Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Kiến thức Văn học
 Diễn đàn :Phổ biến kiến thức :Kiến thức Văn học
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Trang  of 32 Tiếp >>
Tác giả Nội dung
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Chủ đề: Bình thơ
    Ngày gửi: 02 Sep 2010 lúc 7:56pm

 

Xin mạn phép mở chuyên mục này, trước hết là vì sự phong phú của sinh hoạt diễn đàn, thứ đến để giúp cho những ai yêu thích văn học có vài phút tĩnh tại nội tâm , cùng đồng cảm với cái đẹp đằng sau những vần thơ đặc sắc, ý nhị.
Những bài bình sưu tầm ở đây không mang tính chất là "chuẩn". Đơn giản đó chỉ là những ý kiến riêng có người đồng ý có người không. Rất mong các bạn góp thêm ý kiến để chúng ta cùng thấy hết nét hay, vẻ đẹp của các bài thơ "bất hủ".
 
 
'Dịu và nhẹ' - hay thơ tình gửi tới người tóc đã muối tiêu

 

 

Đọc bài thơ "Dịu và nhẹ" của Nguyễn Duy

Tạo hóa sinh ra người Nam và người Nữ để yêu nhau. Tình yêu sẽ đồng hành với con người trong suốt cuộc đời, dẫu qua thời gian nó lớn lên và biến đổi. Từ cái háo hức, nồng nàn thuở ban đầu tới sự đằm thắm, sâu nặng, dần dần hai người đã thành tính thành nết của nhau, tình yêu vẫn vậy, chẳng cũ đi bao giờ. Hoa theo mùa và tình yêu theo tuổi...

Ai từng đi qua cái trẻ trung của tình yêu đôi lứa cũng không khỏi ngỡ ngàng trước vị ngọt ngào, ấm áp của tình yêu lúc tuổi già đứng bóng, khi yêu thương đã hóa thành tình nghĩa.

Nguyễn Duy mang cái tâm thế ấy khi ông viết "Dịu và nhẹ" - một bài thơ nghe như tiếng tâm tình gửi tới người tóc đã muối tiêu.

Nhàm tai nghe rối tiếng ầm
dọn tai ta lắng tiếng ầm thế gian
Mùa xuân trở lại dịu dàng
Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều
Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
má hồng về xứ hồng hoang
tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi
Dịu dàng vang tiếng mắt cười
bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm
Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

Câu thơ đầu như một lời tự sự - làm lối mở để đi vào một thế giới dịu và nhẹ mà nhà thơ đã "lắng" được trong "tiếng thầm thế gian". Câu thơ tiếp mở ra một không gian mà thời gian đã tự nhiên chảy trôi vào trong đó: "Mùa xuân trở lại dịu dàng". Thiên nhiên vẫn tuần hoàn, không phải một mùa xuân đầu tiên nhưng đây là cái khoảnh khắc xuân đọng lại để nghe tiếng sự sống tí tách đâm chồi:

Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều

Ba dòng thơ cắt ra từ một câu thơ, lại cứ quấn quýt vào nhau bởi cái lối lặp từ tràn từ dòng trên xuống dòng dưới "nhẹ nhàng hương bay", "nhẹ nhàng lộc cựa". Sự trở lại, cái bắt đầu của một mùa xuân nhu nhú trong những hương và lộc... Sức sống như lây lan, như truyền dẫn, như tỏa vào không gian. Nếu theo cái logic ấy, mạch thơ ấy, thì bỗng dưng, dòng thơ thứ ba như bất ngờ, bởi tự nhiên nó ngưng đọng:

dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều

"Vương" chứ không phải là đang trôi. "Tím mây" chứ không phải là mây tím. Câu thơ tám chữ đang xuôi trong âm điệu thanh bằng bất chợt vút cao lên giữa dòng bởi hai thanh trắc và lối đảo từ độc đáo. Cao độ và sức hút của câu thơ xoáy vào một màu tím - như là một nét đậm vẽ ngang qua nền trời. Đoạn thơ trở nên giàu giá trị tạo hình và rất đường nét. Cái dải mây ngang chiều ấy tựa như là khung, là viền của bức tranh mùa xuân tràn đầy hương sắc, nổi bật giữa thiên nhiên.

Nhưng mà cái dáng điệu lững thững, ngưng nghỉ của dải mây màu tím ấy nghe ra như dáng hình tâm trạng, hay một chút vẩn lên trong tâm hồn thi nhân. Thật khó mà cắt nghĩa cho rạch ròi. Song, có lẽ đó là một sự chuyển giao, cái động đã nhường chỗ cho cái tĩnh. Sự rạo rực đã lắng lại trước những gì thâm trầm, thực sự dịu và rất nhẹ.

Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
má hồng về xứ hồng hoang
tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi

Nguyễn Duy thường dùng lục bát. Thơ mà đã lục bát thường không thoát ra ngoài cái giọng ân tình, ân nghĩa, yêu thương. Lục bát là cảm xúc nén vào trong câu lục để rồi tãi ra trong câu bát - nhẹ nhàng như nhịp thở. Thơ không đua chen được với văn xuôi ở sự giàu có các chi tiết, song một khi chi tiết đã đi vào thơ thì đó là những gì đã được chọn lọc nghiệt ngã nhất. "Tiếng bóng xiêu xiêu", "tóc muối tiêu" và "má hồng".

Dân gian sâu sắc và ý nhị vô cùng khi hài hước trong ca dao:

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu

Thơ yêu chồng và thương chồng nhiều; thơ yêu vợ và thương vợ chỉ thảng hoặc như cầu vồng sau mưa. Âu đấy cũng là cái sự mau nước mắt của đàn bà và cái quý giá của nước mắt đàn ông. Đành là thơ yêu chồng hay như thơ Xuân Quỳnh... thơ yêu vợ cũng nồng nàn và xúc động như thơ Tú Xương... và đến bây giờ là Nguyễn Duy. Trong thơ Nguyễn Duy còn ẩn chứa một nụ cười hóm hỉnh, đáng yêu.

Bài thơ "Vợ ốm", nhà thơ viết:

Thông thường thượng giới rong chơi
Trần gian choang choác sự đời tùy em
...

Cha con chúa chổm loanh quanh
Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
Việc thiên, việc địa, việc nhà
Một mình anh vãi cả ba linh hồn

Trở lại với buổi chiều mùa xuân, có người chồng ngồi ngắm vợ yêu chải tóc. Còn gì dịu dàng cho bằng hình ảnh người phụ nữ ngồi chải mái tóc dài. Nguyễn Duy đã "lạ hóa" cái cảm nhận dân gian quen thuộc ấy bằng một mái tóc muối tiêu. Suy cho cùng, cái lạ, cái xúc động không phải ở bản thân người phụ nữ mà ở trong cái nhìn của người đàn ông. Tóc xanh là tài sản độc quyền của một thời tuổi trẻ song mái tóc hai màu mới chứng tỏ được lòng thủy chung và tình yêu bền bỉ. Có một dòng chảy lạnh lùng của thời gian trong câu thơ vắt làm 4 dòng ấy. Thời gian đi qua màu hồng đôi má, đổ vào bóng dáng xiêu xiêu và nhuộm màu mái tóc. Mọi thứ đều biến đổi trong thời gian song có một thứ tình cảm vẫn nguyên sơ như những ngày xưa cũ, chỉ có điều giờ trở nên đằm thắm hơn, trong yêu thương có nỗi xót xa, cảm thông và chia sẻ:

tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi

Ý thơ tuôn ra theo điểm nhìn của cái tôi trữ tình. Cái nhìn không giấu nổi nỗi bất lực trước thời gian. Sự bất lực là có thực song niềm đau xót cũng rất đỗi chân thành. Yêu lắm và sẻ chia nhiều lắm thì nhà thơ mới có nhiều cung bậc tình cảm chất chứa đến như thế khi nhìn thấy bóng người vợ yêu phía bên kia dốc của cuộc đời. Vẫn còn đắm say với vẻ dịu dàng; vẫn đầy hóm hỉnh, nghịch ngợm với má hồng ký ức và đầy xót xa trước mỗi sợi tóc rơi. Tấm lòng của một người đàn ông bao dung và độ lượng; trìu mến và thủy chung.

