nhấm nhẳn ập ùa sau lưng

Một con người luôn nặng lòng với những vẻ đẹp dân gian, với làng quê yên bình cũng thật dễ hiểu nỗi đau khi những thứ đẹp đẽ ấy gói tròn trong lòng cát!

Từ đây, tác giả trở lại chiêm nghiệm về cuộc sống đời thường của cát, thấy được cái hẹn hò như đôi lứa yêu đương của cát và đồng ruộng:

Cát vốn bao đời gắn bó với triền sông

...

Bao năm bao đời chiêm mùa bận rộn

Dùng nhiều những từ chỉ thời gian: bao đời, bao năm bao đời, chỉ vòng tuần hoàn của mùa màng: chiêm-  mùa bên cạnh từ “gắn bó” tác giả như khẳng định mối quan hệ tưởng như “vốn” không thể thay đổi của cát, của triền sông với đồng với ruộng.

Thế mà cát nỡ phụ tình:

Sao nỡ quay lưng với đồng với ruộng

Câu thơ như lời trách của cô gái với chàng trai sau bao “chín đợi mười trông” đầy nhớ nhung khắc khoải cuối cùng lại nhận được khoảng trống đau lòng!

Khổ thơ cuối cùng thật đặc sắc:

Thêm công

Thêm việc nhà nông

Nghiêng đồng gạt cát

Hẹn ngày giáp hạt

Bát ngát thăm đồng

Câu hát thơm nồng dành để sang năm.

 

Tất cả các hình ảnh trên trở lại, trừ cát! Sự trở lại đầy niềm vui. Có lẽ câu thơ hay nhất và sáng tạo nhất là câu: “Nghiêng đồng gạt cát”. Đúng là nhà nông thêm công thêm việc, ngày xưa các cụ ta thấy: “Cày đồng đang buổi ban trưa/ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày...” đã là vất vả cực nhọc lắm. Nhưng ngày hôm nay, người nông dân còn làm một việc sánh như Nữ Oa đội đá vá trời: Nghiêng đồng-  gạt cát để màu xanh trỗi dậy. Hi vọng được khơi ra từ đó, hi vọng cũng bùng cháy lên từ đó. Và cái hẹn hò ngàn năm kia sẽ  lại cất lên trong câu hát đồng dao đầy hương vị của lúa mới : câu hát thơm nồng dành để sang năm. Câu hát ấy cũng tựa một lời ước hẹn:  

“Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”

Sang năm, chắc chắn mùa bội thu sẽ trở lại với con người!

Thơ Lê Văn Lộc là vậy, dù có nhiều xót xa trăn trở vẫn luôn hướng tới sự trỗi dậy của một sự sống tươi mới, khỏe khoắn làm điểm tựa cho con người. Thơ thầy là tiếng nói chan chứa cảm xúc của người thầy dạy văn đầy nhân văn:

“Nên đại ngàn

                  Cây biết mình đơn lẻ

Nên hiền hòa

                     biển biết lúc phong ba”.

 

                                                                                                                                                                           Tháng 12. 2010

Vũ Thị Mỹ Oanh
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 7:44pm
Hư vô
 
Quang Huy
 
Cái gì cũng có một thời
Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban
Cái gì rồi cũng tiêu tan
Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ
Cái gì rồi cũng hư vô
Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi
Cái gì rồi cũng rụng rơi
Quả trên vườn Cấm, hoa nơi Địa - đàng
Chỉ còn mãi với thời gian
Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ
Gắng ngồi viết cạn bài thơ
Bài thơ liệu có hư vô như mình?
 
"Hư vô" là bài thơ đẹp một cách trang nhã, ý tứ thâm trầm sâu sắc, thể hiện ở tác giả sự kinh lịch việc đời và cả kinh nghiệm việc… thơ: "Cái gì cũng có một thời/ Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban/ Cái gì rồi cũng tiêu tan/ Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ/ Cái gì rồi cũng hư vô/ Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi/ Cái gì rồi cũng rụng rơi/ Quả trên vườn Cấm, hoa nơi Địa - đàng/ Chỉ còn mãi với thời gian/ Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ…". Thông điệp của bài thơ khá rõ ràng: Mọi cái thảy rồi cũng qua, chẳng có gì là vĩnh cửu, từ quyền lực tới đức tin của con người. Chỉ tình yêu là đáng tôn thờ, là còn mãi. Vậy mà con người vẫn luôn làm khổ nhau. Máu vẫn không ngừng đổ và nỗi oan khuất thì muôn đời vẫn chất chồng xương trắng… Không chỉ sâu sắc trong ngẫm ngợi sự thế, Quang Huy còn chặt chẽ trong chọn lựa chi tiết, hình ảnh. Chỉ tiếc là hai câu kết chưa thực tương xứng với vấn đề mà tác giả đặt ra. Gì chứ "Gắng ngồi viết cạn bài thơ/ Bài thơ liệu có hư vô như mình?", kết thế là hơi gượng. Một khi nội dung chính của bài thơ nói tới những cái lớn lao như thời thế, kiếp người, việc đem chuyện… làm thơ vào đây đã ít nhiều làm giảm cấp độ cảm xúc của bài thơ.
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 10 Nov 2011 lúc 7:49pm
NỖI NIỀM THỊ NỞ
 
QUANG HUY

Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi, nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình 

Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền 

Anh không nhà cửa, bạc tiền
Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
Cái tên thơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao 

Quần anh ống thấp ống cao
Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Khen cho con Tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao! 

Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa
Người ta… mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh 

Thôi rồi, đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.

 

Nhiều bạn đọc đã biết, Chí Phèo và Thị Nở là hai nhân vật chính trong truyện "Chí Phèo" của Nam Cao. Đây là hai nhân vật nổi đình nổi đám và có sức điển hình hóa thuộc loại bậc nhất trong văn chương Việt Nam. Sau Nam Cao, đã có một số tác giả tiếp tục cho hai nhân vật này dung dăng dung dẻ trên trang sách của mình. Về văn xuôi, tôi nhớ có tiểu thuyết "Chí Phèo mất tích" của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu và tiểu thuyết "Hậu Chí Phèo" của nhà văn Phạm Thành. Ở mảng thơ, trước Quang Huy, Vương Trọng và một số nhà thơ khác cũng chọn đưa Chí Phèo, Thị Nở vào tác phẩm của mình. Song đa phần các tác giả này dùng thể thơ ngũ ngôn, là thể thơ gần với lời nói thường ngày để dựng chân dung nhân vật sao cho gần với những gì mà bạn đọc cảm nhận được từ trang sách của Nam Cao. Ở đây, Quang Huy đã liều sử dụng tới thể thơ… lục bát, một việc mà nếu không khéo sẽ gây… phản cảm với bạn đọc, tương tự trường hợp ta cho Thị Nở, Chí Phèo hát… quan họ vậy.

Trước đây, hễ nói tới Thị Nở là người ta gần như chỉ tập trung nhấn mạnh tới nét xấu ngoại hình, tới bộ mặt ma chê quỷ hờn của thị. Quang Huy không đề cập tới khía cạnh này, nói đúng hơn là anh… lờ đi. Thay vào đó, anh khai thác cái tâm tính "dở hơi" - mà thật ra chưa hẳn đã dở hơi - của thị. Và chính cái "dở hơi" mà đáng thương, đáng quý ấy của Thị Nở sẽ chi phối toàn bộ cái tứ của bài thơ.

Bài thơ mở đầu bằng hai câu có phần bông đùa. Nó có thể là lời Thị Nở mà cũng có thể là lời tác giả "bênh vực" cho thị. Song đến câu thơ tiếp theo thì đích thị là câu của Thị Nở. Có cảm tưởng như thị đang xốc váy xáp vô những người có cách nhìn nhận khinh thường thị: "Dở hơi, nào dở hơi gì". Kể ra, nếu cứ để thị tiếp tục cái mạch đành hanh, "áp đảo dư luận" kiểu này thì rồi bài thơ cũng không biết sẽ rẽ sang ngả nào. May mà tác giả đã kịp chen vào can thiệp bằng một câu thơ gắn nụ cười hóm hỉnh: "Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình". Chữ "cũng tình" mang hơi hướng ngôn ngữ… vỉa hè đưa vào đây rất đắc địa. Nó thể hiện một cái nhìn "âu yếm", hơi chút… lẳng lơ với Thị Nở. Âu cũng là một cách xoa dịu thị.

Khổ thơ tiếp theo, tác giả làm lời Thị Nở nói về Chí Phèo. Thật ra, trong truyện của Nam Cao, Chí Phèo chưa bao giờ một tay cầm be (rượu), một tay cầm mảnh sành cả. Hắn chỉ ngất ngưởng với chai rượu và khi cần thì đập chai, lấy mảnh vỡ rạch mặt. Nhưng thôi, đấy là lời Thị Nở, hẳn "anh Chí" cũng chẳng chấp. Một người có cái nhìn về hắn tốt đến thế cơ mà: "Chỉ mình em biết anh say rất hiền" (xin mở ngoặc: Đây không phải Quang Huy "bịa" thêm đâu. Nam Cao chẳng có lúc đã để cho Thị Nở nghĩ về Chí Phèo: "Sao có lúc nó hiền như đất?").

Đến khổ thơ thứ ba, vẫn là lời Thị Nở (về Chí Phèo), song cách nói hốt nhiên trở nên nghiêm trang lạ: "Anh không nhà cửa, bạc tiền/ Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo". Thú thật, đọc đến đây tôi hơi… lo. Làm sao lại để Thị Nở phát ngôn như thể các nhà làm sách giáo khoa thế? Không chừng sự thuyết giáo này lại phá hỏng bài thơ vốn dĩ có giọng điệu hài hước của Quang Huy. Vả chăng, có một thời, các nhà phê bình quá nặng về vấn đề "tính giai cấp" nên đã có những nhận định đi hơi xa so với những gì Nam Cao thể hiện. Kiểu như: "Xưa kia, Chí Phèo đã từng ước mơ một cuộc sống hạnh phúc, giản dị trong lao động. Tuy còn trẻ trung, anh cũng phân biệt được tình yêu chân chính và thú dâm dục xấu xa… Bản chất trong trắng, lương thiện của người dân trong Chí Phèo đã bị bọn cường hào và nhà tù thực dân ra sức bóp chết" (như nhận xét của một vị giáo sư khả kính). Tôi lo Quang Huy cũng đi theo hướng ấy, nhất là khi anh lại gá những lời nghiêm túc ấy vào miệng một người như… Thị Nở. Rất may, câu thơ tiếp theo đã hóa giải tất cả, bởi nó lại trở lại giọng bông đùa ban đầu: "Cái tên thơ mộng Chí Phèo/ Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao".

