Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Kiến thức Văn học
 Diễn đàn :Phổ biến kiến thức :Kiến thức Văn học
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
<< Trước Trang  of 32
Tác giả Nội dung
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 15 Apr 2016 lúc 5:10pm

LỜI MẸ

 

I

Mẹ đã sinh ra tôi

Đặt tên cho tôi nữa

Một cái tên nôm na

Hồn nhiên như sỏi nhỏ

 

Cái cối và cái chày

Con mèo và con cún

Yêu mấy vẫn chưa vừa

Thoắt trở thành người lớn

 

II

Tôi bước ra ngoài ngõ

Gió thổi. Nước triều lên

Đi hoài không gặp tiên

Đành quay về hỏi mẹ

 

- Hãy yêu lấy con người

Dù trăm cay nghìn đắng

Đến với ai gặp nạn

Xong rồi, chơi với cây!

 

III

Tôi lại bước dưới trời

Không tiếc mòn tuổi trẻ

Đi hoài không gặp tiên

Lại quay về hỏi mẹ

 

- Hãy yêu lấy con người

Dù trăm cay nghìn đắng

Đến với ai gặp nạn

Xong rồi, chơi với cây!

Hữu Thỉnh

 

Lời bình của Nguyễn Ngọc Phú:

Nhà thơ Hữu Thỉnh là thi sĩ của đồng quê, thi sĩ của lòng nhân ái, thi sĩ của những trực cảm. Ông đã từng có bài thơ nổi tiếng “Hỏi” với những điệp khúc nhói lòng người: “Tôi hỏi người: - Người sống với người như thế nào?”. Bài thơ “Lời mẹ” mang dấu ấn thi pháp riêng của thơ ông. Một lối bỏ ngỏ tạo ra những dư ba ngân vọng, sau những va chấn của “Vết thương tâm hồn”. Và lòng nhân ái chính là cứu cánh để nâng đỡ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ - Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”. Ở đây, “lời mẹ” dặn như một thông điệp của yêu thương theo suốt nhà thơ, trên dặm đường đầy trắc trở của mình.

Bài thơ có ba khúc như một biến tấu mà chủ âm là gam trầm thật dung dị như lời ăn, tiếng nói thường ngày: “Mẹ đã sinh ra tôi - Đặt tên cho tôi nữa”. Tên mẹ đặt thật nôm na, bình dị để lấy cái “vía” cốt cách, xuất xứ của đứa con từ đồng ruộng lớn lên trong vòng tay mẹ với: “Cái cối và cái chày - Con mèo và con cún”. Thơ Hữu Thỉnh thường bắt đầu từ những cái không đâu, cứ mơ hồ không rõ rệt, cứ như sương như khói, cứ lãng đãng (chứ không lơ đãng) để thoắt hiện thành hình hài, thành ấn tượng: “Yêu mấy vẫn chưa vừa - Thoắt trở thành người lớn”. Đây chính là kinh nghiệm, trải nghiệm sống của ông. “Chưa vừa” là một sự đong đếm, ông nghiêng về sự thiếu hụt để “thoắt” tạo ra thế cân bằng động trong thế chung chiêng, chồng chềnh như người bước đi trên sóng. Thơ ông thường tạo ra những bước nhảy của “sóng tâm trạng” thi sĩ như thế.

Khúc biết tấu II: “Tôi bước ra ngoài ngõ - Gió thổi. Nước triều lên” . “Ngõ” là một giới hạn địa lý, khuôn thước chật hẹp. Ra khỏi ngõ là ra khỏi vòng tay mẹ, là đến với cuộc đời. Khi cánh cửa ngõ đã khép lại sau lưng thì bao biến cố dồn dập ập đến. Ta chú ý đến câu thơ: “Gió thổi. Nước triều lên” tạo ra sự hụt hững không còn bình yên nữa. Ông dùng biểu tượng “gió” và “nước triều” để nói những biến động đột xuất của đời sống xã hội thường nhật. Cuộc đời không phải giản đơn như trong cổ tích: “Đi hoài không gặp tiên - Đành quay về hỏi mẹ” cái sự quay về, chính là sự trở về với cội nguồn. Cái lối tự vấn này thật hồn nhiên, đó chính là những ám ảnh tự nhiên của hơi thơ như hơi thở mỏng manh, trắc ẩn nhưng hàm chứa bao dung lượng, ân tình, sức tải của thi ca: “Hãy yêu lấy con người - Dù trăm cay ngàn đắng - Đến với ai gặp nạn - Xong rồi chơi với cây”. Cái thông điệp nhân ái này đã bắc một nhịp cầu nối con người cụ thể với cộng đồng và lớn hơn nữa là với thiên nhiên. Lời mẹ như một đúc kết chiêm nghiệm sống, một ứng xử và cao hơn đó là một tấm lòng vừa minh triết cô đọng, vừa mềm mại, bao dung như nước. Trong đó ẩn chứa cả triết lý sống phương đông, xem thiên nhiên như là một người bạn thân thiết, một “bà đỡ” cứu cánh. Đây cũng là một châm ngôn sống: Hãy đến giúp người gặp nạn, xong rồi thanh thản trở về với cỏ cây không đòi hàm ơn như một Thánh Gióng về trời sau khi thắng giặc Ân. Ân nghĩa cội nguồn đã có từ thẳm sâu, kết tinh ở người mẹ Việt Nam như thế.

Nếu như khúc biến tấu II mới bước ra khỏi ngõ thì khúc III tỏa rộng hơn về cả không gian và thời gian: “Tôi lại bước dưới trời - Không tiếc mòn tuổi trẻ”. Nhưng cấp độ thì vẫn thế, vẫn day dứt, vẫn nâng đỡ để ứng xử, để hoàn thiện mình. Hoàn thiện cả một nhân cách sống đã được mẹ chỉ dẫn, giải đáp thật rạch ròi, thật bình đẳng, thật ưu ái, son sắt thủy chung, không bao giờ nhạt phai lay chuyển. Mẹ chính là cây đời cổ thụ tỏa xuống lòng con, dõi theo mỗi bước con đi. Là điểm tựa, bến đỗ yêu thương bởi “lời mẹ” chính là “lòng mẹ”.

 Hà Tĩnh ngày 8/10/2015

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 15 Apr 2016 lúc 5:12pm
Ở quê

 

Cháu ở thành phố

Về quê Miền Đông

Cái gì cũng lạ

Sông gì mênh mông?

Lúa xanh ngút mắt

Bãi bờ tít xa

(cái sân vận động

So còn kém xa)

Chẳng có lầu cao

Tha hồ tâng bóng

Đêm bầu trời sao

Cháu ngồi cháu đếm

Thơm đồng xanh trái ngót

Ngày bên sóng gió

Reo hò trẻ bơi

Trên sông Vàm cỏ

Lục bình rong chơi

Về quê thật lạ

Quen rồi thật thân

Những tên hoa lá

Xếp hàng quanh sân

Ở quê cây trái

Bạn bè thích mê

Cháu mở Ipad

Khoe mình ở quê

Trần Hoàng Vy

 


Lời bình của nhà thơ Cảnh Trà:

Đại hội Đại biểu Hội Nhà văn Việt Nam vừa họp ở Hà Nội từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 7 năm 2015, tỉnh Tây Ninh chúng tôi chỉ có một mình Trần Hoàng Vy ra dự.