Thơ là "từ ngữ được tự do phô ra toàn bộ ruột gan, toàn bộ ý nghĩ và ám thị, như một trái cây chín muồi hoặc như một tên lửa nổ tung giữa bầu trời. Nhà thơ giải thoát cho chất liệu của mình" (Octavio Paz). Có phải vì thế mà thơ nói được nhiều hơn cái ẩn chứa trong lời?

Dịu dàng vang tiếng mắt cười
bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm

Dòng thời gian vẫn là sự ngoái lại quá khứ từ điểm nhìn hiện tại song dấu ấn thời gian đã nhạt dần sự khắc nghiệt của nó. Nguyễn Duy là người sáng tạo mạnh mẽ trong cấu trúc câu thơ lục bát. Mỗi câu thơ tách ra làm một đoạn, như là một quãng ngắt. Nó là những nhịp gấp gáp được nối liền bằng những khoảng lặng. Ngưng nghỉ để lắng vào trong cái nhẹ của đất trời và cái dịu của lòng người.

Bài thơ lặp lại 4 lần từ "nhẹ nhàng" và 4 lần từ "dịu dàng". Xét về từ nguyên, "nhẹ nhàng" và "dịu dàng" đều diễn tả sự mềm mại, uyển chuyển. Song đi vào từng sắc thái, "dịu dàng" thiên về hình khối và tĩnh; "nhẹ nhàng" nghiêng về thanh âm và động. Có những câu thơ, nhà thơ chọn từ không thể thay thế như: "nhẹ nhàng lộc cựa nách cây" và "em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng".

Nhưng cái hay của thơ không giới hạn ở sự chính xác. Có những sai lạc vẫn là thơ. Tại sao lại là "nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu" và "dịu dàng vang tiếng mắt cười". "Bóng" là hình, "bóng xiêu xiêu" lại càng tượng hình. Nhưng "nhẹ nhàng tiếng bóng" thì rõ là âm thanh. Mắt có cười song không có mắt cười thành tiếng để nghe thấy "dịu dàng". Toàn bộ bí ẩn được giải mã bằng nghệ thuật lồng ghép hình và thanh vào trong câu thơ tạo nên sức gợi cảm sâu xa của hình ảnh.

"Bóng xiêu xiêu" là bóng gầy, bóng héo hon thì âu tiếng bóng cũng khẽ khàng và nhẹ nhàng. Hình ảnh bỗng mang theo âm thanh.

Đôi mắt biết cười trước chiều dài tháng năm đầy thử thách, sấm chớp gian lao thì ánh mắt ấy vọng về những âm thanh dịu dàng và yêu thương lắm. Đấy là tiếng được cảm nhận qua sự nhìn của thi nhân.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có những hình ảnh rất sáng tạo trong bài thơ "Về những trái cây đang chín..." rằng:

Tôi đi qua những cành, tôi đi qua những lá
Ký ức đôi khi mắc lại cô đơn như một trái còi

Những kỷ niệm buồn thực như một thứ quả lạc giữa mùa trái chín, dai dẳng mà không rụng, vướng vào cành, vào lá, vướng vào cả mùa sau. Ký ức trong bài thơ "Dịu và nhẹ" được cởi bỏ một cách nhẹ nhàng hơn:

bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm
Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

Giọt nước mắt đã lăn qua "một thời sấm chớp", qua "nợ tháng nợ năm" bao giờ cũng trĩu nặng. Nhưng có lẽ nó được thấu suốt bởi tấm lòng bao dung, vị tha của người phụ nữ và sự vỗ về đầy yêu thương của người đàn ông nên mới nhẹ nhàng đến vậy. R. Tagore đã có những câu thơ đầy triết lý về niềm vui và nỗi đau:

Niềm vui mỏng mảnh như hạt sương
Nó chết ngay trong lúc nó cười
Nhưng sầu muộn thì vững vàng bền bỉ
Hãy để cho tình yêu sầu muộn
Bừng lên trong đôi mắt của em

Chỉ có sự trải nghiệm mới thấu hiểu "giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng" là giọt buồn hay vui. Có lẽ đó là hạnh phúc có ngấm vào cay đắng, có niềm vui xuyên qua nỗi buồn, có tình nghĩa đã khởi nguồn từ tình yêu. Dẫu có thế nào đi nữa thì đó vẫn là giọt nước mắt thanh lọc tâm hồn, đem đến tình yêu nhân ái, bao dung.

Đọc lại câu thơ đầu trong sự liên kết với câu thơ cuối

Nhàm tai nghe rối tiếng ầm
dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian



Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

người ta sẽ thấy bài thơ là cả một quá trình thức nhận. Từ cái tâm thế chủ động "dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian", qua sự sững sờ trước "tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi", cho đến sự sẻ chia ấm áp đến ngỡ ngàng trước tiếng "nước mắt lăn", cấu trúc bài thơ đưa đến những cảm nhận sâu sắc, triết lý về những gì quý giá, vĩnh hằng trong cuộc sống. Trong cái ồ ạt của cuộc sống hiện đại, nếu không biết lắng nghe, người ta dễ vô tình đánh rơi những âm thanh "dịu và nhẹ" nhưng rất đỗi mến thương với con người. Đó là thơ của một người gửi cho một người nhưng cũng là thơ cho cả một thế hệ, cho cả tương lai của những tình yêu vừa chớm nở.

"Dịu và nhẹ" như là một âm thanh - lạc vào giữa những ồn ào, gấp gáp nhưng sẽ còn đọng lại rất đằm và rất sâu trong những tâm hồn biết đón nhận và nâng niu.

IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 14 Oct 2010 lúc 4:39pm

Kết cấu nghệ thuật của bài thơ

“LÁ DIÊU BÔNG”

 

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều

Cuống giạ

Chị bảo

- Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng


 

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày

- Đâu phải lá Diêu Bông

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu

trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt chị không nhìn

Từ buổi ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hỡi!...

… ới Diêu Bông!...

Hoàng Cầm

(Rút trong tập “Mưa Thuận Thành”)

Bố cục bài thơ khá đơn giản: chị đi tìm. Em đi tìm.. Kết cấu nghệ thuật xem ra lại độc đáo. Giữa hai cuộc tìm luôn ẩn hiện một chiếc lá Diêu Bông. Hư ảo và hiện thực. Cũng là một cái cớ, mà cớ chị là để chối từ, với em lại là để bươn tới.

Duyên dáng và kiêu sa với nếp váy Đình Bảng buông chùng cửa võng. Cô gái Kinh Bắc được gọi bằng “chị” ấy thẩn thơ tìm gì? Còn có gì khác hơn là tình yêu, hạnh phúc mà tụ lại là hình bóng người tình lý tưởng của mình! Với chị, đó là cái đẹp cần hướng tới. Tiếc thay, trước mắt chị chỉ là Đồng chiều – Cuống giạ, một khoảng hư không trống vắng, vô vọng.

Rồi chị thách: “Đứa nào tìm được lá Diêu Bông. Từ nay ta gọi là chồng”. Chị gọi là đứa, chị xưng là ta! Chị chối từ hay đùa cợt? Nhận lời thách hoang tưởng ấy, lá Diêu Bông khác nào “Voi chín ngà… gà chín cựa, ngựa chín hồng mao…” Sơn Tinh là thần, Sơn Tinh tìm được, đứa kia là người, thậm chí một chú “chíp hôi”, làm sao mà tìm nổi!

Thế là cuộc tìm kiếm của em chính thức bắt đầu, lẳng lặng mà ráo riết, mà bền bỉ dẻo dai. Bởi vì, người đẹp lý tưởng của em chính là chị! Bi kịch cũng bắt đầu từ đó. Giữa chị và em có một bức tường trong suốt, lạnh lùng. Hiển hiện đó thôi mà quá tầm tay với. Mặc lòng, đã là khát vọng em chấp nhận mọi giá trị để vươn tới, vươn tới cùng. Chiếc “diêu lá” chị nêu ra tưởng để chối từ một cách chắc ăn nhất, lại là cơ may cho em có để tiếp cận chị một cách “hợp pháp” nhất.