Nhưng đùa là đùa vậy thôi, hình ảnh Chí Phèo, dẫu có xốc xếch, xộc xệch cũng vẫn đáng yêu, nhất là trong con mắt Thị Nở: "Quần anh ống thấp ống cao/ Làm em hồn vía nao nao đêm ngày". Đến đây, tác giả buông một câu thật đắc địa (nó gợi lại cái tên truyện "Đôi lứa xứng đôi" mà nhà văn Lê Văn Trương từng đặt cho tác phẩm của Nam Cao khi truyện "Chí Phèo" lần đầu được in): "Khen cho con Tạo khéo tay/ Nồi này thì úp vung này chứ sao".

Từ đoạn tả cảnh vườn chuối đêm trăng trong truyện ngắn của Nam Cao, Quang Huy đã tạo nên một không gian rất thần diệu, vừa gợi không khí lãng mạn vừa nói lên cái ngất ngây của cặp "tình nhân" lần đầu đến với nhau: "Đêm nay trời ở rất cao/ Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa", để rồi qua đó, anh buông hai câu  tưởng không thể đáng yêu và hợp ngữ cảnh hơn: "Người ta… mặc kệ người ta/ Chỉ em rất thật đàn bà với anh".

Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đặng Anh Đào - trong bài viết "Khả năng tái sinh của Chí Phèo" đã cho rằng, truyện "Chí Phèo" của Nam Cao là một tác phẩm "tắm trong chất thơ". Và vì những tác phẩm viết lại Chí Phèo ngày nay đã đánh mất cái "chất thơ" ấy, nên "những Chí Phèo ngày nay sẽ tuyệt tự" (nghĩa là nó xuất hiện đấy mà không phải… Chí Phèo nữa). Tôi cho rằng nhận định này tuy có lý, song chí ít nó cũng không đúng với một trường hợp. Bởi trong bài thơ của mình, Quang Huy đã không hề xem nhẹ cái "chất thơ" ấy.

28/2/2011

PHẠM KHẢI (VanngheCANDonline)
IP IP Logged
Hangnga
Guest
Guest
Ảnh đại diện

Gia nhập: 30 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 83
Trích dẫn Hangnga Replybullet Ngày gửi: 11 Nov 2011 lúc 9:08pm

         THÁNH GIÓNG

              Giặc tan. Phi ngựa lên trời

              Đình cong còn chiếc lá phơi cuối chiều

              Đất hằn dấu ngựa mòn rêu

              Bụi tre bật gốc thả xiêu đáy hồ

 

              Công danh coi tựa trò đùa

              Gió hoang thổi lạnh ngai vua đến giờ.

 
 
                          QUANG HUY
 
 
Bài thơ sáu câu không nhằm kể chuyện huyền thoại về Thánh Gióng mà đề cập một ý tưởng triết luận xã hội sâu sắc: Quan hệ giữa công trạng, lợi danh và quyền lực.

           Mở đầu bài thơ là một câu thơ cắt đôi gồm hai thi tứ: Giặc tan và phi ngựa lên trời.  Lô-gíc của vấn đề là người có công cũng là người có danh nên được gọi chung là công danh, tức là người có công trạng, thì tất yếu được nắm quyền lực, nhưng Thánh Gióng đã làm trái cái lô-gíc ấy. Ngài từ bỏ quyền lực để “phi ngựa lên trời”, dửng dưng, không đoái hoài  đến danh và quyền được hưởng! Những thứ còn lại thì sao? Mái đình khả dĩ tượng trưng cho chút tri ân chỉ còn là chiếc lá rơi cuối chiều; dấu chân ngựa một thời xông pha chiến trận, nay chỉ là dấu vết rêu phong; bụi tre Đằng Ngà từng là thứ vũ khí làm tơi tả kẻ thù, thì nay nằm xiêu vẹo nơi đáy hồ tĩnh lặng...

     Hai câu kết bày tỏ thái độ triệt để của nhà thơ về công trạng, danh vọng và quyền lực:

              Công danh coi tựa trò đùa

              Gió hoang thổi lạnh ngai vua đến giờ:

     Thánh Gióng không coi công lao là gì và  cũng xem thường danh vọng và quyền lực – tất cả chỉ  “tựa trò đùa” mà thôi, vì thế mà cái ngai vua tượng trưng cho quyền lực cũng bị phơi ngoài gió hoang qua chuỗi dài năm tháng!

     Xưa nay, ở nước ta, nhiều văn quan-võ tướng cũng ít nhiều theo gương Thánh  Gióng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ...Ngày nay, cũng không phải không có người như thế!

     Với “Thánh Gióng”, nhà thơ triết luận về một phẩm chất cao đẹp của con người là tự giác  cống hiến cho đời, chứ không đòi hỏi đời phải trả công cho mình; hơn nữa, không vì có chút công lao mà đòi hỏi danh vọng, quyền lực! Nghĩ rằng, bài thơ không chỉ là tuyên ngôn về lẽ sống  phẩm giá muôn đời, mà còn rất có ý nghĩa thời sự, khi mà tình trạng ham hố, tranh giành, chạy chọt chức quyền đang là điều đáng lên án hiện nay.

                                             Mai Thanh

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 12 Nov 2011 lúc 4:21am

Mình bảo với ta mình hãy còn son

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò

Con mình những đất cùng tro

Ta đi gánh nước rửa cho con mình

(Khuyết danh)

 

Bài ca dao trần trụi làm theo lối phú (nói thẳng), tâm tình phú. Rất nhiều khi, tôi cứ ngờ ngợ là dường như mình bị đánh mất một cái gì sau mỗi lần đọc xong bài ca dao. Có cái gì đó ẩn đằng sau lối nói phú ấy. Tôi đọc lại, đọc lại, đọc lại, và bất chợt khám phá ra rằng bốn câu của bài chứa bốn điều kỳ lạ.

Điều kỳ lạ thứ nhất: "mình bảo với ta mình hãy còn son".

Nếu chàng và nàng ở cùng làng, tất chàng phải biết nàng "còn son" hay "hết son". Nếu cái sự "hết son" kín quá, khó thể biết thì chàng cũng phải thấy chồng con người ta sờ sờ ra đó chớ. Như vậy, chàng và nàng phải ở khác làng. Hai làng cũng không thể gần nhau. Chắc hai làng phải xa nhau. Không xa quá vì hai người đã có dịp gặp nhau. Chỉ vừa đủ xa để chàng không rõ chỗ ở cùng gia cảnh của nàng.

Điều kỳ lạ thứ hai: "ta đi qua ngõ thấy con mình bò".

Thời xưa, khi có chồng, người con gái phải về nhà chồng. Gia đình chồng có thể là đại gia đình bao gồm nhiều người nhiều thế hệ trong nhà chồng. Chí ít thì cũng là tiểu gia đình, gồm chồng, nàng và con. Vậy mà, nàng đã dối chàng rằng nàng "còn son", lại còn dám cho chàng biết chỗ ở của nàng để chàng tìm tới ! Và đi qua ngõ thấy đứa nhỏ đang bò là chàng lại biết ngay rằng con của nàng chớ không của ai khác trong nhà đó !

Điều kỳ lạ thứ ba: "con mình những đất cùng tro".

Phụ nữ dù có bị gả ép, không thương chồng và dù có không thương con cách mấy đi nữa thì cũng không ai lại bỏ con bò một mình lê la với "đất cùng tro" ở ngoài ngõ chẳng có ai trông nom. Nàng ở đâu lúc chàng đi ngang qua cửa ngõ ? Tại sao nhà vắng hoe, chỉ có mỗi mình cu tí bò ngoài ngõ, và chàng đi ngang qua thôi lại biết ngay là con của nàng ?

Điều kỳ lạ thứ tư: "ta đi gánh nước rửa cho con mình".

Tại sao chàng tỉnh bơ đi gánh nước rửa cho con nàng. Không sợ chồng nàng đang ở trong nhà hoặc đi đâu về thình lình hay sao ? Không kể tới ai khác, nếu có, ở trong nhà nàng hay sao ?

Bốn điều kỳ lạ đó làm tôi suy đi nghĩ lại và xét lại cái gọi là "bi kịch tình yêu trong thời phong kiến v.v." mà bài ca dao bấy lâu nay vẫn gánh chịu. Thật ra, bi kịch tình yêu thì thời nào mà chẳng có; hài kịch tình yêu còn có nữa là.

Có điều gì đó rất kín đáo ở trong bài ca dao ấy. Thử điểm lại nội dung: chàng nghe nàng dối là hãy còn son; chàng tìm tới nhà thì thấy con nàng đang bò ngoài ngõ; con nàng không có ai coi sóc nên dơ dáy; chàng lẳng lặng đi gánh nước rửa cho con nàng. Tại sao không có hình bóng ai nữa trong bài ca dao ngoài chàng đi ngang qua ngõ và đứa nhỏ bò một mình ? Nàng ở đâu và làm gì lúc chàng đi ngang qua cửa ngõ đó ?