Năm 2015, Tây Ninh hiện chỉ còn 2 Hội viên. Năm trước còn có nhà văn Nguyễn Đức Thiện nhưng vì bạo bệnh nên anh Thiện đã đột ngột qua đời. Tôi thì chân đi phải có gậy. Một mình Vy ra họp cũng buồn. Tuy vậy hai anh em vẫn nhắn tin nhau hàng ngày qua điện thoại. Theo Vy cho biết một số anh chị em các tỉnh sau ngày 12 đại hội bế mạc còn ở lại đi thăm thú Thủ đô… nhưng Vy cần về vì phải hoàn thành bản thảo tập thơ thiếu nhi gồm 98 bài. Tôi nói Vy gửi cho mình một bài. Về tới Tây Ninh, Vy chọn bài bằng cách đưa mấy bài trong tập cho một em thiếu nhi hàng xóm chọn và Vy lấy bài đó gửi cho tôi. Đó là bài Ở quê. Chọn bài cách đó cũng tiện. Thơ thiếu nhi thì thiếu nhi chọn khỏi phải bàn đi bàn lại, dây dưa, mệt!

Nhận được bài thơ tôi rất mừng vì xưa nay tôi lại rất ưa chủ đề nói về thôn ấp xóm bản nhất là ở thành phố về tham quan miệt ruộng, miền rừng. Sau ngày rời Thủ đô về chiến khu Việt Bắc, lúc ấy tôi còn nhỏ lắm chừng bảy tám tuổi gì đó mà cho đến nay đã gần tám mươi tuổi vẫn cứ nhớ mãi bài của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh- chủ soái của phái vị lai, viết về phong trào bình dân học vụ ở một bản nhỏ có tên là Làng Nghẹt trong rừng đêm. Cả bài qua mấy chục năm, đến nay tôi vẫn thuộc “Làng nho nhỏ cạnh rừng sương/ Có khe nước chảy mà vương mây trời/ Ấm lòng Việt Bắc sáng ngời/ Nơi đây cây núi với người thương nhau/ Tình sau trước, nghĩa trước sau/ Em cây say chữ nên trau chuốt cành/ Đêm đêm hoa dại nghiêng mình/ Lắng nghe chị Mán ngâm kinh i t”.

Bài Ở quê viết theo thể thơ mỗi câu năm chữ cứ bốn câu lại ngắt thành một đoạn nhỏ. Cả bài có tất cả sáu đoạn. Đây có lẽ là cháu nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh về thăm quê Tây Ninh. Tây Ninh là tỉnh thuộc Miền Đông Nam bộ Chỉ cách nhau một chặng đường không xa, nhưng mới về lần đầu nên cái gì cháu cũng lạ “Cháu ở thành phố/ về quê Miền Đông/ Cái gì cũng lạ/ Sông gì mênh mông.” Đây chắc chắn là con sông Vàm Cỏ Đông- một dòng sông đẹp, rất lành, ít có mùa sóng dữ. Từ mạn Campuchia khi đổ về đến Tây Ninh con sông uốn lượn mềm mại như dải lụa xanh. Từ tả ngạn nhìn sang hữu ngạn dưới con mắt trẻ con thì sông mênh mông thật. Riêng được ngắm dòng sông đã đi vào câu hát hầu như cả nước đều thuộc cũng đã là một phần quà thú vị! “Ở tận sông Hồng em có biết/ Quê hương anh cũng có dòng sông/ anh mãi gọi với lòng tha thiết/ Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông!”.

Chúng ta ai cũng biết tuổi trẻ em là cái tuổi để chơi. Trong học có chơi, trong chơi có học. Bởi vậy khi nhìn thấy những dề lục bình trôi trên sông Vàm Cỏ đối với các em là một trò chơi tuyệt vời, thật vô tư, sống động và tao nhã: Trên sông Vàm Cỏ/ Lục bình rong. Mới mê màu xanh của nước bây giờ lại say màu xanh của ruộng đồng bát ngát. Đồng rộng đến nỗi: Cái sân vận động/ So còn thua xa!. Trẻ con bây giờ lại càng yêu loại thể thao vua. Ở thành thị các em thường dùng đường phố làm sân banh. Nguy hiểm như thế,chật hẹp như thế, vì ham quá người lớn nói không được. Khi về quê thấy nhà nhiều tầng lầu ít, có nơi chưa có cho nên ở đâu các em cũng nghĩ ra cái chuyện tâng bóng, sút bóng “Chẳng có lầu cao/ Tha hồ tâng bóng…”. Một điều mà cho đến cả người lớn nếu không chú ý thì sẽ không nhận ra. Đó là ở thành phố không được ngắm trăng sao nhất là những đêm mây trời tản mát, trong veo, trăng sao vằng vặc, nhưng vì thành phố có nhiều đèn chiếu sáng nên trăng sao không được lộ hình. Chỉ có ở nông thôn mới có cái diễm phúc trời cho là đêm về ra đồng ngắm cảnh trăng sao. Cái thú đó các cháu ở thành phố về không bao giờ bỏ qua “Đêm bầu trời sao/ Cháu ngồi cháu đếm”. Mấy câu thơ cuối bài như là một sự đúc kết “Về quê thật lạ/ Quen rồi thật thân” và hai câu tiếp như là môt phát hiện thú vị “Những tên hoa lá/ Xếp hàng quanh sân”.

Đọc bài thơ nhỏ này tôi lại nhớ mới chiều hôm kia mở truyền hình trên kênh VTV1 đang phát ca khúc Về quê của nhạc sĩ Phó Đức Phương do hai nghệ sĩ một nam một nữ trình bày… Theo em anh thì về, theo em anh thì về/ Thăm lại miền quê/ Nơi có một triền đê/ Nơi hàng tre ru khi chiều về/ Ơi quê ta bánh đa bánh đúc/ Nơi thảo thơm đồng xanh trái ngọt/ Nơi tuổi thơ ta đẹp như giấc mơ/ Ơi quê ta bánh đa bánh đúc/ Nơi chợ quê lều tranh mái xiêu/ Dáng ai như dáng mẹ, dáng chị tôi…

Với bài thơ Ở quê, câu kết bài là lời khoe của cháu vừa được về thăm miền quê thuộc quê nội hay quê ngoại hoặc quê bầu bạn… Vì quá thích nên thấy gì cũng ghi vào máy để giữ lại những hình ảnh, những kỷ niệm cho mình và cho nhiều người chưa được đi. “Ở quê cây trái/ bạn bè thích mê/ cháu mở Ipad/ Khoe mình ở quê.” Việc cho các cháu ở thành phố về thăm quê là một lối giáo dục đa chiều về cái lợi cân bằng sinh thái, thay đổi môi trường nhất là tính chất mộc mạc, chan hòa, nặng tình nặng nghĩa của người miền quê thấm dần vào máu thịt các cháu góp phần tẩy rửa những thói xấu ích kỷ, chen lấn giữa người với người nơi phố thị. Đúng miền quê Nơi thảo thơm đồng xanh trái ngọt/ nơi tuổi thơ ta đẹp như giấc mơ!

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 15 Apr 2016 lúc 5:14pm
TRÂU GIÀ VÀ BÃI CỎ NON

 

Chuyện như từ trên trời rơi xuống

Đất mọc ra: Tôi và em khúc hát song ca.

 

Trên đỉnh núi mờ xa.