Từ sốt sắng, “hai ngày sau” đến tái hồi “mùa đông sau” từ oái oăm “ngày cưới chị” đến tàn tạ héo mòn “chị ba con”, em vẫn đeo đuổi, bám riết. Chị “chau mày” kháo khỉnh,


 

chị “lắc đầu” thờ ơ, chị “cười” quay lưng an phận, chị “xòe tay phủ mặt” ai điếu khâm niệm thời son trẻ của mình… mặc, không gì dừng được tình cảm em tha thiết chị. “Đành lòng vậy, cầm lòng vậy?” như khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan, nó không hề tan trong những chiều Diêu Bông, nó sẽ nhập hồn vào gió quê mà cất lên cái tiếng kêu bạt gió u ẩn của mình… Khối tình ấy, cũng đã quặn lên trong một bài thơ khác, bài “Quả vườn ổi”:

Lẻo đẻo em đi vườn mai sau

Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng

Ai đã nói “chờ đợi là một điều khủng khiếp, nhưng không có gì để chờ đợi lại càng khủng khiếp hơn ngàn vạn lần”. Người em gần như linh nghiệm với vế thứ nhất, còn chị, oái oăm thay đã vận vào vế thứ hai. Chị cũng tìm, mà cuộc kiếm tìm của chị mấy ai ngó ngàng. Chỉ có nỗi đau nhói lòng – Nỗi đau không cất nổi thành lời như em. Chị như con chim tắt tiếng, chỉ biết “cau mày”, “lắc đầu”, “phủ mặt”. Chị làm gì có cái để chờ đợi, hướng tới! Đến tuổi thì chị đành đến với một người chị gọi là chồng và tìm lấy những niềm vui “chỉ ấm trôn kim”, thế thôi. Em cầm chiếc lá xoay quanh chị, với em là mảnh hy vọng, với chị là dao cứa lòng. Một bi kịch ngược chiều! “Xòe tay che mặt chị không nhìn” phải chăng là một cách trốn chạy thực tế; là sự đau xót đến tận cùng của thân phận…

Kiếm tìm hay đuổi bắt, kẻ càng đến gần người càng lùi xa… Mỗi đời người đều hướng tới người lý tưởng, có người không tìm thấy, có người đã thấy nhưng dường như số phận không dành cho mình. Đau nhất là, do một ngẫu nhiên mù quáng nào đó của định mệnh, hai người kia lại bị ghép thành một cặp!... Cuộc kiếm tìm, đuổi bắt sẽ vĩnh viễn đau thương!

Có phải đó là một lý do khiến “Lá Diêu Bông” cứ khắc khoải xanh nơi đáy lòng của mỗi người đã từng yêu dấu, từng kỳ vọng khát khao

IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 14 Oct 2010 lúc 4:57pm

Suy ngẫm từ “Gửi em – cô thanh niên xung phong” (Phạm Tiến Duật)

1. Sáng tác ngay trên đất lửa ác liệt của khu IV Hà Tĩnh, nơi “giặc điên cuồng trút hàng vạn bom rơi” . Vẻ đẹp những o thanh niên xung phong quả cảm đã đi vào nhiều bài thơ bài hát ca ngợi, nhưng có thể nói bài thơ của Phạm Tiến Duật giúp ta nhận ra rõ dáng nét, tâm hồn của cả một thế hệ thanh niên, những người con gái bằng xương bằng thịt mà lại có sức sống mãnh liệt vượt lên bom đạn.

2. Thơ kháng chiến chống Mỹ gắn với tuyến đường Trường Sơn có nhiều bài sâu sắc mà cảm động, lại rất giàu chất hiện thực. Chính không khí của những ngày chống Mỹ làm nên cảm hứng thơ ca hướng về với con người - biểu trưng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Thơ của Phạm Tiến Duật, người chiến sĩ lái xe, viết ngay trong mưa bom bão đạn mà lại tươi rói sức sống tuổi xuân của một lớp người trưởng thành từ thực tế chiến đấu đã được đông đảo quần chúng đón nhận. Thô ráp, một mạc mà lại rất sinh động, tươi trẻ, chứa đựng tinh thần lạc quan của thế hệ chống Mỹ. Có lúc đằm sâu trong Nhớ, có lúc ngang tàng phóng khoáng bụi bặm đầy chất lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Riêng bài thơ này đã lý giải một tình yêu người lính – tình cảm trong chiến đấu, nảy nở giữa chiến trường, nơi sự sống – cái chết cách nhau một ranh giới mong manh đã ghi đậm dấu ấn tâm hồn tuổi thanh xuân trong hình tượng cô thanh niên xung phong.

3. Cũng như nhiều bài thơ trong giai đoạn này ngồn ngộn những chất liệu hiện thực, tác phẩm của Phạm Tiến Duật kể về cuộc gặp gỡ với những nữ thanh niên xung phong mà trung tâm chính là em - một cô gái không không nhìn rõ mặt. Từ cuộc gặp gỡ cụ thể ấy, nhà thơ đã nâng tầm nhân vật trữ tình thành bức tượng đài nghệ thuật ngôn từ về lực lượng thanh niên xung phong thời chống Mỹ.

4. Cái may mắn của thế hệ hiện nay là được hưởng hoà bình và được hưởng thụ nhiều tiện nghi về vật chất cũng như tinh thần. Nhưng sẽ là một thiệt thòi nếu thiếu những hiểu biết về một thời dân tộc đã anh dũng lập nên bao chiến công, không cảm nhận được về con người của một thời đã trực tiếp viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc. Sẽ là một thiếu sót nếu thế hệ hôm nay lãng quên quá khứ. Chúng ta thường dễ xúc động trước những người ngã xuống vì lý tưởng độc lập tự do của dân tộc, dễ cảm thương trước những thiệt thòi hôm nay của các o pháo binh Ngư Thủy, các o TNXP Đồng Lộc mà có thể không hiểu được rằng: vào thời ấy, họ đã phải hy sinh lặng thầm, không hề tính toán thiệt hơn.

5. Những bài thơ của một thời có thể sẽ bị chìm vào quên lãng, lạc lõng trước những âm thanh hip-hop, rock-rap hiện đại. Nhưng nếu ta chịu khó hiểu, ta sẽ sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân và đất nước mình. Hãy đọc và cùng hoà vào cảm xúc rất trong trẻo của thời đại chống Mỹ ở bài thơ này, ta sẽ hiểu thế nào là Sự Sống, Tình Yêu mạnh hơn bom đạn và cái chết./.

                                                                                    Trần Hà Nam
Gửi em, cô thanh niên xung phong (Phạm Tiến Duật)
Có lẽ nào anh lại mê em
M
ột cô gái không nhìn rõ mặt
Ð
ại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình nh
ư trắng nhất

Ng
ười tinh nghịch là anh dễ thân
B
ởi vì thế có em đứng gần
Em
ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn"
Ðêm ranh mãnh ng
ăn cái nhìn đưa đón

Em
đóng cọc rào quanh hố bom
Cái mi
ệng em ngoa cho bạn cười giòn
Ti
ếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh l
ặng người như trôi trong tiếng ru.

Tranh th
ủ có ánh sáng đèn dù
Anh v
ội nhìn em và bạn em khắp lượt
M
ọi người cũng tò mò nhìn anh
R
ồi bóng tối lại khép vào bóng tối

Em
ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong
đọan đường này các em làm đâu
Anh
đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái
ở Thạch Kim Thạch Nhọn
Kh
ăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách gi
ấy mở tung trắng cả rừng chiều.

Anh
đã đi rất nhiều, rất nhiều
Nh
ững con đường như tình yêu mới mẻ
Ð
ất rất hồng và người rất trẻ
Nh
ưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim

Nh
ững đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cu
ốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
R
ực rỡ mặt đất bình minh
H
ấp hối chân trời pháo sáng
Ð
ường trong tim anh in những dấu chân.

Chi
ếc võng bạc trên đường hành quân
Anh
đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
L
ại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?

B
ụi mù trời mùa hanh
N
ước trắng khe mùa lũ
Ðêm r
ộng dài là đêm không ngủ
Em v
ẫn đi, đường vẫn liền đường

C
ạnh giếng nước có bom từ trường
En không r
ửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhi
ểu bom nổ chậm
Ðêm n
ằm mơ nói mớ vang nhà
Chuy
ện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Th
ương em, thương em, thương em biết mấy...

D
ừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
S
ẽ giật mình đường mới ta xây
Ðã có
độ dài hơn cả độ dài
C
ủa đường xá đời xưa để lại
S
ẽ ra về bao nhiêu cô gái
M
ột ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Ð
ể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Tr
ước những công trình ngoằn ngòeo trên mặt đất.

Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có l
ẽ nào anh lại mê em
T
ừ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em
đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong.
 

IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 04 Jan 2011 lúc 6:15am
 
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
Bà Huyện Thanh Quan

“ Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

( Qua đèo Ngang)

“ Nhớ nước” – “ Thương nhà” là hai dòng tình cảm sâu sắc của Bà Huyện Thanh Quan. “ Nhớ nước”, bà có bài thơ “ Thăng Long thành hoài cổ”, “ Thương nhà”, bà có bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà”. Dưới triều Tự Đức, bà được mời về kinh nhậm chức Cung trung giáo tập để dạy các công chúa, cung phi. Sống trong cung đình, nhưng bà tự coi mình như kẻ “ lữ thứ”, tấm lòng của bà luôn luôn hướng về chốn “ Chương Đài”. Tâm sự thương nhà của bà được diễn tả một cách tài hoa trong bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà”:

“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn,
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?”


Bà Huyện Thanh Quan đã chọn luật bằng vần bằng cho bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” ( Bài “ Thăng Long thành hoài cổ” là luật trắc vần bằng) hợp với điệu hoài cảm của tâm hồn thi nhân. Mở đầu bài thơ là hình ảnh buổi hoàng hôn với điệu nhạc chiều êm ái, thổn thức:

“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn”


Trong cả ba bài thơ nổi tiếng, bà Huyện Thanh Quan đều nói đến chiều tà.

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà”
( Qua đèo Ngang )

“ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
( Thăng Long thành hoài cổ )

“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn”

Từ “ bảng lảng ” tả ánh sáng buổi hoàng hôn thật là đặc sắc. Cảm nhận về ánh sáng như vậy thật là thi sĩ. “ Bảng lảng” là ánh nắng đã nhạt, loãng, yếu ớt của buổi chiều tàn. Ánh nắng hạ xuống thì nhạc chiều nổi lên . Điệu nhạc trầm buồn của “ tiếng ốc” từ xa đưa lại , tiếng trống cũng xa, chỉ nghe văng vẳng nhưng dồn dập thổn thức. Cái tôi trữ tình của thi nhân lặng phía sau hình ảnh và âm thanh . Cái gì nữ sĩ nhìn thấy , gần gũi thì nhạt nhòa, tàn phai. Nữ sĩ lắng nghe, đón nhận những âm thanh vang từ xa, cho nên khúc nhạc chiều trầm buồn đó cũng là khúc nhạc lòng của thi nhân.

Nhà thơ mở rộng không gian của buổi hoàng hôn, trở về với những hình ảnh gần gũi thân quen của những người lao động:

“ Gác mái , ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn”


Bà Huyện Thanh Quan vẫn không thoát khỏi những đề tài “ ngư , tiều, canh, mục” quen thuộc trong thơ cổ điển . Nhưng bà vẫn có sáng tạo riêng. Bà chỉ chọn hai nhân vật cho buổi “ chiều hôm” là “ ngư ông” và “ mục tử”. Nét linh hoạt của câu thơ là ở những cử chỉ của nhân vật. Hai cử chỉ nghịch nhau mà lại cùng diễn tả một ý tưởng . “ Gác mái” là ngư ông nghỉ ngơi, đảo vị ngữ “ Gác mái” càng nhấn mạnh sự nghỉ ngơi thư thái của ngư ông. “ Gõ sừng” cũng được đảo ra phía trước để nhấn mạnh cử động của mục tử ( người chăn trâu ) nhưng là cử động trở về, nghỉ ngơi. Nhưng cả ngư ông và mục tử trên đường trở về đều có khoảng cách “ ngư ông về viễn phố”, ngư ông về bến xa, “ mục tử lại cô thôn”, người chăn trâu về xóm lẻ loi. Khoảng cách ấy cũng là khoảng cách trong lòng thi nhân với quê hương xứ sở của mình, thành ra có ba con người , ngư ông, mục tử và nữ sĩ chẳng gắn bó gì với nhau cả lại cùng giống nhau ở một điểm là chiều hôm, mỗi người đều hướng về nơi chốn thân yêu của mình. Tóm lại, hai câu thực đã thể hiện một cách tài hoa chủ đề “ chiều hôm nhớ nhà”.

Chuyển sang hai câu luận, không gian thơ được mở lên chiều cao với những hoạt động của thiên nhiên trong buổi “ chiều hôm”:

“ Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn”


Hình ảnh thật đẹp , thật gợi cảm. Nhà thơ đã chọn được những tín hiệu thẩm mĩ có khả năng diễn tả tâm tình của thi nhân. Hình ảnh “ ngàn mai gió cuốn” vừa rộng lớn, thoáng , vừa sôi động. Rừng mơ bạt ngàn càng thấy sự lẻ loi đơn chiếc của thi nhân , hình ảnh “ gió cuốn” gợi sự xao động bên trong của nữ sĩ . Hình ảnh cánh chim chiều “ bay mỏi” cũng gợi tâm trạng của thi nhân.Làm sao giữa không gian bạt ngàn của rừng mai mà nhận ra “ chim bay mỏi”? Phải có con mắt rất tinh, nhưng như thế vẫn chưa đủ, phải là con mắt của tấm lòng. Còn “ dặm liễu” thì thơ mộng mà “ dặm liễu sương sa” thì vừa thơ mộng vừa lạnh lẽo. Cái lạnh của sương chiều đã thúc bước chân của người đi đường “ khách bước dồn”. Cái hay của hai câu luận là không gian được mở ra với những hình ảnh đẹp, thơ mộng, gợi cảm và chủ đề “ Chiều hôm nhớ nhà” cũng mở ra đến chiều sâu thẳm. Chỉ tiếc là từ “ dồn” ( bước dồn) trong câu luận đã lặp lại từ “ dồn” ( trống dồn) trong câu thừa đề khiến cho bài thơ nghèo đi một chút.

Dòng tình cảm ngầm chảy suốt qua các hình ảnh và nhạc điệu đến đây lộ ra tha thiết, nồng nàn:

“ Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?”


Nữ sĩ dùng những từ phiếm chỉ như “ kẻ”, “người”, “ai” vừa thuận với thi pháp “ phi ngã” ( không có cái tôi) thời bấy giờ mà cũng vừa hợp với tâm tình của thi nhân , tha thiết nhưng không ủy mị( người trí mà!), nồng nàn nhưng vẫn e ấp. “ Kẻ chốn Chương Đài” là tác giả dùng điển cố. Xưa có người gửi thư về cho vợ là Liễu Thị hỏi : “ Cây liễu Chương Đài xanh xanh trước kia nay còn không?”. Và từ đó “ Chương Đài” thành ước lệ quê nhà trong văn chương . “ Kẻ chốn Chương Đài , người lữ thứ” là kẻ ở quê nhà, người ở quán trọ ( lữ thứ ) xa xôi cách trở. Nữ sĩ dùng chữ “ lữ thứ “ thật bất ngờ. Bà đang dạy học cho các công chúa và cung phi trong cung vua, còn đâu hoa lệ và sang trọng hơn?. Vậy mà nữ sĩ coi đấy cũng chẳng qua là quán trọ. Tác giả dùng từ Hán Việt “ lữ thứ ” phần nào trung hòa được tinh thần ngạo mạn của bà. Cho nên trong sâu thẳm tình cảm nhớ nhà của bà là tình nhớ nước. Bà chẳng tha thiết, chẳng gắn bó gì với triều đại đương thời, nữ sĩ cảm thấy như bị lưu đày nơi đất khách quê người. Và câu hỏi tu từ “ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” càng trào dâng lên nỗi nhớ nhà của kẻ “lữ thứ”.

Bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” được Bà Huyện Thanh Quan viết theo bút pháp tả cảnh gợi tình quen thuộc trong thơ cổ điển. Từng hình ảnh , từng âm thanh đều gợi đến tâm trạng nhớ nhà của nữ sĩ. Nỗi nhớ nhà của nữ sĩ thật là thâm trầm, sâu sắc, nhân bản. Trong quan hệ xã hội, bà không được chia sẻ, sống với một triều đại mà bà chỉ hướng về ánh hào quang của quá khứ, “ một mảnh tình riêng ta với ta “ ( Qua Đèo Ngang ) nên bà dồn tình cảm nhớ thương cho gia đình , cho những người thân yêu. Trước tình trạng lỏng lẻo của những mối quan hệ gia đình hiện nay thì một tiếng thơ ( cũng là tiếng lòng ) của Bà Huyện Thanh Quan cũng có giá trị tinh thần nhân bản, cao quý của gia đình.