Có phải là khi "nàng bảo với ta nàng hãy còn son" là nàng có ý lấp lửng với riêng chàng rằng nàng không có chồng ? Còn son theo ý nàng hẳn là còn chưa có chồng đó mà thôi. Khi chàng tìm tới và đi ngang qua ngõ thì có lẽ lúc đó nàng đang ngồi với con. Nàng dường như ngượng quá nép vào cửa ngõ để tránh chàng, thành thử đứa nhỏ bò một mình trên đất cát vào lúc đó. Chàng hỏi nàng thì nàng nhỏ nhẹ rằng đó là con nàng. Chắc nàng phải vừa núp trong cửa ngõ vừa thỏ thẻ thêm nhiều nữa, cho nên chàng biết là nàng có con nhưng không chồng và sống một mình với con. Do đó mới có chuyện chàng tỉnh bơ lẳng lặng đi gánh nước rửa cho con nàng mà không kể tới ai khác nữa trong nhà. Nàng là người mẹ độc thân. Người mẹ trẻ của thời xưa ấy phải lấp lửng gần như dối trá chuyện 'còn son' của nàng với chàng trai lạ. Thời ấy, không chồng mà có con là chuyện xấu hổ ghê lắm, không có cách nào nói làm sao cho đẹp mặt được. Nàng muốn chàng biết là nàng chưa có chồng, thành ra phải nói 'còn son' và dấu đi chuyện có con. Chàng tìm tới. Chàng hiểu ra. Chàng lẳng lặng 'đi gánh nước rửa cho con nàng', tỏ ý cảm thông. Biết, hiểu là một chuyện. Nhưng từ hiểu biết đi đến chỗ thông cảm còn xa cách lắm. Bởi vì có thông cảm hay cảm thông thì người ta mới chấp nhận, người ta mới dấn thân, người ta mới chia sẻ. Bài ca dao để ngỏ về chuyện chàng ta có chấp nhận, dấn thân, và chia sẻ hay không. Chỉ chấm dứt ở chỗ chàng cảm thông vì chàng săn sóc cho con nàng. Để lơ lửng ở chỗ cái tâm thông cảm đó là cũng để cho người đọc tự kết luận nhiều rồi.

Đọc thấy tấm lòng bao dung và nhân ái của chàng trai Việt trong bài ca dao thời xa xưa đó chúng ta chỉ biết tỏ dấu kính phục.

 

IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 12 Nov 2011 lúc 5:15am

Suy ngÉm vÒ cuéc ®êi nguyÔn du qua “bµi ®éc tiÓu thanh kÝ”

 

 

Trong gia tài thi ca phong phú của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, bộ phận thơ chữ Hán có vai trò khá đặc biệt. Đó là những bài mà Nguyễn Du có thể trực tiếp bộc lộ những tâm tư, tình cảm; bày tỏ những day dứt trăn trở của mình. Trong bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" những tâm sự ấy của Nguyễn Du lại có được sự tương đồng, gần gũi với cuộc đời, số phận tài sắc mà bất hạnh của Tiểu Thanh. Bởi vậy bài thơ là sự kết hợp hài hoà giữa nỗi thương người và sự thương mình, giữa sự xót thương cho kiếp người mệnh bạc và lòng trân trọng ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của con người. Đó cũng là một phương diện quan trọng, sâu sắc trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du.
Trong thơ văn trung đại, không phải ít hình ảnh những người phụ nữ "tài hoa bạc mệnh", là nạn nhân của cái quy luật "hồng nhan đa truân". Người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều đa tài là thế:


Câu cẩm tú đàn anh họ Lý
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương"
và: "Cờ tiên, rượu thánh ai đang
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm

nhưng rồi rốt cuộc cũng chỉ bị nhốt nơi cung cấm mà nuối tiếc quá khứ, chán nản hiện tại và lo sợ cho tương lai. Tuy nhiên, phải nói rằng chỉ đến Nguyễn Du mới xuất hiện cả một lớp người mang trọn cái số kiếp bạc mệnh ấy: Kiều, Đạm Tiên, người ca nữ đất Long Thành.... Số phận của họ nằm trong mạch cảm hứng chung của Nguyễn Du và thể hiện tấm lòng nhân đạo bao la ở ông. Bởi thế dễ hiểu vì sao cuộc đời Tiểu Thanh - một người con gái xa về thời gian, cách về không gian lại nhận được sự cảm thông sâu sắc như thế từ nhà thơ. Tiểu Thanh cũng đầy đủ tài hoa, nhan sắc, nhất là tài hoa văn chương, thơ phú. Cuộc đời cuối cùng cũng vùi chôn trong nấm mồ khi đang độ xuân xanh tuổi trẻ. Phần tinh hoa để lại cho đời cũng tiêu tan chỉ vì cái lòng ghen tuông ích kỷ, tàn ác của người vợ cả. Sự biến đổi đau thương ấy của cuộc đời nàng như được hiện hữu trong cảnh vật :


Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn

Trong nguyên văn, Nguyễn Du dùng chữ "tận" như muốn xoá sạch mọi dấu vết của cảnh đẹp Tây Hồ, tô đậm thêm ấn tượng hoang vắng, tàn tạ của gò hoang. Sự biến đổi tang thương của cảnh gợi mối thương tâm đến người. Cảnh đẹp Tây Hồ giờ chỉ còn gò hoang cũng như tất cả những gì còn lại của Tiểu Thanh tài sắc chỉ là một mảnh giấy tàn, là phần dư cảo. Nhưng chỉ từng ấy thôi cũng đủ để nhà thơ một mình thương cảm, xót xa mà khóc cho đời hồng nhan. Tiểu Thanh trong đời thực 300 năm trước cũng như nàng Kiều, người ca nữ đất Long Thành đều phải hứng chịu:


Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu
(Truyện Kiều)

Tài sắc của những con người ấy thì được ngợi ca là những giá trị tinh thần cao đẹp nhưng bản thân họ thì lại bị đày đoạ, chà đạp. Nguyễn Du với tấm lòng nhân đạo bao la sâu sắc của mình đã thể hiện một sự đồng cảm, xót thương hết sức chân thành với số phận Tiểu Thanh. Đây là một nét mới mẻ trong Chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du. Đối tượng mà Nguyễn Du thương cảm, quan tâm không chỉ là "thập loại chúng sinh" đói nghèo đau khổ. Rất nhiều tình cảm của ông hướng về những kẻ tài hoa.

Chính số kiếp của Tiểu Thanh tạo nên cái mối hận ngàn năm để Nguyễn Du nhắc đến trong hai câu luận:


Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang

Mối hận ấy hỏi trời không thấu, hỏi đất không hay, chỉ có những kẻ cùng hội cùng thuyền là có thể cùng nhau than thở. Nguyễn Du tự nhận mình cũng mắc cái nỗi oan kỳ lạ vì nết phong nhã tài hoa. Nói cách khác sự đồng cảm lớn lao của Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh có được bởi Nguyễn Du là người đồng cảnh. Lòng thương người khởi phát từ sự thương mình nên càng chân thực và sâu sắc. Đúng như Mộng Liên Đường chủ nhân Nguyễn Đăng Tuyến từng nhận xét rằng: "Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một, người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là cái mối thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy". Quả thực cái sự vô tình, trớ trêu của tạo hoá với những kẻ tài năng đã trở thành mối hận của muôn đời và khắp chốn.

Như vậy, tình thương của Nguyễn Du đối với Tiêủ Thanh là tình cảm của những người tuy xa cách về hoàn cảnh nhưng lại tương đồng trong cảnh ngộ. Từ nỗi thương mình mà xót xa cho người. Và từ sự thương cảm cho người lại tiếp tục gợi lên bao băn khoăn, day dứt cho kiếp mình. Bởi một lẽ, Tiểu Thanh rốt cuộc còn có được một Nguyễn Du tri âm tri kỷ rỏ lệ xót xa. ít hay nhiều linh hồn văn chương, nhan sắc, tài hoa "hữu thần" ấy còn có được sự an ủi. Nhưng còn Nguyễn Du, cũng là kẻ "tài tử đa cùng" lắm sự lận đận gian nan thì 300 năm sau biết còn ai trong thiên hạ tưởng nhớ, tiếc thương. Đó là cái tâm sự băn khoăn không thể có lời giải đáp mà chỉ nhờ qua trường hợp Tiểu Thanh, Nguyễn Du mới có cơ hội suy ngẫm và gửi gắm.

Bài thơ có kết cấu đặc biệt: hai câu đầu là cảnh vật, sự kiện, còn 6 câu sau nặng một khối tình. Khối tình ấy xét riêng ra thì là sự xót xa cho số kiếp Tiểu Thanh và những băn khoăn về cuộc đời chính tác giả. Nhưng ở tầng sâu khái quát nó là nỗi niềm của cả một lớp kẻ sĩ tài hoa, tài tử mà nhân ái bao la.
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 12 Nov 2011 lúc 7:11am
Hoá đá

Giữa chiều ngồi lặng thẩn thơ
Tim buồn hoá đá, hững hờ tháng năm
Thì thôi, kệ ánh trăng rằm
Thì thôi, một cuộc chơi lầm người chơi
 
Thì thôi, hoá đá sao trời
Thì thôi, hoá đá nụ cười, niềm đau
Thì thôi, hoá đá mưa ngâu
Thì thôi, thanh thản một câu tạ từ


Vũ Thị Minh Nguyệt

        Tác giả Vũ Thị Minh Nguyệt có khá nhiều bài thơ hay viết về tình yêu. Chị viết về tình yêu với nhiều cung bậc khác nhau. Bài thơ “Hoá Đá”, giống như một  cung trầm đầy đau khổ, dằn vặt, day dứt về một mối tình.

         Tình yêu - ngọt ngào, cay đắng, hạnh phúc và  khổ đau. Đích đến của tình yêu là hạnh phúc. Ai cũng mong tình yêu thăng hoa ngọt ngào, ngập tràn hạnh phúc. Song, điều đó không dễ dàng, bởi không ít người đã phải đi trên con đường tình yêu, ngổn ngang đỗ vỡ, và tận cùng nỗi đau.