Nhà tôi có con trâu già sừng đẹp vai khỏe

Trên đồng cỏ trâu không bao giờ gặm cỏ già

Trâu chỉ gặm cỏ non gặm nhấm lân la

Vì thế tuy già nhưng trâu còn rất khỏe

Trâu kéo cày phăng phăng… đường cày thẳng băng

Dâng cho tôi bốn mùa ngô lúa thu tăng

Hạnh phúc êm đềm…

 

Trời thì ban xuống đất thì dâng lên

Em ngồi đó hoa em bừng nở…

Tỏa hương thơm Bãi Trước Bãi Sau

Biển Vũng Tàu ngàn năm sóng hát

Biển thì xanh bãi cát thì già tóc cát trắng phau

Như tôi và em đang hiện hình đâu đó

Em ngồi đó một đồng cỏ xanh nõn non tơ

Tôi ngồi đây cây thông già bất động

Mà trong lòng nổi sóng biển sâu

Biển Vũng Tàu ai đo… bao mét?

Em xinh đẹp tuyệt trần… mắt tròn xoe ngấn nước

Không uống rượu mà người lảo đảo say

 

Em ngồi đó… tôi ngồi đây… chỉ cách nhau một sợi tóc dày

Mà sao thấy xa xăm… xa xăm…

Tôi lẩm nhẩm một mình

Hát một câu tình ca biển cả…

Con sóng trẻ xanh xô về phía trời xa

 

Em ngồi đó… tôi ngồi đây..!

Mà trong tim nóng rực

Như có lò phản ứng hạt nhân nằm trong l**g ngực

Tôi ngồi đây… em ngồi đó…

Như đồng cỏ xanh mướt non tơ

Khổ cho tôi một con trâu đã già

Trước đồng cỏ xanh mướt bao la…

Vũng Tàu 25.5.2015

Pờ Sảo Mìn

 

Đôi lời của Trần Vân Hạc:

Lão Pờ thế mà hóm và tinh quái, ra biển lão nhớ quê nơi: “đỉnh núi mờ xa” nhưng cần gì phải ra tới biển Vũng Tàu để khoe: “Nhà tôi có con trâu già sừng đẹp vai khỏe”, rồi “Trời thì ban xuống đất thì dâng lên” và lão than: “Khổ cho tôi một con trâu đã già”. Trong cái thân thể còm nhom kia ai mà tin được những điều lão nói. Nhưng không, biển cả bao la của Vũng Tàu đã làm cho lão Pờ hiểu sâu xa thêm những điều tưởng như bình dị của cuộc sống.

Câu đầu của bài thơ làm người đọc tò mò xem “khúc hát song ca” ấy như thế nào. Lão mượn cách nói của người miền núi một cách điêu luyện. Hình ảnh “sừng đẹp vai khỏe” làm người đọc bật cười và đằng sau ẩn dụ ấy là sức mạnh và khát vọng sinh sôi “Trâu chỉ gặm cỏ non gặm nhấm lân la” bởi thế “trâu” đủ sức “kéo cày phăng phăng… đường cày thẳng băng/ Dâng cho tôi bốn mùa ngô lúa thu tăng”. Từ “thu tăng” mới đọc tưởng như gợn nhưng càng đọc càng thấy có lý bởi cuộc sống như vậy đấy, mỗi ngày qua chất lượng cuộc sống phải tăng lên, tạo nên: “Hạnh phúc êm đềm…”. Sự logic của mạch thơ mang triết lý, nhân quả làm người đọc thích thú. Trong hạnh phúc ấy, Em hiện lên sao đẹp nhường vậy: “Trời thì ban xuống đất thì dâng lên/ Em ngồi đó hoa em bừng nở…”. Em do tạo hóa ban cho đời. Từ “ban” thật đắt giá nhất là khi đồng hành cùng từ “dâng lên” đón nhận và dâng hiến hết mình, trân quí điều tuyệt vời nhất tạo hóa ban cho. Hình ảnh “hoa em bừng nở” thật đăng đối với “sừng đẹp vai khỏe”. Cái điều khó nói ấy được lão Pờ diễn đạt một cách dung dị nhưng vô cùng sâu sắc. Lão thấy: “Biển thì xanh bãi cát thì già tóc cát trắng phau”, sự đối lập giữa biển xanh trẻ trung và “tóc cát…”, “Như tôi và em đang hiện hình đâu đó” để dẫn đến hình ảnh thật đẹp: “Em ngồi đó một đồng cỏ xanh nõn non tơ/ Tôi ngồi đây cây thông già bất động”. Chà, trước đồng cỏ “nõn non tơ” ấy làm con trâu già cảm động và hình ảnh lão Pờ say biển, say tình thật thi vị. Trước biển, thơ lão như chắt từ gan ruột: “Tôi ngồi đây… em ngồi đó…/ Như đồng cỏ xanh mướt non tơ”. Người đọc thương lão, thương mình khi phải tự thú sự bất lực: “Khổ cho tôi một con trâu đã già/ Trước đồng cỏ xanh mướt bao la”: Bài thơ dẫn người đọc tới qui luật của ngàn đời, âm dương rồi tình yêu được lão Pờ nói cứ nhẹ như không, cứ như: “Chuyện như từ trên trời rơi xuống”.

Trong bài nhiều hình thật đẹp như “nõn non tơ”, “lân la”… đúng là chiến thuật của trâu già nhưng phải chăng cũng phải biết thong thả, kiềm chế tận hưởng hương vị cỏ non, cũng như phải biết trân quí những gì tuyệt đẹp do tạo hóa ban tặng… Biển Vũng Tàu gợi thi tứ cho lão Pờ hay thơ lão Pờ làm biển thêm dậy sóng, chỉ biết rằng chuyện “Trâu già và bãi cỏ non” nhẹ như không nhưng sâu sắc, minh triết, chan chứa tình người và tình đời.

Vũng Tàu 30.5.2015

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 15 Apr 2016 lúc 5:17pm

Tạp cảm

 

Chưa viết giấy đã cũ

Chưa viết sông đã đầy

Đám cưới đi qua có người đứng khóc

 

Chưa viết chợ đã đông

Chưa viết đồng đã bạc

Người than thở vì mất mùa nhân nghĩa

 

Câu thơ đứng giữa trời

Vó nhện cất sương rơi

1988

HỮU THỈNH

 

 

LỜI BÌNH

 