(Sưu tầm)
IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 04 Oct 2011 lúc 8:19am
 
Bình bài “ thơ tình cuối mùa thu”

 

 Có những thứ đi qua cuộc đời, nhẹ nhàng và bình yên, không dấu vết, không mảy may kỷ niệm. Có những điều đi qua cuộc đời để lại những dấu ấn thật đậm nét. Nhớ về những điều đó là nhớ về cả một quãng ngọt ngào nhất của cuộc đời. Bởi thế nên nó được ta gìn giữ như báu vật, ta nâng niu, trân trọng như chính cuộc đời ta. “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh chính là nơi cất giữ những kỷ niệm như thế - Tình yêu mãnh liệt và thủy chung của người phụ nữ đa cảm, đa tình.


Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Tại sao nhà thơ lại chọn thời điểm cuối mùa thu? Và tại sao cứ phải là “Thơ tình cuối mùa thu”? Phải chăng vì mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm. Và tình yêu trong mùa thu cũng đẹp nên thơ và lãng mạn như chính cái mùa quyến rũ ấy. Cho nên sang mùa đông thì tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ “theo mùa đi mãi”, lá sẽ về rừng, dòng nước sẽ trôi ra biển cả. Cho nên thơ tình làm vào độ cuối thu thì cảm xúc càng có dịp thăng hoa.
Cái sắc thái cuối thu trong bài thơ đã có những dự cảm rất tinh tế của tâm hồn người phụ nữ. Đọc thơ Xuân Quỳnh ta luôn bắt gặp song hành bên cạnh một tình yêu thủy chung và bỏng cháy là những dự cảm và lo âu. Tuy chỉ tả cảnh thôi nhưng âm điệu thơ cứ man mác những lo âu:

Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay.

Trong cái làn gió heo may thổi xao động ấy còn có cả sự xao động trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Mới cuối thu mà tất cả dường như đã có sự thay đổi. Liệu mùa thay đổi rồi “lòng anh có đổi thay”? Đấy phải chăng chính là dự cảm trong tâm hồn của người phụ nữ có niềm yêu mãnh liệt và đa cảm ấy!

Tôi thích nhất trong bài thơ những câu thơ này:
Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Bốn câu thơ có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là tình yêu đã trọn vẹn, đã cập bến bờ hạnh phúc – một hạnh phúc phải trải qua những gió bão và thác lũ cuộc đời cho nên nó càng có ý nghĩa.
Nhưng tôi thích cách lập luận thứ hai hơn. Đó là cách hiểu tình yêu đã trôi qua, tất cả bây giờ được nhìn trong tương quan quá khứ - hiện tại. Từ cách hiểu có vẻ vô lý này ta có thêm một cách định nghĩa về tình yêu: Tình yêu muốn đạt được hạnh phúc cần phải trải qua những bão tố của cuộc đời và của cả lòng người nữa. Bởi có trải qua gió bão thì hạnh phúc đạt được mới thật sự trọn vẹn. Tình yêu trôi qua trong yên bình, lặng lẽ sẽ rất khó cấu thành hạnh phúc.
Chính vì thế mà khi nói “Đã yên mùa gió bão… Đã yên ngày thác lũ” nghĩa là tình yêu đã qua đi, tất cả bây giờ trở về bình lặng. Có lẽ vì thế mà khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sỹ Thuận Yến để bốn câu thơ này với âm hưởng trầm buồn, xót xa như một sự tiếc nuối.
Tình yêu đã lùi vào quá khứ không có nghĩa là tình yêu đã vụt tan. Điều đó trong “Thơ tình cuối mùa thu” càng được khẳng định bởi điệp ngữ: “Chỉ còn anh và em/ Cùng tình yêu ở lại”.
Dù thời gian trôi đi đồng nghĩa với tất cả trở thành quá khứ, nhưng không vì thế mà tình yêu cũng tan vào dĩ vãng. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh là một tình yêu mãnh liệt và thủy chung, nồng nàn và da diết. Cho nên dù tình yêu đã trở thành một miền dĩ vãng thì những dư âm của nó cũng sẽ còn mãi trong tâm hồn người con gái thủy chung.
Khổ thơ cuối điệp lại một lần nữa như khẳng định lại sự bền vững của tình yêu:

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại…
Kìa bao người yêu mới
Đi qua vùng heo may…”
Hai câu thơ cuối bài thơ vang lên như một tiếng reo. Bài thơ dừng lại ở đấy. Tưởng như là đột ngột. Tưởng như là hụt hẫng. Nhưng không! Cái tiếng reo vui ấy kết lại bài thơ chính là khẳng định sự vĩnh cửu của tình yêu.
Tình yêu đã được tiếp nối giữa các thế hệ. Có thể thế hệ của “anh” và “em” đã qua đi, “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” nhưng có bao đôi trẻ yêu nhau sẽ gắn bó thủy chung và sắt son qua những mùa thu mới, những vùng heo may mới, tiếp nối tình yêu của anh và em…
Hai câu kết thúc bài thơ tạo ra hai giá trị vĩnh cửu của tình yêu. Giá trị riêng và giá trị chung. Giá trị riêng chính là tình yêu của anh và em, dù có thể đã lùi vào quá khứ nhưng những gì anh giành cho em và em giành cho anh sẽ còn mãi qua những mùa thu. Giá trị chung là tình yêu của biết bao thế hệ , biết bao đôi lứa yêu nhau sẽ còn mãi. Tình yêu trên trái đất này là bất diệt. Giá trị nhân văn của bài thơ này bất diệt là ở chỗ đó.


Sửa bởi Hoangtube - 10 Nov 2011 lúc 7:51pm
IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 10 Oct 2011 lúc 10:19pm

Bình “ Lơì kỹ nư”  của Xuân Diêụ

                                                                            Trần Trung

Đi suốt bài thơ là tiếng lòng thiết tha đến thổn thức của người kỹ nữ - nhân vật trữ tình trong thi phẩm đặc sắc và ám ảnh thân phận con người của nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu.

Tự cổ xưa, tới tận bây giờ, người đời vẫn định kiến tới nghiệt ngã với những phụ nữ bán thân. Thế mà, trong con mắt của thi nhân lãng mạn rất đỗi ưu ái và bao dung, lại có cách nhận diện ra thế giới tâm tình của người phụ nữ mà thiên hạ vẫn rẻ rúng trong cách nhìn. Xuân Diệu đã thốt lên lời kỹ nữ, đọc thấu tiếng lòng của cô trong thiết tha níu kéo khách làng chơi trong khoảnh khắc lìa xa:

“Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;

Vội vàng chi, trăng lạnh quá, khách ơi!”

Níu kéo để giữ lại trong giao cảm, ái ân, người kỹ nữ trong thơ Xuân Diệu viện tới miền sáng trăng rằm mà ông Giời đang mở “yến tiệc sáng trên trời”. Sự chào mời của thiên tạo cũng đồng hòa với tiếng lòng chào mời, dâng hiến hết mình của người tình thiết tha: “Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”.

Người kỹ nữ thoắt thành công nương và khách làng chơi trở thành hoàng tử. Xuân Diệu táo bạo hết mình và cũng nhân ái thật lòng. Sao nỡ dứt tình trước sự dâng hiến của “tay em đây”; của “tóc xanh tốt”, rồi nữa “đây rượu nồng! và hồn của em đây”…

Sự hết mình thành thực của một con người với một con người cụ thể mang tất cả sự trọn vẹn vật chất có thể cùng sự tận lòng dâng hiến. Sao mà nỡ dứt cho đặng!

-“ Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;

Khách không ở, lòng em cô độc quá!

Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,

Tay em đây mời khách ngả đầu say;

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”.

-“ Chớ để riêng em phải gặp lòng em;

Tay ái ân du khách hãy làm rèm,

Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng”.

Vượt lên sự đọa lạc vật chất tầm thường, dung tục, những lời thơ đa cảm và bao dung của Xuân Diệu như đang hướng tới vẻ đẹp sáng trong, thánh thiện của thiên nhiên và tình người. Nhà thơ như đang khoan thai giãi bày lòng mình theo bước đi của vẻ huyền diệu trăng rằm. Bởi trăng và gió như đang mơ về cõi mơ xa:

“Trăng về viễn xứ.

Đi khoan thai trên ngự đỉnh trời tròn.