           Khi sự đau khổ đã lên đến tột đỉnh, mọi cảm xúc dường như chết lặng. Hình tượng “hoá đá” trong bài thơ, là cách diễn tả  thật  hay, gây xúc động  ngay từ những câu thơ đầu:
“Giữa chiều ngồi lặng thẩn ngơ
Tim buồn hoá đá, hững hờ tháng năm”

          Niềm đau đóng băng, trái tim hoá đá, không còn nữa khái niệm về không gian, về thời gian. Những lúc như thế, người ta dường như muốn buông xuôi, phó mặc cho số phận, chấp nhận tình yêu lỡ làng, như là một nhầm lẫn cay đắng ở đời:
“Thì thôi, kệ ánh trăng rằm
Thì thôi, một cuộc chơi lầm người chơi”

          Tác giả dùng từ “thì thôi..” lặp lại nhiều lần, càng làm nỗi đau thêm khắc khoải. “Thì thôi…”, như là cam chịu,  như là an ủi…cho vơi nhẹ cõi lòng. Nhưng, mỗi lần nhủ lòng, niềm đau lại như nhân lên. Sự mất mát quá lớn của tình yêu, hệ lụy đau khổ của sự đổ vỡ, chia ly…không chỉ “hoá đá” con người, mà dường như “hoá đá” cả vũ trụ:

“Thì thôi, hoá đá sao trời
Thì thôi, hoá đá nụ cười, niềm đau”

         Đến đây, tôi bỗng liên tưởng  đến hai câu thơ của Đỗ Trọng Khơi ,  như là lời an ủi , đành lòng  cho một mối tình tan vỡ , để rồi chấp nhận “gói ngày làm đêm”, như là chấp nhận một sự thật vô lý:

“Khi tình quá một gang tay
Thì nghiêng vạt áo gói ngày làm đêm”
(Đỗ Trọng Khơi)

        Trong thơ Minh Nguyệt, nỗi đau của sự đổ vỡ được đẩy lên đỉnh điểm , để rồi như thanh thản khép lại lòng mình:

“Thì thôi, hoá đá mưa ngâu
Thì thôi, thanh thản một câu tạ từ”

         Vâng, “thì thôi” vậy, khi mà  “tim buồn hoá đá”. “Thì thôi” vậy, khi mà “ánh trăng rằm”,  “sao trời, nụ cười, niềm đau” cũng “hoá đá”. Đến cả  “mưa ngâu”, như là nước mắt, cũng “hoá đá” mất rồi…thì còn gì nữa cho một mối tình?  Còn gì nữa, khi đã nhủ lòng: “Thì thôi, thanh thản một câu tạ từ”?  

         Đọc đến câu thơ cuối, mọi chuyện tưởng như đã khép lại, nhưng không, tình yêu vẫn còn đó, như một giá trị vĩnh hằng. Hình tượng  “hoá đá”, không làm cho nỗi đau tình mất đi, mà ngược lại, nỗi đau trở lên vĩnh cửu với thời gian. “Hoá đá”là sự kết tinh, đông kết lại, để trở thành bất biến.  Điều muốn quên, đã trở thành điều luôn nhớ, vì tình yêu ấy, khổ đau ấy,  đã “hoá đá” trong lòng. Tương tự  như vậy, Thu Nguyệt cũng đã viết:

“Xa nào anh có hay đâu
Đá từ lúc ấy bắt đầu hóa em...”

(Thu Nguyệt)

         Chừng nào còn đau khổ, chừng ấy vẫn còn yêu. Tình yêu mãi còn đó, thao thức, trăn trở trong lòng mỗi người, dù đó là mối tình ngọt ngào, hay cay đắng. Phải chăng đây là ý nghĩa hàm xúc, sâu xa của bài thơ.                    

         Nếu nói thơ ca giống như một bản nhạc, thì bài thơ “Hoá đá” là một bản nhạc trầm buồn, với nhiều khoảng lặng , lắng đọng cảm xúc. Tôi tin rằng, mỗi người yêu thơ, sẽ tìm thấy trong bài thơ này, một chút gì đó thấp thoáng của riêng mình, như là một sự đồng cảm, sẻ chia...và đấy là sức sống thực sự của  bài thơ, là tấm lòng của tác giả dâng tặng cho cuộc đời.

Việt An

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 12 Nov 2011 lúc 10:46am

Bài thơ "Đây thôn Vĩ Giạ" của Hàn Mặc Tử

 
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà.
HÀN MẶC TỬ
(Thơ Điên)


Như ngôi sao băng mang nguồn sáng lạ vụt qua bầu trời văn học, cuộc đời cũng như thế giới thơ của Hàn Mặc Tử khiến người đời vẫn nhớ mãi không quên. Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực với một thế giới đầy ma mị là giọng thơ trữ tình đằm thắm. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ trong trẻo, đằm thắm của nhà thơ Hàn Mặc Tử.

Đây thôn Vĩ Dạ được viết khi Hàn Mặc Tử đang phải đối mặt với cái chết đến gần. Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu ảnh của cô Hoàng Thị Kim Cúc – người con gái xứ Huế mà tác giả vẫn thầm yêu trộm nhớ trong một mối tình đơn phương vô vọng. Bài thơ được viết riêng tặng cô Cúc nhưng đã trở thành viên ngọc thơ quý giá của tất cả người đọc. Từ mối tình đầu đã xa, từ một tấm bưu ảnh bình dị, trí tưởng tượng và tài năng của Hàn Mặc Tử đã cho ra đời một kiệt tác lâu dài.

Câu thơ mở đầu được viết như một lời nói nửa mời, nửa trách móc, nửa hờn dỗi: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Trong thực tế chẳng có ai mời, ai gọi. Chỉ bằng lời hỏi thăm cô Cúc viết sau tấm bưu ảnh gởi tặng mà tác giả đã tưởng tượng người thôn Vĩ đang mong, đang đợi, đang mời mình trở về thăm lại cảnh cũ người xưa. Điều đó đủ thấy trong lòng thi nhân đã đợi lời mời ấy từ lâu lắm rồi. Và trong khoảnh khắc ấy cảnh Vĩ Dạ vào thời điểm bình minh bỗng hiện lên tuyệt đẹp:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Hàng cau, mảnh vườn gợi lên cái thân thuộc của làng quê đất Việt vốn đã rất đẹp. Đặc biệt hàng cau khi được đặc tả trong nắng sớm lại càng đẹp hơn. Cây cau sau một đêm uống đẫm ánh sương, vào sớm mai xanh tươi dưới nắng, căng tràn sức sống. Và chữ “mướt” trong câu “vườn ai mướt quá xanh như ngọc” đã tập trung lột tả được nhiều vẻ đẹp của khu vườn Vĩ Dạ. Những cành lá đang lớn, non tơ, mỡ màng đầy sức sống…  Chữ “mướt” xứng đáng là nhãn tự của câu thơ khi nó vừa tả được cái bên ngoài, vừa gợi được cái sức sống bên trong. Và quan trọng hơn với chữ chữ “mướt” tác giả đã bắc một cầu nối, một cầu nối toàn mỹ giữa cảnh và người. Trong vẻ đẹp nơi khu vườn ấy, ta thấy được bàn tay tận tình chăm sóc của con người.

Một khu vườn tươi đẹp, căng tràn nhựa sống, một cầu nối lung linh, rạng rỡ là phông nền hoàn hảo nhất cho con người xuất hiện. Và quả thật không làm thất vọng người đọc, con người đã xuất hiện: Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

“Mặt chữ điền” ở đây có thể hiểu là gương mặt của tác giả vừa theo lời mời gọi lén trở về say đắm trong vẻ đẹp khu vườn. Hàn Mặc Tử vẫn thường coi mình là là “kẻ đứng ngoài”, kẻ “đi ngang qua cuộc đời” nên đã nép mình, ẩn mình sau “lá trúc che ngang” kia. Hoặc có thể hiểu là người con gái thôn Vĩ với khuôn “mặt chữ điền” đã xuất hiện. Khuôn mặt chữ điền không phải là khuôn mặt đẹp nhưng nó thể hiện sự đảm đang, sự phúc hậu của người phụ nữ. Bằng tài năng và tình cảm của mình Hàn Mặc Tử đã khéo léo đưa hình ảnh “lá trúc che ngang” vào làm cho khuôn mặt chữ điền kia trở nên đẹp hơn, thanh thoát hơn và gợi lên trong đó sự e ấp, nhẹ nhàng của người con gái xứ Huế mộng mơ. Và với sự xuất hiện ấy thì cảnh trở nên hữu tình, có linh hồn hẳn lên. Ở đây chỉ là nghệ thuật cách điệu hóa nhưng nó gợi lên trong lòng người yêu thơ nét đẹp tuyệt vời của thôn Vĩ lúc hừng đông với những ngôi nhà đơn sơ, với những mảnh vườn xinh xắn và thấp thoáng bóng dáng ai đó dịu dàng, dễ thương, phúc hậu sau những hàng tre.

Ở khổ hai, Vĩ Dạ lúc hừng đông đã nhường chỗ cho Vĩ Dạ đêm trăng. Cảnh ở đây đã có sự thay đổi, không còn tươi sáng mà trầm mặc chia lìa, gió mây đôi ngả.

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Cái nhịp điệu chậm rãi gợi nỗi buồn nhè nhẹ, hắt hiu, lan tỏa từ cảnh đến lòng người. Đó là cái nhịp điệp rất Huế: gió thổi nhẹ, hoa bắp bên sông chỉ khẽ lay, dòng nước sông Hương buồn thiu thả mình qua Vĩ Dạ. Đây là cảnh thực của xứ Huế nhưng nó cũng gián tiếp gợi lên cảm giác chia lìa trong nỗi buồn hiu hắt nơi cõi long nhà thơ.

Và trong khổ thơ thứ hai này xuất hiện một câu thơ toàn bích khiến bất cứ ai yêu Hàn Mặc Tử, bất cứ ai yêu thơ cũng phải nhớ, cũng phải thích.