Trong đời sống hiện đại, con người bất chợt thường có những âu lo trước biến động bất trắc của cuộc sống đời thường. Những khoảnh khắc tâm trạng này tác động vào thơ: Thơ trực cảm hơn, thảng thốt hơn và trải nghiệm hơn. Tốc độ chóng mặt biến đổi không ngừng của thời kinh tế thị trường phá vỡ tính cân đối mực thước bình ổn mang tính cổ điển buộc thơ quan tâm đến từng số phận éo le, những giới hạn mỏng manh với cái nhìn bình tĩnh và nhân văn; ở đó xuất hiện sự độc thoại, trăn trở đòi được đối thoại ở một tầng vỉa mới. Các thể tài văn học mang tính ngẫu hứng tìm đến những chất liệu xù xì thô ráp của cuộc sống như tạp bút, tạp văn, tạp cảm ghi lại những ngẫu cảm: “Chưa viết giấy đã cũ/ Chưa viết sông đã đầy” (trong bài thơ Tạp cảm của nhà thơ Hữu Thỉnh). Giấy cũ, sông đầy là một cách nói, Hữu Thỉnh rất tài hoa trong lối dùng chữ bình dị mà ám ảnh. Chữ đơn của ông thường gọi rất chính xác nhưng lại gợi cảm lung linh tung tẩy mà nén chặt. Giấy cũ, sông đầy là thời gian của tâm trạng để đẩy tới một thảng thốt bất chợt: “Đám cưới đi qua có người đứng khóc”, nghịch lý của đời thường thật trớ trêu mà thương cảm. Định lượng sông đầy có gì phấp phỏm, bản thân giấy cũ có gì nhạt nhoà không cụ thể, nhưng cảnh ngộ: kẻ khóc người cười trong đám cưới thì được nhà thơ trạm khắc rõ rệt và để ngõ gợi nỗi niềm xót xa. Chưa hết, những day dứt trăn trở ấy vẫn cứ đeo đẳng riết róng hơn, khi nhà thơ viết tiếp: “Chưa viết chợ đã đông/ Chưa viết đồng đã bạc”. Từ sông đầy đến chợ đông là cả một khoảng cách dù cùng nói về số nhiều, chợ đời hơn và tâm trạng hơn. Với giấy cũ đến đồng bạc đã có một bước chuyển hoá về bản chất; giấy cũ nhưng chưa chắc đã bạc, nhưng đồng tiền đã bạc thì thay đổi đến cả chất lượng sống, chất lượng giá trị tiêu dùng đã có sự can thiệp của con người (chủ nhân của đồng tiền) làm biến đổi cả cung bậc tình cảm, đến nỗi: “Người than thở vì mất mùa nhân nghĩa”. Mùa - là khoảng cách thời gian tuần hoàn thời tiết biến đổi trong năm, nhà thơ rất tinh tế khi chạm đến “mùa nhân nghĩa”. Vòng quay của nhịp điệu cuộc sống, của các mối quan hệ xã hội cộng đồng đã bị phá vỡ cấu trúc từ trong thẳm sâu tâm hồn con người. Cũng may mà người còn biết “than thở”, còn khao khát muốn được chia sẻ cộng cảm. Đó cũng chính là trách nhiệm của nhà thơ trước đời sống xã hội: “Câu thơ đứng giữa trời/ Vó nhện cất sương rơi”. Vó nhện đã mảnh mai, hạt sương lại càng mong manh hơn tạo ra một nghịch lý bất ổn. Mới hay sáng tạo thơ mới khó biết chừng nào. Hai câu thơ cuối thật hay này là một tình huống ứng xử nhiều cảm thông và hẫng hụt nhưng thiết tha trong trẻo muốn được quan tâm chia sẻ đến những thân phận bi kịch éo le, những ranh giới thiện ác khó rạch ròi. Chính “Tạp cảm” với những điều chưa viết (nhà thơ Hữu Thỉnh nhắc đến bốn lần) đó là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn viết của ông trước những biến động của xã hội, nhất là những năm cuối thập kỷ 80 lúc xuất hiện bài thơ này./.

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 20 Apr 2016 lúc 9:35am
TÂY BẮC

Bỏ lại phố phường bon chen
Ta về thung thăng với núi
Có màu lính giữa đại ngàn
Núi bỗng quên mình ngàn tuổi

Và thế là mùa xuân tới
Trong từng vó ngựa tuần tra
Nòng súng chán làm sắt thép
Muốn thành cây để trổ hoa

Con suối riu riu trầm mặc
Đã hoá chàng trai mộng mơ
Cỏ cây rực màu thiếu nữ
Rừng buông sương tím ỡm ờ…

Đất trời bồng bềnh men rượu
Em từ mây trắng bước ra
Ôi chao nàng tiên xuống chợ
Váy áo thông thênh nõn nà…

Ta cũng trẻ như trời biếc
Núi ngắm nhìn ta mơ màng
Thế rồi mùa xuân hào phóng
Tặng ta cả rừng hoa ban…

2005 - Trần Đăng Khoa

“Tây Bắc” được Trần Đăng Khoa viết vào mùa xuân năm 2005, nhân một chuyến công tác lên vùng biên cương phía Bắc. Dạo ấy, Trần Đăng Khoa hình như còn đang là thành viên của Nhà Số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội, vốn là “Tổng Hành Dinh” của Tạp chí “Văn nghệ Quân đội”. Một bài thơ vui, nồng ấm tình người, với thiên nhiên và con người Tây Bắc xa xôi mà gần gũi thân thương: “Bỏ lại phố phường bon chen / Ta về thung thăng với núi”…

Hai câu đầu, như một lời nói thường. Rằng có một người bỏ phố về rừng, chứ không phải bỏ làng ra phố như người đời vẫn thế! Từ nơi quê mùa lạc hậu, tiến ra phố ra phường, ra nơi văn minh đô hội, đó là khát vọng, là mơ ước đổi đời thông thường của bất cứ ai, cũng không có gì lạ. Trần Đăng Khoa đã làm một việc khác người, ấy là “bỏ lại phố phường bon chen / ta về thung thăng với núi”…Thuận lý, phải là từ phố mà lên rừng, lên với Tây Bắc cao cao…Nhưng với tác giả, là “về thung thăng với núi”. Nghĩa là Tây Bắc như thể vốn đã là quê hương thân thiết, như thể là nơi “ta” có thể thả hồn mình mà thung thăng bay nhảy, chẳng vướng bận bụi trần ai, có thể quên đi những bon chen vặt vãnh nơi phố phường mà thung thăng buông thả với thiên nhiên, với niềm vui tự do chân thực của chính mình. Từ “về” ở đây có vẻ trái lẽ thường, nhưng lại hợp quy luật tâm lý thông thường, trong văn cảnh này, lại thành ra một từ “đắt”, mà như phảng phất hơi hướng triết lý “Xuất-Xử” của Nho gia thời trước…

Thế nhưng, tác giả không phải là một nhà Nho tìm đường ẩn dật nơi núi rừng. Anh là một người lính “về” với Tây Bắc, về với biên cương xa xôi, với đồng đội, như một người thân cũ, để góp thêm một chút màu xanh nữa cho núi rừng Tây Bắc xanh hơn, tươi hơn, trẻ hơn! Thế nên, “có màu lính giữa đại ngàn / núi bỗng quên mình ngàn tuổi”…Vậy là những ngọn núi già nua, trầm mặc, bỗng dưng được đánh thức, dường như đang cựa mình trẻ lại, để xanh non cùng với màu lính trẻ trung hồn hậu. “Và thế là mùa xuân tới / trong từng vó ngựa tuần tra”. Và cái nòng súng bấy lâu vốn lạnh tanh sắt thép, chính nó, bây giờ cũng chán làm sắt thép, cũng “muốn thành cây để trổ hoa”. Câu “Nòng súng chán làm sắt thép / muốn thành cây để trổ hoa” là một câu thơ giản dị mà tình ý sâu sắc. Còn nhớ, chính Nguyễn Du từng viết trong một bài thơ chữ Hán, bài “Pháo đài”: … 