Gió theo trăng từ biển thổi qua non”

Thơ tình khát khao của Xuân Diệu thường sóng hòa và đồng hành với nỗi cô đơn có thực tự hồn thi sỹ. Và, nhà thơ lãng mạn giàu yêu thương như lại đọc tiếp được tiếng nói, tiếng lòng của người kỹ nữ - “lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn”…

Bao nhiêu là thảng thốt, khi cô đơn của thân phận ập tới, dâng đầy hồn kỹ nữ. Đó là kiếp giang hồ vô định – “trôi phiêu diêu không vọng bến hay gành”; là niềm khao khát bỏng cháy mong tìm được cuộc tình yên ổn, bằng an mà vẫn không tìm nổi “giây tình vướng víu”!

“Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt”! Làm sao mà không òa vỡ thành nước mắt; không vỡ thành niềm đau trống trải và hụt hẫng. Bởi, lòng kỹ nữ không được sưởi ấm bằng ngọn lửa hồi âm. Cảm giác ớn lạnh, băng giá đang vây bủa. Thơ Xuân Diệu là sự huy động tối đa và hết mình cho mọi giác quan có thể vào thơ. Xuân Diệu diễn tả nước mắt cô đơn tới đỉnh điểm của “Lời kỹ nữ”. Lời than cùng tiếng lòng chới với như tiếng kêu cứu:

“Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.

Du khách đi.

Du khách đã đi rồi”.

Xuân Diệu đã hóa thân, đã mượn lời kỹ nữ để phát ngôn cho cảm quan của lòng mình về con người; về những thân kiếp tưởng như tan hòa vào đọa lạc mà vẫn khát cháy sự gặp gỡ và tình yêu thương thành thực.

Có lẽ vẻ đẹp và vóc dáng nhân văn của “Lời kỹ nữ” của Xuân Diệu chính là ở tiếng lòng thiết tha và khao khát ấy!

 



Sửa bởi Butsap - 10 Oct 2011 lúc 11:02pm
IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 10 Oct 2011 lúc 10:27pm

KHẮC KHOẢI

Khắc khoải sống, khắc khoải yêu
Cả đời khắc khoải một điều: Có nhau!
Nửa đời tóc đã ngả màu
Trái ngang đã nếm, khổ đau đã nhiều

Bấy lâu ngẫm thấy tiếng yêu
Ngỡ tình như gió thoảng chiều nắng oi
Đôi chân lê bước lẻ loi
Đường tình gai góc chao ôi: thật dài!

Còn bao lâu đến thiên thai?
Bao giờ cho hết đôi vai trĩu buồn?
Em đem phận số ra chôn
Mong ngày hóa kiếp cho hồn xênh xang

Cho em khắc khoải đêm tàn
Vần thơ thức dậy mơn man nụ cười
Một ngày mới sẽ dần trôi
Cho em khắc khoải bồi hồi chữ Yêu

Thủy Hướng Dương

IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 10 Oct 2011 lúc 10:30pm

BÌNH BÀI THƠ KHẮC KHOẢI CỦA THUỶ HƯỚNG DƯƠNG
.
Trên đời này, có một thứ vô hình nhưng thực ra lại là hữu hình. Đó là TÌNH YÊU.
Nó vô hình bởi vì không ai biết hình thù nó thế nào. Nó tròn hay vuông, mỏng hay dày, màu đỏ hay màu tím, nặng nhẹ bao nhiêu… Ngay cả định nghĩa Tình yêu còn khó nữa là.
Nhà thơ tình cây đa cây đề của nền thơ Việt Nam, tác giả của hàng trăm bài thơ tình nổi tiếng, còn phải thốt lên: 'Đố ai định nghĩa được tình yêu'.
Nhưng Tình yêu lại là hữu hình, có thể cảm thấy được, nhìn thấy được. Chính vì thế, người ta mới biết tình yêu đẹp, tình yêu lãng mạn, tình yêu vụ lợi, tình yêu thực dụng, tình già, tình trẻ, tình yêu vĩnh cửu...
Trên đời này, có một thứ rẻ nhất, nhưng cũng đắt nhất và quý nhất. Đó là TÌNH YÊU.
Nói rẻ nhất, bởi vì đến với tình yêu, nhiều khi chẳng phải mất tiền mua. Có khi đôi trai gái yêu nhau với tình yêu sét đánh, chỉ một cái nhìn mà đem cả cuộc đời mình gắn vào nhau.
Nhiều khi các anh lính đảo, chỉ qua những cánh thư với cô sinh viên, thế mà họ đã kết thành tình yêu vĩnh cửu. Nhiều khi giao thông trên đường, va quệt xe vào nhau, đưa nhau vào bệnh viện rồi cảm nhau mà thành tình yêu.

Nhưng tình yêu thì thật là quý và thật là đắt. Điều này thì ai mà chẳng biết, bởi chúng ta ai chẳng đánh đổi cả cuộc đời mình để dành cho tình yêu.
Đối với đàn ông, Tình yêu là một phần của cuộc đời, Nhưng với phụ nữ, Tình yêu là cả một Cuộc đời. Mất tình yêu, đàn ông mất đi một phần cuộc đời, nhưng mất đi tình yêu, người đàn bà mất đi tưởng chừng như cả cuộc đời họ.

Chính vì vậy, đọc bài thơ Khắc khoải của Thủy Hướng Dương ta mới thấy hết được Tình yêu đối với người con gái nó sâu nặng và đáng quý biết nhường nào. Vì tình yêu mà cuộc sống của họ chừng như mất thăng bằng, bị đảo lộn, bị chênh chao, nhiều khi sống trong trạng thái bồn chồn, phấp phỏng.
Ta đã nghe câu ca dao:

'Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than'

Người con gái trong thơ Thủy Hướng Dương cũng vậy:

Khắc khoải sống, khắc khoải yêu
Cả đời khắc khoải một điều: có nhau

Khắc khoải yêu, một tình yêu cháy bỏng. Ai cũng biết rằng, nếu tình yêu trôi đi bình lặng, thì ngọn lửa tình yêu nó chỉ cháy âm ỉ trong lòng. Không mãnh liệt, không ào ạt, không dư âm và không nhiều kỷ niệm. Nhưng nếu tình yêu có nhiều trắc trở, có nhiều xa cách, có nhiều nghĩ suy, day dứt đến nỗi lúc nào ta cũng phải “khắc khoải” để “có nhau” như vậy thì chẳng khác nào như ngọn lửa luôn luôn được gió thổi bùng lên và Tình yêu sẽ trở nên cháy bỏng và mãnh liệt hơn bao giờ hết.
Tình yêu của Thủy Hướng Dương lại được tâm nguyện như ngọn lửa thổi cháy lên suốt cả cuộc đời:

Nửa đời tóc đã ngả màu
Trái ngang đã nếm, khổ đau đã nhiều

Đến nửa chặng đường đời, tóc đã ngả màu sương gió, gặp bao nhiêu trái ngang và đau khổ, tình yêu ấy vẫn còn khao khát, vẫn còn khắc khoải thì phải nói rằng tình yêu ấy mãnh liệt, bền chắc, tươi mới và đáng quý biết nhường nào.
Chính tâm trạng khắc khoải đã nhóm lên nỗi khát khao trong con tim yêu một ngọn lửa tình cháy bỏng:

Bấy lâu ngẫm thấy tiếng yêu
Ngỡ tình như gió thoảng chiều nắng oi
Đôi chân lê bước lẻ loi
Đường tình gai góc chao ôi: thật dài

Người con gái trước tình yêu, trái tim non trẻ thơ ngây cứ ngỡ rằng tình yêu thật giản đơn, trong trắng, dễ dàng với tới được và nó sẽ mang cho mình một niềm sung sướng đơn thuần như cây non đang trời khô hạn gặp mưa, như con người đang trời nắng oi được cơn gió thoảng. Thế nhưng, Tình yêu là là một đỉnh núi cao, đường lên chót vót, có nhiều chông gai cạm bẫy của cuộc đời.
Ta nghe bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng của nhà thơ Chế Lan Viên:

Em gần gũi, em xa xôi
Sao em như thể chân trời trước anh
Đưa tay tưởng với được tình
Bước đi tới mãi mà mình vẫn xa.