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Không phải là sông Hương, bến Văn Lâu mà là “bến sông trăng” nhạt nhòa, hư ảo, lạnh lẽo. Con thuyền ai đậu đơn côi trên bến sông lạnh có chở kịp trăng về? Chữ “kịp” giản dị mà chất chứa biết bao ẩn ý. Con thuyền có kịp hay Hàn Mặc Tử chẳng kịp đợi trăng? Chữ “kịp” cũng mang trong nó một nỗi đau, một cuộc chạy đua đầy bất lực và tuyệt vọng của tác giả – giành giật với bệnh tật, đua tranh với cái chết để đuổi kịp thời gian, bắt kịp sự sống. Sự phấp phỏng và niềm yêu sống như vọt trào từ câu chữ. Câu thơ hay, đẹp không phải chỉ ở hình ảnh mới, lãng mạn, hư ảo mà còn bởi nó chất chứa niềm yêu sống mãnh liệt của thi nhân.
Tâm trạng và nỗi đau xót của nhà thơ thể hiện cháy bỏng nhất ở khổ thơ cuối. Đến đây, cảm nhận của nhà thơ, niềm khao khát của nhà thơ đã trở nên nhạt nhòa, xa xôi.

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng qua nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Mong đợi ước mơ “khách đường xa”, những linh cảm về sự gặp gỡ không bao giờ đến bởi con người đang tiếp cận chân trời xa xôi ngàn dặm. Tâm hồn thi nhân bơ vơ ngay trong giấc mộng, muốn trở về tìm em lại gặp toàn sương khói, gặp cõi nhân gian mờ ảo. “Áo em trắng quá”, không gian chỉ toàn màu trắng, có hay không bóng hình em trong khói sương mờ ảo kia? Hay phải chăng em chỉ là ảo ảnh của một giấc mơ giữa đời? Hay phải chăng đây cũng chính là những dòng nước mắt xa xăm, nhòe mi của nhà thơ trước bức bưu ảnh của người yêu gửi đến? Cho nên tâm trạng day dứt, băn khoăn, hoài nghi một cách chân thành: Ai biết tình ai có đậm đà?.

Câu thơ cuối khép lại bài thơ nhưng lại mở ra biết bao xót xa, cay đắng. Khoảng cách giữa người đã vời vợi và tình yêu đơn phương thi sĩ nhận về riêng cho trái tim mình. Bài thơ kết lại nhưng lại mở ra một mong đợi đến tội nghiệp, đến xót đắng của một nhà thơ đang đối diện với bệnh tật, đối diện với cô đơn. Bản thân từ “tình ai” đã cho người đọc hiểu về niềm khao khát được yêu của nhà thơ bất hạnh này.

Đây là bài thơ trữ tình của nhà thơ độc đáo, tài hoa. Có hai nhân vật trữ tình trong thơ: người thiếu nữ thôn Vĩ và nhà thơ. Hai nhân vật ấy xuất hiện đan xen và hòa nhập trong các câu thơ. Đó cũng là cái tôi trữ tình phân thân của Hàn Mặc Tử góp phần bộc lộ tâm trạng của mình. Tình cảm của thi nhân trước một mối tình âm thầm mà tha thiết, kín đáo mà mãnh liệt, mới hé mở mà đã khép vào vô vọng, chưa có một giây phút ngọt ngào mà đã chia lìa xa cách. Cả bài thơ là những câu hỏi buông vào hư không, lan tỏa rồi mất hút không một hồi âm đồng vọng. Đây là nỗi lòng của thi nhân nhưng cũng chính là nỗi lòng của biết bao người đang sống và đang yêu.

Nét riêng của Hàn Mặc Tử là có một tình yêu thiết tha, đầy ước mơ, khát vọng, trăn trở, day dứt với thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng, huyền ảo. Đối mặt với cái chết mà trái tim của nhà thơ vẫn chứa chan tình đời, vẫn khao khát tình người khiến người đọc chúng ta càng đáng khâm phục, ngợi ca. Tắm đẫm trong cảm hứng lãng mạn, cuộc sống trong Đây thôn Vĩ Dạ hiện lên lung linh, kì diệu mà không kì bí. Nói như nhà phê bình Hoài Thanh, bài thơ “vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”. Vì thế chỉ với Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã có chỗ đứng riêng của mình trong thơ ca nước Việt.

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 12 Nov 2011 lúc 1:32pm

Hai năm tình lận đận

1.

hai năm tình lận đận

hai đứa cùng xanh xao

mùa đông, hai đứa lạnh

hơi thở dài như nhau (?)

 

hai năm tình lận đận

hai đứa cùng hư hao

(em không còn thắt bính

nuôi dưỡng thời ngây thơ

anh không còn luýnh quýnh

giữa sân trường trao thư!)

 

hai năm tình lận đận

hai đứa đành xa nhau

em vẫn còn mắt biếc

anh vẫn còn nôn nao

ngoài đường em bước chậm

trong quán chiều anh ngóng cổ cao...

 

2. 

em bây giờ, có lẽ

toan tính chuyện lọc lừa

anh bây giờ, có lẽ

xin làm người-tình-thua

chuông nhà thờ đổ mệt

tượng Chúa gầy hơn xưa

Chúa bây giờ, có lẽ

rơi xuống trần gian, mưa

(dù sao thì Chúa cũng

một thời làm trai tơ

dù sao thì Chúa cũng

là đàn ông... dại khờ!)

 

anh bây giờ, có lẽ

thiết tha hơn tín đồ

nguyện làm cây thánh giá

trên chót đỉnh nhà thờ

cô đơn nhìn bụi bặm

làm phân bón rêu xanh

(dù sao cây thánh giá

cũng được người nhân danh!)

 

3.

hai năm tình lận đận

em đã già hơn xưa!...

(1972)

Nguyễn Tất Nhiên

 
Anh thoát ra khỏi những hình ảnh và ngôn ngữ thơ chắt lọc, sang cả quí phái của nền thơ truyền thống. Thơ anh, không cứ là trăng là gió, là bến nước, bờ mây, tóc thề và áo dài bay tha thướt, mái tranh, cây đa hay gốc chuối... (như thể là người thơ cứ suốt đời ở nhà quê, cảnh cũ!) mà thay vào đó là những hình ảnh rất thực của thị thành với "tóc demi garçon", tóc bính, cột điện, với xe đạp, cà phê, cà phê đá, rạp cải lương, nhà ga và toa tàu, mùa thi với văn bằng... Tự ví mình như là một gã ngông cuồng, là người phá phách, là người vô đạo, là sa-tăng ác quỷ... nhưng trên thực tế thì anh rất hiền, và trong tình yêu, thường là người thua cuộc, hoặc tự nguyện chịu thua cuộc. Trách người chỉ là trách nhẹ nhàng. Còn lại là trách mình.

Thơ tình của anh vì vậy mà phổ cập, mà thành của chung. Ai đọc cũng thấy, cũng nghe được nhân dáng và kinh nghiệm của chính mình trong ấy. Từ thứ tình yêu reo vui, nhảy múa theo nhịp chân của "cô Bắc-kỳ nho nhỏ" cho đến tình yêu của người tuyệt vọng... anh nói thay mọi người bằng thánh ca của tình yêu.

IP IP Logged
Cunhan7nghiep
Groupie
Groupie


Gia nhập: 10 Aug 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 63
Trích dẫn Cunhan7nghiep Replybullet Ngày gửi: 13 Nov 2011 lúc 6:39am

Bình thơ HOÀNG  CẦM

 

NGÀY GIỖ VỢ LẦN THỨ HAI

 

Nhớ em từ một đường khâu

Hai năm vai áo toạc đau xé lòng

Nhớ em từ miếng cơm không

Những năm bát mẻ,đĩa còng chia nhau

Em ở đâu tôi ở đâu ?

Hai năm rễ bén cỏ sâu trên mồ!

Đi thăm bụi đất chiều mưa

Giun kêu thăm thẳm còn ngờ tiếng em

Về đâu tiếng nói em hiền

Thảo thơm biền biệt điệu kèn cõi âm

 

Em đi một thoáng trăm năm

Nơi đâu em  ngủ tôi nằm lênh đênh

Đầu nghiêng gối nặng tay mình

Chợt rung mắc áo dáng hình cheo leo

Về khuya mê bóng bóng theo

Nhìn chênh thế kỷ bóng vèo qua mi

 

Độ rung của nỗi nhớ tràn vào thơ ngay từ 4 câu thơ đầu tiên:

 

‘’  Nhớ em từ một đường khâu

Hai năm vai áo toạc đau xé lòng’’

Nhớ em từ miếng cơm không

Những năm bát mẻ,đĩa còng chia nhau’’

 

Cũng là sự kể lể về những kỷ niệm vụn vặt  trong sinh hoạt  vợ chồng  thuở   mới ‘’ nâng niu gom góp dựng cơ đồ’’  : ‘’một đường khâu ,miếng cơm không’’ đến ‘’,bát mẻ, đĩa còng ‘’,như bất cứ ông chồng thương vợ ,biết ơn vợ nào khác nhưng ở đây sự chân thành trong ngôn ngữ thơ đã thấm vào người đọc khiến ta không  thấy hình tượng thơ nặng tính chất riêng tư nữa mà dường như mang tính phổ quát hơn ,đời hơn . Những hồi ức nho nhỏ đó trong cuộc sống  khi đủ vợ đủ chồng không mấy ai để ý nhưng khi một đối tượng mất đi rồi thì những chi tiết cỏn con bỗng thăng hoa trở thành hoài niệm ,những việc không đáng ai quan tâm như khâu một đường kim trên vai áo  , ăn chén cơm không  nhường thức nhắm cho chồng mời bạn uống rượu  hay những  vật dụng tầm tầm của cuộc sồng  cơ cầu  vật lộn kiếm miếng ăn nuôi con nuôi cái ngày xưa của hai vợ chồng  bây giờ đã trở thành di vật  và người còn lại làm sao không  thoáng trông đoái tưởng đến người tao khang .cho đặng.

Khổ thơ thứ hai nối tiếp mạch thơ hoài niệm  uất nghẹn:

 

’Em ở đâu ,tôi ở đâu ?