Trước kia thương tổn rất nhiều đến đức muốn sinh vật sinh tồn / Giờ đây không quý cái công giết người nữa / Trong buổi thanh bình không có chiến tranh / trâu bò cày bừa, chính giờ là lúc coi trọng nghề nông”…Tất nhiên, mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng chán ghét chiến tranh, yêu chuộng hoà bình, vốn là bản tính của con người ở mọi thời đại. Một dân tộc vốn chịu quá nhiều đau khổ vì chiến tranh như dân tộc ta, khát vọng hoà bình hơn bất cứ ai, trừ phi kẻ thù buộc chúng ta phải ôm lấy súng! Trần Đăng Khoa đã mượn hình tượng “khẩu súng chán làm sắt thép, muốn thành cây để trổ hoa”, để gửi gắm một ý tưởng lớn, một khát vọng hoà bình mang tính nhân bản, nhân văn và nhân loại phổ quát. Lại còn con suối ngày thường “riu riu trầm mặc / bỗng hoá chàng trai mộng mơ” . Lại còn cỏ cây nữa chứ, bây giờ cũng “rực màu thiếu nữ”. Và rừng thì “buông sương tím ỡm ờ”…Thiên nhiên dầy ắp hồn người, trong trẻo màu xuân tươi non, rưng rức màu yêu, tràn trề sức sống. Còn kia:

“Đất trời bồng bềnh men rượu / Em từ mây trắng bước ra / Ôi chao nàng tiên xuống chợ / Váy áo thông thênh nõn nà”

Cảnh say người, vì người mà nghiêng ngả bồng bềnh men rượu, hay thi nhân quá đắm say đất trời mà nghiêng ngả bồng bềnh ngây ngất? Có lẽ cũng không nên phân định rạch ròi giữa mơ và thực. Và đây là cái thực trong mơ: “Em từ mây trắng bước ra / Ôi chao nàng tiên xuống chợ / váy áo thông thênh nõn nà”…Một cô gái dân tộc Tây Bắc trẻ đẹp, bỗng bất ngờ hiện ra, như một nàng tiên bước ra từ mây trắng bồng bềnh men say, khiến thi nhân phải bất giác sững sờ mà kêu lên thán phục. Dường như vẻ đẹp của hoa khôi miền sơn cước như hớp hồn tác giả, choáng ngợp cả đất trời, rực rỡ và thánh thiện, như thể chính em đang bước ra từ cổ tích, như thể chính em mới là hồn vía của Tây Bắc vậy! Nhưng em là nàng tiên xuống chợ, là hiện thực nhãn tiền, hiện thực bước ra từ trong mây trắng, trong ảo giác hỗn mang. Một hình ảnh giản dị mà đẹp hiếm thấy trong thơ, làm ấm lại một vùng núi non lạnh lẽo…

Khổ thơ cuối cùng, cụ thể hơn cái đắm say hoà điệu của thiên nhiên và tác giả: “Ta cũng trẻ như trời biếc / núi ngắm nhìn ta mơ màng / thế rồi mùa xuân hào phóng / tặng ta cả rừng hoa ban”. 

Cảm xúc thơ được đẩy dần lên mãi, tươi vui, trong vắt, giãn nở như hơi thở của đất trời. Thủ pháp khoa trương và nhân hoá, như một thứ trang sức, nhuận sắc thêm, làm giàu thêm sức sống của ngôn ngữ giản dị. 

“Tây Bắc” của Trần Đăng Khoa chính là một sự thơ hoá hiện thực, hay là một hiện thực được thơ hoá? Có lẽ là cả hai! Một chút thăng hoa, cho dù là ngắn ngủi với Tây Bắc thân yêu giữa ngày xuân hôi hổi sắc màu, chính là thông điệp của lòng khát khao hướng thiện, chẳng đáng yêu sao?

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 20 Apr 2016 lúc 9:44am

NHỮNG GIỌT LỆ
                            Hàn Mặc Tử
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Để khối lòng tôi cứng tợ si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại
Lòng thương chưa đã , mến chưa bưa
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

    Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận hờn đến gần đứt sự sống
                            HÀN MẶC TỬ

    Những giọt lệ thơ đã bắt đầu bằng những lời tự vấn lòng mình trong nỗi ám ảnh của sự sống bị hủy diệt. Một lời van, một nỗi hờn, một cảm giác đớn đau vì thất tình đã hòa tan vầng mặt trời trong máu. “Bao giờ… bao giờ… bao giờ?”, tất cả những lời ấy như một cơn lốc xoáy cuộn tâm hồn vào chốn hư vô băng cứng. Đàng sau mong mỏi được chết là khát vọng sống riết róng; đàng sau lời chối bỏ tình yêu là trái tim ngộp thở vì yêu, đàng sau sự đóng băng xúc cảm là nỗi lòng đang tổn thương, lột xác trở về vẹn nguyên hình hài ban sơ yếu ớt run rẩy vì tuyệt vọng. Cảm giác ấy chỉ có thể và phải là Hàn Mặc Tử diễn đạt thì mới thực. Bởi nó được viết ra giữa lúc thống khổ dâng tràn.
    Ở đâu, cội nguồn của những tổn thương dày vò ấy? Là hoàn cảnh “họ đã xa rồi” ư? Nhân gian bao lần nhỏ lệ biệt ly! Hay là do “khôn níu lại”? Cũng chẳng có gì mới mẻ những nuối tiếc về một điều quí giá đã mất đi. Sự lý giải nằm ngay trong ẩn số của tâm hồn :
Lòng thương chưa đã , mến chưa bưa
    Đó là khát vọng mãnh liệt nhất đã tan thành mây khói, lững lờ trong những chữ “chưa” đau đáu khát khao. Nếu dùng chữ “không” để tăng thêm cảm giác tuyệt vọng thì thực chất bài thơ sẽ bị hỏng hoàn toàn. Có lẽ Hàn Mặc Tử cũng chẳng phải đắn đo những chữ “không” – “chưa” như một thi sĩ mới học nghề muốn cường điệu hóa cảm xúc. Bởi trong giờ phút ấy, chỉ có tấm lòng thành thực nhất mới tự nhiên kết thành chữ “chưa” đầy nước mắt, ám ảnh của những hạnh phúc đã trải qua và nỗi bất hạnh thực tại. Thời gian ngưng đọng trong khoảnh khắc để nhà thơ ý thức rất rõ khoảng trống chân không vô trọng lực của lòng mình. Tất cả quay cuồng, đảo lộn, là cảm nhận :
Tôi điên tôi nói như người dại
Van lạy không gian xóa những ngày
Là sự hòa trộn:
Xin dâng này máu đang tươi
Này đây tiếng khóc giọng cười chen nhau
Là nửa mê, nửa tỉnh, nửa chết nửa tồn tại :
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
Trong tiếng lòng của thi nhân, ta nghe một nỗi niềm thiết tha cùng cuộc sống, với con người. Tình Yêu ấy đâu chỉ là tình cảm lứa đôi mà còn là tình yêu lớn thi nhân dành cho đời. Vậy nên, trong giờ phút biệt ly thống khổ, nhà thơ đã bộc lộ niềm đau dâng lên đỉnh điểm.
    Khổ thơ cuối là sự diễn tả chi tiết của trạng thái thất tình, từ nhận thức đến vô thức, trong cái nhìn chập chờn ảo ảnh. Sẽ chẳng có gì đáng nói ở khổ thơ này ngoại trừ những dẫn chứng tuyệt đối chính xác cho một bác sĩ tâm thần học, nếu như không có “những giọt châu” khép lại bài thơ. Đó là phẩm chất của “những giọt lệ” tình. Để gọi về một Tình Yêu sống trọn với một “lòng thương” đang nức nở.