Ở đây, người con gái chập chững bước vào Tình yêu cũng vậy. Tưởng chừng như chỉ giản đơn thôi, ai ngờ nó đầy gai góc và thật dài. Chính vì vậy, đòi hỏi con người ta, đến với Tình yêu, lúc nào cũng phải gắng sức, lúc nào cũng phải tự làm mới mình, lúc nào cũng cần phải vươn tới.
Có như vậy tình yêu mới tràn trề sức sống, Xuân mới căng đầy nhựa cho búp Tình yêu. Ngay cả khi đã thành vợ, thành chồng, nhiều người cứ nghĩ rằng 'bây giờ ta đã thuộc về nhau', đã là của nhau rồi, không cần phải chăm chút cho tình yêu đôi lứa nữa, mà sống theo đúng bản năng sở thích của mình. Điều đó thật sai lầm.
Tình vợ chồng nó nặng về nghĩa tình chung thủy, ăn ở với nhau một ngày nên tình nên nghĩa. Nhưng ngoài tình nghĩa vợ chồng vẫn cần phải duy trì tình yêu và tình yêu lúc nào cũng cần mới mẻ như cái thuở ban đầu. Có như vậy, tình vợ chồng mới đằm thắm, sâu đậm, luôn tươi mới và không kém phần lãng mạn. Trẻ có tình yêu con trẻ, già có tình yêu của tuổi già. Ai thiếu điều đó thì cuộc đời đâu còn thi vị nữa.
Đọc đoạn thơ thứ ba của bài thơ Khắc khoải:

Còn bao lâu đến thiên thai?
Bao giờ cho hết đôi vai trĩu buồn?
Em đem phận số ra chôn
Mong ngày hóa kiếp cho hồn xênh xang

Sao mà ta thấy người con gái lại cô đơn và buồn đến thế. Mới có nửa chặng đường, mới có mái tóc pha màu thôi, đang đi tới Tình yêu hoàn hảo mà tưởng tượng rằng tới cõi Thiên thai, người con gái đã cảm thấy sức nặng của cuộc đời trĩu trên hai vai gầy guộc, liễu yếu đào tơ. Hay là Tình yêu trong tâm hồn em lớn lao quá, chiếm hết cả mọi suy tư, sức lực của đời mình.
Nếu có ai, ghé vai đỡ hộ, cùng chung gánh nước non, gánh tình yêu cùng em đi suốt chặng đường còn lại thì chắc là hai người rất hạnh phúc vì đã mang trong tâm hồn mình Tình yêu thực thụ và được nếm trải thử thách trên chặng đường đời.
Em gái ơi, đừng tin vào số phận hẩm hiu, hay duyên kiếp bẽ bàng mà em hãy tin vào chính ngọn lửa trong trái tim mình để giành lấy tình yêu, giữ tình yêu và em sẽ đốt nó thành ngọn lửa cháy bùng sưởi ấm cho hạnh phúc suốt cả đời mình.
Em sẽ không phải lo trốn chạy khỏi số phận, hay phải chôn vùi số phận hay hóa kiếp nó đi để tâm hồn em thanh thản. Em hãy bằng trái tim, khối óc, bàn tay của mình để dệt nên một tình yêu tươi đẹp. Không chịu theo phận số.
Cụ Nguyễn Du đã từng dạy ta: 'Xưa nay nhận định thắng thiên cũng nhiều' đấy thôi.
Ta hãy nghe đoạn kết của bài thơ mà Thủy Hướng Dương đã viết:

Cho em khắc khoải đêm tàn
Vần thơ thức dậy mơn man nụ cười
Một ngày mới sẽ dần trôi
Cho em khắc khoải bồi hồi chữ Yêu.

Em gái ơi! Phải thế chứ. Đêm sẽ dần tàn đi, vần thơ thức dậy và một ngày mới bắt đầu. Ta sẽ viết lên một vần thơ tươi mới, cho một ngày mơíi, và nhóm lên ngọn lửa mới, ngọn lửa Tình yêu mà cả đời em, cả đêm lẫn ngày, em khắc khoải bồi hồi. Tình yêu sẽ đến chói ngời như ánh nắng bình minh. Em ùa ra, đón nhận nó, em dang tay ôm nó vào lòng.
Em hưởng thụ nó, cảm nhận tất cả những gì tốt đẹp của tình yêu. Em sẽ là người hạnh phúc nhất trên thế gian này. Tình yêu đã nằm trọn trong tay em, nhưng em không tự mãn. Em vẫn phải chăm sóc nó, vun trồng nó. Ngày mỗi ngày trôi qua, tình yêu sẽ lớn hơn, sâu đậm hơn, hấp dẫn hơn, lãng mạn hơn và tươi đẹp hơn.
Dù biết thế, nhưng em vẫn phải khắc khoải, vẫn không quên đi nỗi niềm canh cánh trong lòng mình, trong suốt cuộc đời mình là hai ta phải có nhau.
Ta nhớ lời trong một bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: 'Sỏi đá cũng cần có nhau'. Đúng, sỏi đá cũng cần có nhau, huống chi là con người, biết yêu, biết buồn, biết vui, biết tư duy và thương nhớ. Vậy thì con người phải cần có nhau.
Điều khắc khoải của Thủy Hướng Dương tưởng là xa xôi nhưng thật là gần gũi, tưởng là nhỏ bé nhưng thực là lớn lao, vĩ đại, tưởng là viển vông nhưng thực là thiết thực vô cùng: CHỈ CẦN CÓ NHAU.
Chỉ có trái tim của người con gái khao khát tình yêu, biết yêu, biết cái giá trị của tình yêu mới nói lên một điều tưởng chừng giản đơn mà chí lí đến vậy. Trái tim bao la và nồng cháy của người con gái thật đáng trân trọng và kính phục biết bao.
Tôi ngưỡng mộ trái tim nồng cháy ấy. Ước gì tôi được gặp một người con gái có trái tim yêu vĩ đại và chân thành như vậy, cho dù chỉ được gặp ở trong mơ thì tôi đã hạnh phúc biết nhường nào.
Bài thơ của Thủy Hướng Dương rất hay. Hay cả về cấu tứ lẫn hình ảnh. Cả bài thơ, không chỗ nào tác giả gồng mình lên, hay cố chơi chữ khó hiểu, đánh đố hoặc làm người đọc phải huy động hết tinh lực ra mà tưởng tượng.
Câu thơ giản dị chân thành, tôi nghe như có hơi hướng mộc mạc chân quê của nhà thơ Nguyễn Bính hay Đồng Đức Bốn. Bài thơ giản dị, mộc mạc giống như người con gái đẹp cái duyên thầm, không cần cố phải trang điểm lòe loẹt, son phấn trát dày, mà cái đẹp cái duyên vẫn hiện ra rõ mồn một. Người con gái đẹp tự nhiên chân thành, giản dị nên dễ gần và dễ yêu hơn nhiều những cô gái đã được make-up hiện nay.
Lời thơ của Thủy Hướng Dương trong sáng, nhẹ nhàng, giản dị. Tôi nghĩ rằng, chắc tác giả ngoài đời cũng như vậy chăng?
Câu thơ lục bát của Thủy Hướng Dương rất hay. Nhưng tôi ước rằng, nếu câu thứ tư, tác giả chỉ thay đi một hai chữ thì câu thơ sẽ giá trị lên nhiều lần.
Thường thì trong câu lục hoặc câu bát, có dấu phẩy ở giữa, câu thơ phân thành hai nửa, thì hai nửa này là một tiểu câu đối thì mới hay.
Thí dụ trong Kiều có rất nhiều câu, nhưng tôi thử nêu một câu ngẫu nhiên là:
“Trướng màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao' hoặc: 'Đất thì thấp, trời thì cao'...
Ở câu thơ này: 'Trái ngang đã nếm, khổ đau đã nhiều': thì từ 'nếm' - động từ, từ 'nhiều” - Tính từ' nếu thay cùng là động từ hoặc cùng là tính từ thì câu thơ sẽ hay lên nhiều.
Xin phép Thủy Hướng Dương, tôi xin thay thử một chữ:
1- Động từ: 'Trái ngang đã nếm, khổ đau cũng từng' (từng ở đây là từng trải).
2- Tính từ: 'Trái ngang đã lắm, khổ đau cũng nhiều'.
Bài thơ Khắc khoải là một bài thơ hay về mọi mặt. Tôi xin chúc bạn viết được nhiều bài thơ hay như bài thơ này, để mang lại cho cuộc sống của bạn đọc nhiều sắc hương tươi đẹp của Tình yêu, nhất là những lời này lại được cất lên từ đôi môi hồng của người con gái.
Xin cảm ơn tác giả đã cho tôi những phút thăng hoa khi viết bài cảm nhận này.