Hai năm rễ bén cỏ sâu trên mồ !’’

 

Nhà thơ  cảm nhận nỗi mất  mát  một cách thấm thía  nên thảng thốt  mất phương hướng về không gian  khi sử dụng câu hỏi tu từ  với từ đâu đến những ba lần , thảng thốt nhận ra rằng ‘’đi thăm bụi đất chiều mưa-giun kêu thăm thẳm còn ngờ tiếng em’’.Em chỉ còn là bụi đất chiều mưa ,trong lòng người chồng cồn cào một sự dằn xé giữa tỉnh và mơ giữa thực và hư giữa  tiếng giun  kêu và’’tiếng nói em hiền ‘’ đồng vọng.

 

Vẫn là nỗi buồn đau chia biệt  tất yếu của quy luật mất còn ai mà không trải qua  chỉ  chậm và sớm đó thôi .Biết vây nhưng kể cả những kẻ lạc quan nhất khi đọc đến đây cũng không khỏi bùi ngùi trước sự vang vọng của ;điệu kèn cõi âm’’.Một lần nữa ta lại thấu cảm một điều :sự chân thành  khi đã cộng hưởng với tài hoa sẽ có  tác động  xuyên tầng khơi gợi tình cảm đẹp trong con người nhiều khi vì một lý do khách quan nào đó đã bị khuất lấp .

Khổ cuối  dòng xúc cảm được đẩy tới cao trào sâu lắng qua những hình ảnh thơ ‘

 

 

Đầu nghiêng gối nặng tay mình

Chợt rung mắc áo dáng hình cheo leo’’

 

Nhà thơ không thể thoát ra được dòng hồi ức lan tỏa theo hoài niệm  nên một lần nữa lại dùng từ đâu’nơi đâu em ngủ tôi nằm lênh đênh’’.’Vế thơ ‘’tôi nằm lênh đênh ‘’ là một ý thơ khẳng định tình yêu bất biến trong lòng chủ thể trữ tình không cần phải nặng lời thề thốt như bất kỳ ai khác .Rõ ràng khi nhà thơ tỉnh thức’’đi thăm bụi đất’’hay lúc chìm vào vô thức ‘’ đầu nghiêng gối nặng tay mình’’ hình bóng người vợ đã quá cố vần  khắc vào tâm khảm người còn lại

.          

Hai câu cuối bài  tác giá đặt  hình tượng vào một bối cảnh không gian ‘’khuya’’lúc mà phần huyễn mộng bao giờ cũng lấn  phần thực mộng . Nhà thơ từng sống với huyễn mộng ‘’lá diêu bông ‘’từ lứa tuổi lên mười ấy sử dung điệp từ bóng đến những ba lần trong hai câu cuối một lần nữa lại chìm vào cõi  huyễn :

 

‘’Vê khuya mê bóng, bóng theo

Nhìn chênh thế kỷ bóng vèo qua mi’’

 

’Về khuya mê bóng ,bóng theo’’  thì người đọc  lờ mờ còn hiểu được sự quấn đuổi của hình và bóng trong  cuộc :’’ trăm năm còn có gì đâu’’nhưng câu thơ cuối cùng thì sự hiểu phải nhường cho sự cảm .Sao  nhìn chênh vào thế kỷ mà không nhìn thẳng  thì mới ‘’bóng vèo qua mi’’nhỉ ? .Nhà thơ dùng từ ‘’chênh’’ ‘’vèo’’ ở đây  thật tài hoa bởi tự ‘’xác chữ’’ đã kín đáo hiển lộ một tình yêu  sâu nặng với người bạn đời không may mệnh một nhưng càng  kín đáo hơn khi ‘’hồn chữ’’  bộc tỏ sự  mất mát  không làm con người chìm đắm trong bi thương .Một ánh’’ nhìn chênh’’,một thoáng ‘’vèo’’  khoảnh khắc ‘’qua mi’’   con người phải  tiếp tục sống cho đáng sống phần đời  còn lại  chứ đâu có thể mãi mãi ‘’nhìn chênh ‘’!

 

Có thể như thế mà cũng có thể không phải như vậy .Tuy nhiên có một điều   người viết bài này đoan  chắc rằng đọc bài thơ’’ Ngày giỗ vợ lần thứ hai ‘’của nhà thơ Hoàng Cầm người đọc kể cả những người đồng cảnh  vẫn cảm thấy  phần thương lấn át phần bi . Có cần gì phải bày biện tốn kém  mâm cao cỗ đầy , có cần gì phải mời mọc thân bằng quyến thuộc khắp nơi  cho đông đủ nhà thơ giỗ vợ bằng một mâm chữ đơn sơ  mười sáu câu lục bát  cũng đủ thù tiếp  khách chung tình trong khắp thế gian chẳng những bây giờ mà cả ngàn sau./.
 
Nguyễn Hàn Chung
IP IP Logged
Cunhan7nghiep
Groupie
Groupie


Gia nhập: 10 Aug 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 63
Trích dẫn Cunhan7nghiep Replybullet Ngày gửi: 13 Nov 2011 lúc 6:42am

Thơ nhờ em gửi về Nguyễn Bính

 

em giờ quần soọc áo phông

ta như một gã nhà nông cuối mùa

em giờ píc ních sân chùa

ta như sư đá còn ưa xoa đầu

em giờ tưởng tượng sồng nâu

ta đi ra phố mua gàu tát trăng


ước chi em mặc tứ thân

nụ cười che nón ba tầm ghé chơi

ước chi đến hẹn người ơi

con đò lúng liếng mắt cười chìm đâu

ta về hỏi đáy sông sâu

áo phông quần soọc nhà lầu xe hơi


sông sâu không tiếng trả lời

nghe chiều khói sóng một hơi thở buồn

 

Nguyễn Trọng Tạo

 

 

Lời Bình:

 

 

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, người đã hội đủ cả “cầm, kỳ, thi, hoạ”, chỉ riêng thành tựu 2 mặt: cầm - thi, ông cũng đã thừa xứng đáng đứng vào bậc tài danh trong thiên hạ rồi. Nhiều thi phẩm, nhạc phẩm của thi sỹ, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo đã đi cùng năm tháng, và sẽ để lại sự xúc động mạnh mẽ trong lòng công chúng hậu thế.

Lần tìm trong Thi viện của trang webste: lucbat.com, đọc chùm thi phẩm của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thật ấn tượng, tôi dừng lại ngẫm ngợi và mạo muội có đôi điều cảm nhận về bài thơ: Thơ nhờ em gửi về Nguyễn Bính.

Tên bài thơ đã là một thông điệp lạ. Ông nhờ em gửi về nhà thơ chân quê nổi tiếng Nguyễn Bính ở thế giới bên kia. Có lẽ, theo Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Ngyuễn Bính là người, dị ứng điển hình với mốt xiêm y cách tân “cúc cài khuy bấm em làm khổ tôi” mới đủ tỉnh táo, khí chất, giúp ông phẩm bình phán xét em, ta thoả đáng. Ông đã thật khôn ngoan khi cậy nhờ tới nhà thơ Nguyễn Bính làm phản biện cho những luận cứ xác đáng của mình.

Sáu câu lục bát khổ đầu làm thành 3 cặp câu: mà ngay trong mỗi cặp đã đặt ra sự so sánh giữa ta, em với những khác biệt đến lạ lùng. Họ hoàn toàn trái ngược nhau cả về sở

 

 

thích lẫn tính cách. Nhà thơ thật tài hoa, chọn những hoàn cảnh điển hình, những vật chứng trạng huống điển hình, để đặt ra sự so sánh gây ấn tượng mạnh mẽ trong biến động tâm trạng người đọc. Ta, em cùng có mặt song hành chung trong một hoàn cảnh, một không gian và thời gian mà sao cứ như 2 người ở 2 thái cực, 2 hành tinh xa lạ vậy. Em thì sắm bộ thời trang cách tân quần soọc áo phông, tràn đầy sinh lực, còn ta như một gã nhà nông thô mộc gày guộc tàn tạ cuối mùa. Em dìu dập trong tràn ngập niềm vui nơi sân chùa là để tìm kiếm cảm giác lạ, là píc ních khám phá, chứ đâu phải sư đá vô hồn lạc lõng như ta. Và cứ thế sự khác biệt được đẩy cao mãi lên, xa mãi ra, cho đến tận cùng sự đối nghịch thì nhà thơ: “ta đi ra phố mua gàu tát trăng”, về đúng cái cõi “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” của mình. Ý thơ bảng lảng, tung tẩy, thật phóng khoáng, hóm hỉnh và độc đáo.

Có lẽ, từ thực tại diễn ra như là mâu thuẫn, như không hợp thời hợp mốt, không thể dung hoà giữa các ý thức hệ, được ông đặt ra để tạo sự chú ý, thu hút người đọc. Những lý do gây nhiều tranh cãi rồi làm ai cũng phải nuối tiếc, cũng ao ước đồng tình với những ý tưởng sâu xa khi nhà thơ đặt ra.

Thời trang ưa chuộng với em thuở nhà thơ Nguễn Bính là “Nào đâu cái áo tứ thân/ Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen” Và rồi ông không ngần ngại, dõng dạc tuyên bố “Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh”. Nhà thơ Nguyễn trọng tạo cũng như nhà thơ Nguyễn Bính đều là những thi sỹ thuộc bậc nhất đa tình và nặng tình. Có lẽ khác với Nguyễn Bính,  Nguyễn Trọng Tạo là người luôn chủ trương cổ xúy cho mọi sự đổi mới cách tân, vì vậy chắc ông không hoài cổ, không muốn lớp trẻ phải quay lại ăn vận áo tứ thân, đội nón ba tầm như điều ông nói. Đó chỉ là cách nói, là thủ pháp để nhà thơ đề cập tới một vấn đề lớn lao quan thiết hơn. Điều nhà thơ nuối tiếc ước ao là cái tình người thuở đó. Ông muốn duyên em, tình em cứ chân thành nồng hậu, ấm áp, tinh tế tốt đẹp như xưa. Như thuở nụ cười e ấp che nón ba tầm, con mắt lúng liếng, làm chìm đắm nghiêng ngả hút hồn bao thi nhân tài tử. Cái thuở đến hẹn lại lên, duyên tình như mộng “Con đò lúng liếng mắt cười chìm đâu”?  mới làm nhà thơ ước ao khao khát, tiếc nuối ngẩn ngơ.