                                                        TRẦN HÀ NAM

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 09 May 2016 lúc 10:06am
BÌNH GIẢNG BÀI THƠ ĐẤT NƯỚC

“… Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoà thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…”



“Mặt đường khát vọng” là trường ca độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, ra đời trong chiến tranh ác liệt thời chống Mĩ, tại chiến trường Trị - Thiên - một điểm nóng - trên chiến trường miền Nam vào năm 1971. Bài thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về đất nước và nhân dân. Trong bài “Có một thời đại mới trong thi ca”, Trần Mạnh Hảo viết:

“Vào đêm giao thừa Tết âm lịch 1973 - 1974, dưới rừng Phước Long, chúng tôi xúc động nghe trích đoạn “Đất Nước” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm phát trên Đài phát thanh. Những suy nghĩ về đất nước, về dân tộc đã được nhà thơ hiện đại hoá bằng chất suy tư lắng đọng và cảm xúc mãnh liệt”.

“Đất Nước” - là chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng” dài 110 câu thơ (trong “Văn 12” chỉ trích 89 câu). Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về Đất Nước trong cội nguồn sâu xa văn hóa - lịch sử, và trong sự gắn bó thân thiết với đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt Nam. Phần thứ hai, cảm hứng chủ đạo về Đất Nước là sự ngợi ca, khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân. Từ đó, nhà thơ nhận diện phát hiện Đất Nước trên bình diện về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tinh thần dân tộc - nền văn hiến Việt Nam. Vẻ đẹp độc đáo của chương V “Đất Nước” là tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn hoá dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục…, cùng với cách diễn đạt bình dị, hiện đại gây ấn tượng vừa gần gũi vừa mới mẻ cho người đọc.

Mười ba câu thơ dưới đây trích trong phần đầu chương “Đất nước” thể hiện cảm nhận: Đất Nước gắn bó thân thiết với mỗi con người Việt nam:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

(…)

Làm nên Đất Nước muôn đời…”.

Trong chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”, hai từ Đất Nước và Nhân Dân đều được viết hoa, trở thành “mĩ tự” gợi lên không khí cao cả, thiêng liêng và biểu lộ cao độ cảm xúc yêu mến, tự hào về Đất Nước và Nhân Dân. Chủ thể trữ tình là “anh và em”, giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào. Cấu trúc đoạn thơ 13 câu thơ là cấu trúc tổng - phân - hợp mà ta cảm nhận được tính chất chính luận của ngòi bút thơ Nguyễn Khoa Điềm.

1. Hai câu thơ mở đoạn là sự thức nhận chân lý về cội nguồn, về truyền thống, về lịch sử,… Đất Nước gần gũi và gắn bó thân thiết với “anh và em”, với mọi người:

“Trong anh và em hôm nay

­Đều có một phần Đất Nước”.

Chỉ “một phần” nhỏ bé thôi, nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó, yêu thương và tự hào. Từ khái niệm, ý niệm “mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng, của Đất Nước” được diễn đạt một cách “mềm hóa” qua tiếng nói tâm tình của lứa đôi, của “anh và em”.

2. Bảy câu thơ tiếp theo mở rộng ý thơ trên từ “hai đứa” đến “mọi người”, từ “hôm nay” đến “ngày mai” và muôn đời mai sau.

“Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”.

Ở phần trước, nhà thơ cảm nhận: “Đất Nước là nơi anh đến trường - Nước là nơi em tắm - Đất Nước là nơi ta hò hẹn - Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. Và “khi hai đứa cầm tay” thì một mái ấm, tổ ấm gia đình đã được xây dựng. Gia đình là “một phần” của Đất Nước. Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự “hài hòa, nồng thắm” với tình yêu quê hương Đất Nước. Đó là bản chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới. Ý tưởng ấy đã được Nguyễn Đình Thi thể hiện trong một tứ thơ sâu và đằm về nỗi “nhớ”:

“Anh yêu em như anh yêu đất nước

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”.

Từ tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà biết yêu gia đình, yêu quê hương, yêu đất nước, mới có thể có tình nghĩa sâu nặng “Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”, mới tìm thấy đất nước quê hương cả trong niềm vui và nỗi đau của anh, của em, của bao lứa đôi khác:

“Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những lần trốn học bị đòn roi.

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi”.

(Giang Nam)

Nói về cội nguồn của giòng giống, của dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm nhắc lại sự tích “Trăm trứng”: “Đất là nơi Chim về - Nước là nơi Rồng ở - Lạc Long Quân và Âu Cơ - Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng - Những ai đã khuất - Những ai bây giờ…”. Từ huyền thoại thiêng liêng ấy mới có ý thơ này:

“Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn”

Hai chữ “cầm tay” trong câu thơ “Khi hai đứa cầm tay” có nghĩa là giao duyên, là yêu thương. “Khi hai chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồng bào,… Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mới có hình ảnh “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”, mới có đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh Việt Nam. Từ “hài hòa, nồng thắm” đến “vẹn tròn, to lớn” là cả một bước phát triển và đi lên của lịch sử dân tộc và đất nước. Đất Nước được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “lá lành đùm lá rách”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”.

Bốn câu thơ trên đây cấu tạo theo phép đối xứng về ngôn từ: “Khi hai đứa cầm tay”… “Khi chúng ta cầm tay mọi người”, “Đất Nước hài hoà nồng thắm…”. “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”. Cách diễn đạt uyển chuyển, sinh động ấy có ý nghĩa thẩm mĩ sâu sắc: hình thức này thể hiện nội dung ấy, nội dung ấy được diễn đạt bằng hình thức này. Phép đối xứng làm cho thơ liền mạch, hài hòa, gắn bó, thể hiện rõ ý thơ: tình yêu lứa đôi, tổ ấm hạnh phúc, gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc là những tình cảm đẹp, làm nên truyền thống “yêu nước, yêu nhà, yêu người” và đó là sức mạnh Việt Nam.

Đất nước “Nguồn thiêng ông cha”, đất nước “Trong anh và em hôm nay”, đất nước trong mai sau. Như một nhắn nhủ, như một kỳ vọng sáng ngời niềm tin:

“Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng”.

Nguyễn Thi, Anh Đức, Lê Anh Xuân, Sơn Nam… đã tạo nên giọng điệu Nam Bộ hấp dẫn trong thơ ca và truyện của mình. Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải,… cũng có một giọng điệu riêng “rất Huế”, dễ thương dịu ngọt. Hai tiếng “mai này” là cách nói của bà con xứ Huế.

Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước cha ông “Gánh vác phần người đi trước để lại” xây dựng đất nước ta “Vạn cổ thử giang sơn” (Trần Quang Khải), “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (Hồ Chí Minh). Hai chữ “lớn lên” biểu lộ một niềm tin về trí tuệ và bản lĩnh nhân dân trên hành trình lịch sử đi tới ngày mai tươi sáng. “Mơ mộng” nghĩa là rất đẹp, ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, một cường quốc văn minh. Điều mà “anh và em”, mỗi người chúng ta mơ mộng hôm nay, sẽ biến thành hiện thực “mai này” gần.

Bốn câu thơ cuối đoạn cảm xúc dâng lên thành cao trào. Giọng thơ trở nên ngọt ngào, say đắm khi nhà thơ nói lên những suy nghĩ sâu sắc, đẹp đẽ của mình:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…”

“Em ơi em” - một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về Đất Nước: “Đất Nước là máu xương của mình”. Đất nước là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu của mình, và mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời. Vì “Đất Nước là máu xương của mình” nên Trần Vàng Sao đã viết:

“Nuôi lớn người từ ngày mở đất,

Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật

Một tấc lòng cũng đẫy hồn Thánh Gióng”.