Bài thơ có 2 nhân vật trữ tình emta, nhưng chỉ có ta xuất hiện và độc thoại từ đầu tới cuối. Điều trăn trở, nỗi lo lắng mong muốn của ta liệu rồi có được, lòng nhân hậu nhân văn cần như cơm ăn nước uống, có trở thành suy nghĩ và hành động, trong nét ứng xử thường nhật giữa con người với con người? biết hỏi ai? Hỏi em, em xa lạ thế, nên đành hỏi “Áo phông quân soọc nhà lầu xe hơi” . Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã quá sắc sảo khi dẫn bài thơ tới trạng huống này. Áo phông quần soọc nhà lầu xe hơi là mốt thời thượng, là nhu cầu thiết yếu cho con người của thời hiện đại văn minh thật, nhưng nó vẫn chỉ là vô tri vô giác, không trả lời ông được. Đó mới là điều nhà thơ hướng tới, mong muốn mọi người chia sẻ cùng ông.

Vật chất dù quan trọng đến mấy, nay thời đại đang ở trình độ số hoá, đa hệ…rồi gì gì đi nữa, cũng không thể thay thế tâm hồn con người, vi diệu, có vị thế độc tôn.

Mười hai câu thơ của sự tìm tòi lý giải, khai mở phát triển tứ thơ thật độc đáo, rồi nhà thơ kết lại bằng cặp câu mơ hồ, hàm xúc để độc giả mặc sức liên tưởng:

sông sâu không tiếng trả lời

nghe chiều khói sóng một hơi thở buồn

Thi sỹ hỏi để mà hỏi thế thôi, bởi như ngạn ngữ Tung Hoa có câu, đại ý, sông núi dễ thay, lòng người khó đổi, thì làm sao sông nói được lòng người giàu phức hợp cho ông.

 

 

Trong sâu thẳm rung cảm và thâm hậu ý tưởng của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, người vốn đa sầu đa cảm, thì dòng sông dù im lặng bất lực, chỉ phả trên mặt nước khói sóng mơ hồ, cũng đủ gieo vào hồn ông những nỗi buồn ngổn ngang cõi thế. Không buồn sao được, dù cuộc sống hiện đại đã thoả mãn với biết bao nhu cầu để nâng cao chất lượng. Nhưng nó cũng để lại những khuyết tật trầm trọng làm căn cỗi tâm hồn con người. Đó mới là điêù nhức nhối đang được đặt ra cho những tư duy của thượng tầng kiến trúc trong việc xác định đường lối, thiết chế, nhằm chấn hưng văn hoá, xây dựng phẩm cách cao đẹp của con người.

 

Bài thơ khép lại trong miên man buồn, một nỗi buồn nhân bản, với khao khát làm giàu có, làm phong phú tâm hồn con người.

 

Ninh Bình, ngày 26 - 4 – 2010

Lâm Xuân Vi

IP IP Logged
Cunhan7nghiep
Groupie
Groupie


Gia nhập: 10 Aug 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 63
Trích dẫn Cunhan7nghiep Replybullet Ngày gửi: 13 Nov 2011 lúc 6:46am

Tâm sự nàng Thuý Vân

Trương Nam Hương

 

 

Nghĩ thương lời chị dặn dò

Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh

Chị yêu lệ chảy đã đành

Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim

 

Ơ kìa ! Sao chị ngồi im

Máu còn biết chảy về tim để hồng

Lấy người yêu chị làm chồng

Đời em thể thắt một vòng oan khiên

 

Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên

Chị thương kẻ khuất đừng quên người còn

Mấp mô số phận vuông tròn

Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu

 

Là em nói vậy thôi Kiều

Sánh sao đời chị ba chiều bão giông

Con đò đời chị về không

Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường

 

Chị nhiều hờn- giận- yêu- thương

Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò

Em chưa được thế bao giờ

Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

 

Em thành vợ của chàng Kim

Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao

Giấu đầy đêm nỗi khát khao

Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu!

 

Bình thơ:

 

Kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã ngự trị suốt mấy trăm năm trên đỉnh cao thi đàn Việt Nam. Đó là thi phẩm góp phần đưa ông trở thành Danh nhân văn hóa thế giới. Ngòi bút miêu tả nỗi đau đớn xót xa của người “sắc đành đòi một tài đành họa hai”- Thuý Kiều quá sắc sảo, làm nhoè mờ đi Thuý Vân - người cũng “hoa cười ngọc thốt đoan trang”, cũng “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” chứ nào đâu phải thường. Vậy mà ít ai quan tâm đến đời nàng phải cam chịu một bi kịch - một cuộc hôn nhân không có tình yêu. Chính vì thế, khi Thuý Vân cất lời giãi bày: Tâm sự nàng Thuý Vân, thì người đọc ngùi ngùi, động lòng thương cảm. Đó là một phát hiện độc đáo của nhà thơ Trương Nam Hương, mở ra các cách tiếp cận khác nhau, để ta hiểu biết thêm tính phong phú, sâu sắc đa dạng của tác phẩm bất hủ - Truyện Kiều.

 

Lời phân trần, pha chút trách móc ai oán của Thuý Vân không kìm nén được, đã bộc lộ ngay ngày sum họp, sau mười lăm năm tan hợp của gia đình họ Vương cũng là điều dễ hiểu:

 

Nghĩ thương lời chị dặn dò

Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh

Chị yêu lệ chảy đã đành

Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim

 

Thương chị, vâng lời chị, nhưng trái tim có lý lẽ riêng không ngoan ngoãn tuân theo việc chắp "mối tơ thừa"với chàng Kim, nên chuyện đôi lứa đối với em chỉ là - mười lăm năm đắm con đò xuân xanh. Sống trong cảnh “đồng sàng dị mộng”, nằm bên em đấy mà hồn chàng dõi theo nơi chị, dửng dưng trơ lỳ, chả mảy may rung động, nên cả tuổi xuân em chìm đắm phôi phai tàn lụi. Trong cảnh ngang trái vậy, làm sao em có thể động lòng xót thương, sao có nước mắt dành cho chàng được.

Nghe lời em mà chị lặng đi, lòng như tơ vò muối xát:

 

Ơ kìa! Sao chị ngồi im

Máu còn biết chảy về tim để hồng

Lầy người yêu chị làm chồng

Đời em thể thắt một vòng oan khiên

 

Tình yêu thiêng liêng vô giá, thượng đế chỉ ban tặng cho mỗi người có một, chị và em là tình máu mủ ruột rà, mà em lấy người yêu chị làm chồng, thì còn ra thể thống gì, em đã làm một việc trái đạo lý luân thường, nên đời em luôn mặc cảm phải gánh chịu nghiệp chướng oan khiên. Chị ngồi im là bởi thật thấm thía nỗi xót xa với em đấy chứ đâu phải vô tình. Vì chưa nhận ra điều này, hay vì nỗi đắng cay chất chứa mà Thúy Vân vẫn chưa thôi hờn trách chị:

 

Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên

Chị thương kẻ khuất, đừng quên người còn

Mấp mô số phận vuông tròn

Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu

 

Chị sụt sùi bên mộ Đạm Tiên, nhân hậu bao dung, mong nước mắt sẻ chia được với kiếp hồng nhan bạc phận từ cõi bên kia. Còn em, máu chảy ruột mềm cùng chị thì sao? Đạm Tiên cũng như biết bao nhiêu số phận (mấp mô số phận) dẫu cao cả hay thấp hèn, đã được đầu thai trong kiếp người thì họ vẫn có quyền yêu, được yêu, nên dù đã khuất thì tình yêu của họ vẫn được siêu thoát chứ đâu chịu hẩm hiu như em: Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu. Và rồi, hình như nhận ra mình đã quá lời, và chị cũng là người chịu bao tủi nhục đắng cay phải bán mình chuộc cha, sống lênh đênh chiếc bách giữa dòng, thì Thúy Vân lại sắt se lòng, vội tìm lời an ủi chị:

 

Là em nói vậy thôi Kiều

Sánh sao đời chị ba chiều bão giông

Con đò đời chị về không

Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường

 

Trương Nam Hương thật điệu nghệ trong bước chuyển tâm lý nhân vật: Là em nói vậy thôi Kiều/ Sánh sao đời chị ba chiều bão giông. Con đò đời chị chẳng những về không mà còn chở theo nỗi bi thương, coi sự quyên sinh nơi Tiền Đường như một sự giải thoát. Lời lẽ Thúy Vân thật gần gũi chân tình, lấy cái mất mát hy sinh lớn lao quãng đời đen bạc của chị mà so sánh, mà tự vấn mình và có lẽ đấy cũng là cách tự an ủi cho vợi bớt đắng cay? Nói thì nói thế, nhưng nỗi oan ức bị “mất quyền được yêu” cứ trào dâng, khắc khoải:

 

Chị nhiều hờn- giận- yêu- thương

Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò

Em chưa được thế bao giờ

Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

 

Đời chị tan nát, nhiều tủi nhục, nhưng chị còn có được những cuộc tình, những giây phút hạnh phúc đến không ngờ, sống được yêu, mà yêu như mơ, yêu đến mức phiền luỵ cả trời đất, đến vầng trăng huyền diệu chứng tích của sự hẹn hò cũng phải hờn ghen: vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò. Câu thơ biến ảo, độc đáo, vị trí lại đắc địa, khẳng định được cái thiêng liêng vô giá bất khả so sánh khi người ta yêu và được yêu. Ngược lại nó cũng đẩy đến tận cùng tâm trạng của kẻ bị tước đoạt quyền yêu, mặc cảm với trái tim phải tự đánh lừa, bị giam hãm, không lối thoát.