(“Bài thơ của một người yêu nước mình” 19/12/1967)

Với Nguyễn Khoa Điềm thì “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là những biểu hiện của tình yêu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao cả và thiêng liêng. “Phải biết gắn bó và san sẻ… phải biết hóa thân…” thì mới có thể “Làm nên Đất Nước muôn đời”. Điệp ngữ “phải biết” như một mệnh lệnh phát ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ, chấn động. Có biết trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời tại một nơi nóng bỏng, ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mỹ thì mới cảm nhận được các từ ngữ: “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là tiếng nói tâm huyết “mang sức mạnh ý chí và khát vọng vượt ra ngoài giới hạn thông tin của ngôn từ” như một nhà ngôn ngữ học lừng danh đã nói.

Trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến, đề tài quê hương đất nước được tô đậm bằng nhiều bài thơ kiệt tác, những đoạn thơ hay, những câu thơ tuyệt cú. Cảm hứng về đất nước được diễn tả bằng nhiều tứ thơ độc đáo, mang phong cách sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. Chất trữ tình thấm đẫm dư ba. Đất nước trong máu lửa mới mang cảm xúc sâu nặng thế. Đây là tiếng nói ở hai đầu đất nước:

“Tôi yêu đất nước này chân thật

Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi

Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi

Và yêu tôi đã biết làm người

Cứ trông đất nước mình thống nhất”

(Trần Vàng Sao)

“Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”.

(Chế Lan Viên)

Trở lại đoạn thơ trên đây của Nguyễn Khoa Điềm. Tứ thơ rất đẹp. Đất nước thân thương gắn bó với mọi người. Phải biết hiến dâng cho “Đất nước muôn đời”. Đoạn thơ đẹp còn vì sáng ngời niềm tin về tương lai Đất nước và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình hàm ẩn tính công dân của thời đại mới. Giọng thơ tâm tình, dịu ngọt, tứ thơ dạt dào cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh, thể hiện một hồn thơ giàu chất suy tư, khẳng định một thi pháp độc đáo, có nhiều mới mẻ tìm tòi.

“Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình…” - một tứ thơ rất đẹp! Một tứ thơ lung linh mang vẻ đẹp trí tuệ! Lúc hòa bình phải biết đem “trí lực” để xây dựng Đất Nước, “làm nên Đất Nước muôn đời”, Đất nước “to đẹp hơn đàng hoàng hơn”. Lúc có chiến tranh phải đem xương máu để bảo toàn Sông núi. “Gắn bó, san sẻ, hóa thân” cho Đất Nước, ấy là nghĩa vụ cao cả thiêng liêng, ấy là tình yêu Đất Nước của “anh và em” hôm nay, của thế hệ Việt Nam “Mai này con ta lớn lên”…
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 19 May 2016 lúc 4:20pm
Người lái đò bến My Lăng

(Kính tặng cố thi sĩ Yến Lan)

Chẳng còn gì nữa để cho
Liêu xiêu chiếc bóng lái đò bên sông
Buồn thì đã đẫm trong lòng
Vui thì đã gửi theo dòng trôi xa
Chỉ còn thưa thớt tiếng gà
Chỉ còn một dải trăng tà đi theo
Nghèo thì trở lại phận nghèo
Gió to sóng cả mái chèo run tay
Ước gì gối sách nằm say
Như xưa ông lão bến này đợi trăng

(Quy Nhơn tháng 9-2004)

Thông điệp tri âm với nhà thơ

Bài thơ Người lái đò bến My Lăng của nhà thơ Lệ Thu là trải nghiệm qua một đời cầm bút, được viết khi chị đã lui đàng sau “những danh vọng ồn ào, những vinh quang xí xố” (ý Chế Lan Viên). Tìm về với Yến Lan, Lệ Thu gửi chút lòng tri âm với nhà thơ xứ sở, bằng âm điệu lục bát như lắng đọng những suy tư thân phận và cả những nỗi niềm thế sự.

Bắt đầu bằng hoài niệm về lại bến sông, bến My Lăng dệt hồn thơ đầy ước vọng của một thời lãng mạn, kỵ mã đã xa rồi, chỉ còn lại bóng ông lái đò trên dòng sông đời định mệnh, chở bao buồn vui nhân thế. Vẫn là một tâm thế đầy băn khoăn giữa cho và nhận, được và mất của Lệ Thu, nhưng hai câu mở đầu của bài thơ này dường như có chút ngậm ngùi. Tôi còn nhớ một ý thơ Lệ Thu từng viết trước đó: “Cái còn lại sau nửa đời nhận, cho, sàng lọc – Là tình yêu muộn màng của anh…”, còn ở đây thì “chẳng còn gì nữa để cho”. Vậy phải chăng là hư vô, là ảo giác? Hay đó là lúc con người “ngộ” ra nhiều điều nhất? Có lẽ để hiểu hết bức thông điệp này của tác giả, e rằng phải có đủ thời gian sống và chiêm nghiệm. Còn như tôi, một kẻ hậu sinh, tóc chưa đủ bạc, sống chưa đủ nhiều, chưa qua những thăng trầm thời chiến – thời bình, chưa có những lúc đặt tính mạng mình lên bàn cân sinh tử, chưa từng qua cảm giác của thế hệ “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” như tác giả, e rằng mọi suy diễn đều dễ dẫn đến điều thất thố!

Chỉ biết, khi đọc những dòng thơ như rứt gan ruột ra mà đếm của Lệ Thu, tôi cũng ít nhiều cảm được những buồn vui phận người:

Buồn thì đã đẫm trong lòng

            Vui thì đã gửi theo dòng trôi xa

Buồn ấy, vui ấy đâu chỉ gói gọn trong thế giới riêng tư của một cá nhân, đó là tâm trạng của cả một thế hệ. Nỗi buồn “đẫm trong lòng” ấy còn ẩn chứa cả niềm trăn trở vì cuộc đời này. Dòng sông thời gian cuốn theo tuổi trẻ, mang bao niềm vui hoà vào biển lớn. Tâm trạng ông lão lái đò bến My Lăng trong thơ Lệ Thu không có cái yên bình “say trăng nằm gối sách” như ông lái đò của Yến Lan. Thực tại là nỗi buồn cùng cảm giác cô đơn khi đối diện cùng không gian quạnh quẽ:

Chỉ còn thưa thớt tiếng gà

            Chỉ còn một dải trăng tà đi theo

            Con đò – cuộc đời và dòng sông – định mệnh gắn với nghiệp lái đò cần mẫn có phút chòng chành trong cảm giác mỏi mệt và thấm thía:

Nghèo thì trở lại phận nghèo

            Gió to sóng cả mái chèo run tay

            Thật vậy chăng? Tôi nghĩ có lẽ đó là phút suy ngẫm có chút chua chát khi nghĩ về cuộc sống hiện tại của nhà thơ. Cái tâm trạng “con sãi ở chùa lại quét lá đa” như một ám ảnh bao đời quẩn quanh trong suy nghĩ của tác giả. Nhưng không phải là một nỗi tuyệt vọng hay chán nản đánh mất niềm tin vào sự sống, để buông tay. Chẳng qua là ý thức về bản thân về tuổi tác về sức lực mà thôi! Có “run tay” nhưng vẫn tiếp tục chèo chống, dẫu cho có lúc cảm thấy mình thật đơn độc, “liêu xiêu chiếc bóng lái đò bên sông”.