 

Em thành vợ của chàng Kim

Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao

Giấu đầy đêm nỗi khát khao

Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu!

 

Thật chua chát, thật trớ trêu cho số phận: em thành vợ của chàng Kim để mà cam chịu nỗi tẻ nhạt hững hờ, mà huyễn hoặc tưởng tượng yêu thương. Trương Nam Hương lại cho Thuý Vân bộc bạch không che đậy: Giấu đầy đêm nỗi khát khao/ Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu!. Đó là lời phản kháng, tưởng yếu ớt vô vọng, nhưng không, nó thật quyết liệt, là cáo trạng lên án, là thông điệp gửi tới muôn đời: hãy nói không với hôn nhân không tình yêu. Đó là cái kết mở, giàu tư tưởng nhân văn, vượt ra ngoài giới hạn của một bài thơ, gây ấn tượng mạnh mẽ, ám ảnh người đọc.

 

Từ Tâm sự nàng Thuý Vân của nhà thơ Trương Nam Hương, thêm một phát hiện độc đáo để khẳng định: dù đã mấy trăm năm, qua Đông Tây kim cổ, đã có không biết bao nhiêu công trình nghiên cứu, mà vẫn chưa hết ngạc nhiên về những giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm. Thế mới biết tầm vóc và sức sống trường tồn của kiệt tác Truyện Kiều, và vì thế không phải ba trăm năm mà mãi mãi nhân loại vẫn sẽ khóc Tố Như./.

 

Ninh Bình, ngày 23 – 12 - 2009.

Lâm Xuân Vi

 

IP IP Logged
Cunhan7nghiep
Groupie
Groupie


Gia nhập: 10 Aug 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 63
Trích dẫn Cunhan7nghiep Replybullet Ngày gửi: 13 Nov 2011 lúc 6:56am

Có một chiếc lá vàng

 

Suốt ngày sao lá không rơi

Ngỡ anh đã ngủ khẽ rời cành êm

Vì sao lá níu cây thêm?

Sợ anh buồn, lá chọn đêm lìa cành.

 

Trần Mạnh Hảo

 

 

Lời Bình:

 

Chỉ vỏn vẹn bốn câu thơ lục bát, và đúng hơn chỉ là sự xoay trở bùng nổ ở năm từ anh, , ngày, đêmbuồn, thi sỹ Trần Mạnh Hảo đã dẫn dụ người đọc vào mê cung thâm hậu của thần thái chữ nghĩa.

 

Suốt ngày sao lá không rơi

Ngỡ anh đã ngủ khẽ rời cành êm

 

Thiết tưởng, cái lá vàng trên cành rơi hay đậu chẳng thể hạn định được trước thời gian ngày hay đêm, nó chỉ tuân theo vòng tuần hoàn sinh diệt đối với từng loài cây do môi trường và tạo hoá quy định thôi chứ. Không, đó chỉ là cây lá thuộc các loài thực vật thông thường mọc trên mặt đất, còn cây lá của nhà thơ, mà lại là nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì hoàn toàn phải khác. Nó là cây lá của biến động tâm trạng, là nỗi trắc ẩn lòng ông trong cõi thế. Một cái lá vàng rơi về cội là chuyện thường tình mấy ai để ý, bởi nó cũng hợp với quy luật tự nhiên, chứ nếu còn non xanh, hay bị bão táp dập vùi thì lại là chuyện khác. Song với nhà thơ, sự tàn lụi rơi rụng nào của muôn loài, dù bất cứ hoàn cảnh nào, cũng vẫn là sự mất mát xót xa đau đớn. Đó mới là tư tưởng là cốt lõi, nguồn cảm hứng chủ đạo mà nhà thơ nhắm tới khai thác phát triển. Mở đầu bài thơ đã là một câu hỏi Suốt ngày sao lá không rơi, làm cho người đọc không khỏi ngạc nhiên, cảm giác lá cũng có linh hồn sống, có khả năng chủ động độc lập, không lệ thuộc vào hoàn cảnh môi trường, và lá cũng nặng lòng trắc ẩn chẳng khác nhà thơ. Bằng tâm thế ấy, lá nghĩ nếu biết mình rơi, chắc với con người đa sầu đa cảm này, lòng lại không khỏi trĩu nặng, liên tưởng tới cái mong manh vô thường của kiếp sống. Thế là lá phải suy nghĩ, tìm cách sao cho khi rơi nhà thơ không thể biết. Vậy là, cái thời

 

khắc tối ưu để lá lìa cành phải đợi đến khi thi sỹ đang chìm trong giấc nồng. Nhưng thật oái oăm thay, cái ông thi sỹ này lại không quen ngủ ngày, hay cũng lại cố tình thức để theo dõi mình không chừng. Thế nên, cứ phải rình rập chờ đợi suốt ngày mà lá không sao rơi đựợc. Chẳng những vậy, mọi suy nghĩ “toan tính” bí mật của lá hình như đều nằm trong tầm kiểm soát của nhà thơ, mà thật tội nghiệp cho lá lại chẳng  hay biết gì. Và thế rồi Ngỡ anh đã ngủ khẽ rời cành êm. Chính nhờ cái sự nhầm lẫn“Ngỡ” đã làm cho tứ thơ  độc đáo, rồi lại cũng hé mở dần cả ý đồ sâu kín của lá với nhà thơ và ngược lại. Dù ngỡ anh đã ngủ, nhưng lá vẫn rất thận trọng không để sơ xuất kinh động, thật gượng nhẹ, khẽ rời cành êm, đã khẽ còn êm - tận cùng của mọi nỗ lực. Chỉ bằng một cặp câu lục bát, chỉ với những ngôn ngữ giản dị thường nhật, độc giả đã cảm nhận được hết hồn vía linh diệu của câu chữ, trong mối giao hoà đầy kịch tính, giàu nhân bản. Điều gì hệ trọng xui khiến để lá phải làm một việc khó khăn đến trái cả lẽ thường?

 

Vì sao lá níu cây thêm

Sợ anh buồn, lá chọn đêm lìa cành

 

Hoá ra thế, mọi bí mật đến đây như đã được giải mã, mọi ý tứ như cũng vỡ oà ra bởi chiếc chìa khoá “Sợ anh buồn” đã hiển lộ. Tiến trình giải mã là   trình tự nhà thơ đã đặt ra những câu hỏi khơi gợi, rồi lại tự lý giải một cách hết sức sâu sắc hóm hỉnh tinh tế. Có bốn dòng thơ mà hai câu hỏi, chỉ xoay quanh một ý: vì sao lá rơi không bình thường, không quy luật ? Vì sao lá níu cây thêm? Níu cây thêm đâu có dễ, đối với lá đó là cái việc ngược đời, ngược quy luật.Chắc phải có phép cải lão hoàn đồng và phải nhờ tới “siêu sư”Trần Mạnh Hảo phù phép cho mới được chứ nào phải chuyện thường.Cái phép huyền bí ấy không có trong hoạt chất, đất đai ... làm nên sức sống để lá ước được mọi điều, mà nó là nhân bản nhân văn, và cũng phải dày công “tu luyện” mới ứng nghiệm nhiệm màu. Cứ như việc thăm dò địa chất, người đọc phải hạ giếng khoan sâu, bóc tách dần từng tầng vỉa mới chạm tới cái thâm hậu: Sợ anh buồn, lá chọn đêm lìa cành. Thi sỹ chỉ buồn thôi thì đã là chuyện lớn, là dông bão nổi lên trong tâm trạng họ rồi. Thế là lá phải nghĩ mọi cách, phải làm mọi chuyện có thể và cả những chuyện không thể, miễn sao để anh khỏi buồn. Ngày đã không ngủ thì chắc chắn đêm thi sỹ phải ngủ rồi, thế là cái thời khắc quan trọng đã được quyết định, lá chọn đêm để lìa cành. Nhưng lá nào có biết, chính cái điều sợ nhà thơ buồn ấy đã làm nên cách ứng xử thật khó khăn cho ông. Bởi nỗi buồn của nhà thơ cũng chính là nỗi lo buồn của lá, nên buộc ông cũng phải tìm mọi cách để không cho lá biết được mình buồn. Phải vờ ngủ cho lá nhẹ nhàng thanh thản mà rơi, có vậy lòng ông mới vợi nhẹ. Tâm trạng nhà thơ và lá càng nặng nề gay cấn giằng co qua lại bao nhiêu, thì tính nhân văn càng ngời sáng giàu có bấy nhiêu. Chính nhờ có câu hạt nhân tự toả sáng này đã bất ngờ làm cho bài thơ được dựng dạy vượt ra ngoài câu chữ, ngoài khuôn khổ của thơ. Lá biết thương yêu con người đến thế, còn con người với con người thì sao? Cái lá vàng rơi như một tất yếu vi mô còn day dứt đau đớn thế, chứ con người với biết bao ngang trái bất trắc trên cõi thế vĩ mô thì đáng sợ biết nhường nào? Người đọc cứ thế sẽ có được muôn vàn câu hỏi và lời giải để tìm đến chân thiện mỹ cần có theo cách ứng xử của mình.

 

 

Có một chiếc lá rơi,  nhẹ thế, mà sao lòng ta trĩu nặng thế. Sức nặng của bài thơ vượt tầm, chỉ dồn nén trong hai mươi tám con chữ. Sự xắp đặt và điều khiển mỗi con chữ mới thật tài tình. Tuy mức độ biểu cảm khác nhau nhưng đã làm nên một chỉnh thể biến ảo đa chiều giản dị mà thật giàu sức cảm, sức gợi, sức khái quát. Ai bảo lục bát không mới không hiện đại, xin hãy thử phản biện  với trường hợp bài lục bát Có một chiếc lá rơi này. Xét cho cùng cái hay được quyết định bởi hàm lượng trí tuệ và sự rụng động, xúc động mãnh liệt nhất, mà nội dung vẫn là cơ bản./.
 
Lâm Xuân Vi
IP IP Logged
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.148 giây.