Vậy có gì gặp gỡ đồng cảm giữa Lệ Thu với Yến Lan trong mơ ước giản dị này:

            Ước gì gối sách nằm say

            Như xưa ông lão bến này đợi trăng.

            Tôi có cảm tưởng như Lệ Thu mượn hình tượng ông lái đò của chính Yến Lan để phác hoạ lại toàn bộ cuộc đời của ông qua những cặp lục bát. Có nỗi cảm thông chia sớt những tâm tư với nhà thơ của An Nhơn một đời lận đận. Điểm lại quãng đời thi sĩ Yến Lan buồn nhiều hơn vui, có lúc cô đơn vì bị cô lập, lặng lẽ với công việc biên tập thơ, trở về quê hương sống cảnh thanh bần đến khi lặng lẽ “gửi hồn lên tắm bến trăng cao”…Nhưng câu cuối, đâu chỉ là Lệ Thu nói về Yến Lan mà có cả niềm ước ao của chính nữ sĩ. Hình tượng ông lão “gối sách nằm say”, “đợi trăng” giàu chất thơ kia cũng là khoảnh khắc mong thoát khỏi những nỗi buồn ám ảnh, để bình thản sống giữa đời, gửi lòng vào thơ, vào ánh trăng khơi nguồn cảm hứng. Tôi chợt liên tưởng đến bài thơ của Yến Lan: “Trưa đọc Nam Hoa Kinh – tối nằm không hoá bướm – Mừng mình chủ được mình – Dậy thổi nồi khoai sớm” (Đọc Nam Hoa Kinh). Bởi vậy, dù Lệ Thu có ước như ông lão đợi trăng trên bến My Lăng, chắc hẳn cũng không phải là giấc mơ thoát tục, mà nữ sĩ vẫn nhẫn nại chống con đò thi ca trên dòng sông cuộc đời còn nhiều sóng cả này!

Trần Hà Nam

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 11 Feb 2017 lúc 8:42am
Xuân đang đến

Tết lại về
Người đi để lại câu thề vấn vương
Còn đây một áng thơ Đường
Tâm tình gửi nhớ người thương thuở nào.
Mưa lất phất
Gió lao xao
Mùa sang đôi lứa ngọt ngào bên nhau
Đường khuya xao xuyến muôn màu
Trầm hương thoang thoảng quyện lâu chẳng ngờ.
Môi si dại
Mắt ngây khờ
Tình thơ gửi gió hoang sơ đất trời
Chắc là vẫn nợ duyên đời
Cho nên lưu luyến không rời bước chân.
Ngồi sát lại
Xích thêm gần
Cho trăng ảo diệu thêm phần đẹp xinh
Người ơi giữ nhé câu tình
Cho Xuân ngào ngọt lung linh môi cười…
Minh Hien
*************
*

Mùa Xuân muôn thuở vẫn luôn là một khởi đầu ngọt ngào đấy cảm hứng với nhiều âm ba của sóng tình chao chọng. Xuân đất trời cứ đến rồi đi, nhưng Xuân trong lòng thì đôi khi thật lạ lúng, cứ trú ngụ bất hợp pháp trong những vành tim cháy bỏng thương yêu đôi lứa đang rộn ràng với hạnh phúc reo vui. Và XUÂN NỒNG của Nàng thơ MINH HIỀN cũng vậy, luôn đầy ắp những quãng nhạc l**g lộng trẻ trung thanh thoát và tình tự…
Xuân đang đến
Tết lại về
Người đi bỏ lại câu thề vấn vương
Còn đây một áng thơ Đường
Tâm tình gửi nhớ người thương thuở nào
Ở một đầu của sự nhớ thương, mùa Xuân chỉ về trong niềm nói “Trạng”. Trạng là bởi làm gì ở cái xứ nắng cháy da người vào quãng đầu năm mà lại có được lất phất mưa bụi bay bay kèm theo cái giá lạnh ngọt sắc như ở phía phía đầu bên kia thương nhớ! Ở đó có sương mù lãng đãng trên mặt hồ huyễn ào tình yêu, lượn lờ chập chùng trong những hàng cây riu ríu con đường thấp thoáng bóng dáng tình nhân quấn quyện…
Mưa lất phất
Gió lao xao
Mùa sang đôi lứa ngọt ngào bên nhau
Đường khuya xao xuyến muôn màu
Trầm hương thoang thoảng quyện lâu chẳng ngờ
Hình như nhờ có cái rét mà người ta cảm thấy ấm áp hơn khi bên nhau thủ thỉ tâm tình, cộng hưởng hơn hơi ấm từ những trái tim hừng hực lửa đam mê cháy bỏng đang san sẻ cho nhau. Để thấy lòng gắn bó hơn khi tựa vào nhau cùng đâm chồi nẩy lộc tô điểm cho vườn yêu giữa cội Xuân lòng. Có lẽ, trong cái nắng chan hòa của buổi đầu Xuân, miền Nam thiệt thòi không ít khi thiếu vắng chất xúc tác giá rét ngọt ngào khiến đôi lòng xích sát nhau hơn.
Môi si dại
Mắt ngây khờ
Tình thơ gửi gió hoang sơ đất trời
Ngẫm lại hình như nhờ duyên phận kết đôi nên cứ dùng dằng luyến lưu mãi trong nhau dẫu không ít lần bão giông tình đời giật xé không thương tiếc hai trái tim nhỏ nhoi và yếu ớt. Những cái hẹn thề của tiền kiếp mơ hồ vẳng lại buộc đời nhau trong ấm áp buổi Xuân về…
Chắc là vẫn nợ duyên đời
Cho nên lưu luyến không rời bước chân
Và rồi tất cả những hù dọa rét mướt của buổi tàn đông cũng qua đi, tan biến vào hư không dưới sức ấm của lưới lửa tình nhân hào trong nhau như bóng với hình. Và ve bỗng râm ran khi chúm chím môi nồng ngồn ngộn đổi trao những thông điệp tình yêu cháy bỏng ngàn đời trên nền trời diễm ái của những trái tim mùa Xuân ngọt xớt…
Ngồi sát lại
Xích thêm gần
Cho trăng ảo diệu thêm phần đẹp xinh
Người ơi giữ nhé câu tình
Cho Xuân ngào ngọt lung linh môi cười…
……………
Bằng thủ pháp “ngắt nhịp”, tác giả đã khiến bài thơ Lục bát truyền thống có kết cấu mạnh mẽ, dồn dập hơn cả về nhịp điệu lẫn tứ thơ khiến người đọc dường như cũng hối hả chạy theo cái cuồn cuộn đang dâng trào trong mỗi khổ thơ nồng nàn chất Xuân ngọt ngào tình tự…
Thơ Minh Hien chủ yếu thường khai thác đề tài tình yêu trong nhiều cung bậc, trạng thái... Dù vui hay buồn, hạnh phúc hoặc thương đau… thì giọng thơ vẫn lãng đãng nhẹ nhàng như ru lòng người vào cõi diễm tình man mác, không quá ồn ã khi cập bến bồng lai, cũng chẳng nhiều bi lụy khi vô tình chông chênh bên bờ vực thất vọng…
HANSY
IP IP Logged
<< Trước Trang  of 32
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.143 giây.