                                                       Phạm Thanh Cải



Sửa bởi Butsap - 10 Oct 2011 lúc 11:03pm
IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 27 Oct 2011 lúc 9:22pm

B×nh th¬ “mïa xu©n chÝn” - Hµn mÆc tö

 

Mùa xuân – qua nét phóng bút tài hoa của Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên duyên dáng và có sức cuốn hút lạ thường. Xuân như thiếu nữ mơn mởn đào tơ, tràn căng sức sống, song xuân không hiện lên rõ nét mà cứ huyền ảo, như thực như hư. Không thể chỉ đọc từng câu từng chữ mà cảm được bài thơ. Cần cảm thụ quyện hòa từng luồng cảm giác.

 

Mở đầu bài thơ là một khung cảnh được từ từ hé mở. Không gian tươi mát, rõ ràng. Thi sĩ rắc màu lên từng cảnh sắc. Lấm tấm vàng của mái tranh, biếc xanh giàn thiên lý. Chợt nghe như sự sống bừng dậy, bỡn cợt, gợi tình. Câu thơ chuyển mạch rất nhanh với cách ngắt nhịp tài tình “bóng xuân sang”. Cảnh mới thực bỗng thoắt trở nên mơ hồ. Bóng xuân lướt nhanh ẩn hiện làm ta ngỡ ngàng. Mùa xuân,  qua con mắt thi nhân, phập phồng sức sống. Màu xanh tươi lan tỏa ngút mắt. Vút lên cao là tiếng hát tuổi xuân xanh. Màu sắc, âm thanh trộn đều tạo một không gian động, hồn nhiên thơ mộng. Tưởng chừng ta gặp hồn thơ Nguyễn Du qua vẻ đẹp: “Cỏ non xanh tận chân trời”, song ta nhận ra Hàn Mặc Tử bởi những cảm giác quẫy mạnh trong từng câu thơ, ta cảm được cái rùng mình của mùa xuân qua làn “sóng cỏ”. Thi sĩ lặng mình trước mùa xuân, chợt bâng khuâng nhủ lòng mình:

 

“Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”

 

Câu thơ lắng nỗi buồn nhẹ nhàng, man mác cái buồn cố hữu của những nhà thơ thời đó. Cái tiếc rẻ cho duyên con gái một đi không trở lại. Không giục giã, hối hả gấp gáp như Xuân Diệu “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ – Em, em ơi tình non sắp già rồi!” nhưng với hai câu thơ này Hàn Mặc Tử đã mang tới cho người đọc những đợt sóng ngầm tình cảm gấp gáp, hối hả mà duyên dáng lạ thường.

 

Những âm thanh trong bài thơ chuyển động, cọ xát nóng bỏng: “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”. Các cung bậc mùa xuân lên bổng, xuống trầm tinh nghịch, khát khao, dịu nhẹ. Những gam cảm giác Hàn Mặc Tử đưa vào thơ rất mới lạ mà lại gần gũi, quen thuộc. Thấp thoáng đâu đây khuôn “mặt chữ điền” như thơ Đường; mà lại có vẻ hồn nhiên, rụt rè của cô gái tơ mới lần đầu hò hẹn. Âm thanh, cảm giác được đẩy lên cao vút, nao nức, bâng khuâng.

 

Tận cùng của cảm giác là một nỗi nhớ nao lòng. Xuân chín căng, mời mọc làm nguời đi xa chạnh niềm tha hương. Hình ảnh trong nỗi nhớ sáng rực, thân thiết:

 

“Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang?”

 

Nỗi nhớ như mùa xuân, cũng chín đỏ. Như tình người, tình quê ấm áp, đậm đà. Câu hỏi tưởng bâng quơ, sực nhớ kia chính là nỗi niềm mến thương  từ lâu ủ kín, chợt mùa xuân làm thức dậy trìu mến, thiết tha.

 

Bài thơ của Hàn Mặc Tử đầy nhựa sống như tâm hồn của nhà thơ luôn khát khao giao cảm với đời. Với mùa xuân, Hàn Mặc Tử yêu say đắm, điên cuồng: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống” – lời của thi nhân đã được đem vào trong bao áng thơ diễm tuyệt, kết tinh hương sắc làm nên một “mùa xuân chín”.

 



Sửa bởi Thao nhi - 30 Oct 2011 lúc 7:50am
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 3:04pm
LỐI NHỎ
 
 
Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ
Em thả bước chán chường
Có lối nhỏ gập ghềnh sỏi đá

Gót chân em nện xuống dữ dằn

Có lối nhỏ vương đầy cây xấu hổ
Em sợ nó khép cánh
Biết làm sao bây giờ
Chính lối này đưa em tới anh…
Dư Thị Hoàn
________________________
Trong tình yêu thường có những cái cớ. Đôi khi cái cớ ấy rất nhỏ, rất vô tình nhưng lại tạo thêm hương vị cho tình yêu. “Lối nhỏ” của Dư Thị Hoàn là một bài thơ như thế.
Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ
Em thả bước chán chường
Không biết lối nhỏ ấy là nguyên nhân ngăn cách sự chung đôi hay do lòng người đang có sự cách ngăn? Năm xưa cụ Nguyễn Du cũng đã từng nói “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” Bởi vậy khi nhân vật trữ tình đang mang tâm trạng trong lòng thì nhìn đâu cũng thấy nhuốm một nỗi buồn trĩu nặng. Trong tình yêu có những điều thật khó lý giải. Đơn giản đấy mà lại phức tạp. Em buồn. Nỗi buồn hiện lên rõ ràng “Em thả bước chán chường.” Bước chân của nhân vật trữ tình có gì xót xa, hờn dỗi.
Vẫn là cái lối nhỏ ấy nhưng không còn là chia cách đôi bờ mà là “Gập ghềnh sỏi đá.” Con đường gập ghềnh sỏi đá hay trái tim em đang có những u buồn? Thật khó lý giải được những điều trái tim muốn nói. Em đang có những ngổn ngang lo toan. Em cũng bình thường như những người con gái khác cũng giận hờn, dằn dỗi…và có khi em cũng sợ, sợ một điều gì đó rất mơ hồ không gọi thành tên. “Lối nhỏ vương đầy cây xấu hổ/ Em sợ nó khép cánh.” Lá khép cánh hay cửa trái tim em đóng lại sau những đau buồn?
Em là vậy. Con người em, tính cách luôn hiện hữu, được giãi bày…em cũng biết yêu và khao khát được yêu.  Dư Thị Hoàn đã rất khéo léo khi lấy cái “Lối nhỏ” để diễn tả trạng thái cảm xúc của mình. Khi đau đớn tột cùng nhất cũng là lúc em gặp được hạnh phúc ngay trong đau khổ đó. Chẳng phải là như thế sao? Em đang tuyệt vọng vì sự cách ngăn, chia lìa thì ngay trong sự cách ngăn ấy em đã tìm được hạnh phúc. Dù là hạnh phúc mỏng manh, mơ hồ nhưng nó cũng là cái cớ để níu giữ trái tim đang yêu đa cảm vượt qua khó khăn.
Biết làm sao bây giờ
Chính lối này đưa em tới anh…”
Phải rồi chính lối này đã cho em được gặp anh, đã mang lại hạnh phúc cho em. Tình yêu thật nhiều cung bậc, thật khó có thể nói được khi nào thì người ta hạnh phúc, khi nào thì khổ đau. Bởi ngay khi khổ đau nhất lại là lúc ta gặp được hạnh phúc của riêng mình. Đấy chẳng phải là điều kỳ diệu sao?
Nguyễn Thị Thu Hà
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 3:06pm

LỐI HOA VÀNG (Trần Hoà Bình)


Thả một câu thơ về phía em mơ mộng
Có lẽ nó đã bay như lá về ngàn
Thả một lời thương về phía em vô vọng
Nó biệt tăm như cánh chim hoang
Anh đã đi qua những bờ bãi hoa vàng
Những đỉnh núi đá xanh và lau bạc
Giấc mơ yêu - trái tim rung lục lạc
Qua một bến bờ lại thấy bến bờ sau
Những giấc mơ nát nhàu
Những con chữ nảy mầm tí tách
Anh mang theo giữa đất trời nguyệt bạch
Chút kiêu hãnh này chứng giám có trời xanh!
Dẫu những câu thơ như phận lá về ngàn
Anh vẫn thả rợp một chiều dại dột
Trái tim yêu - vó ngựa hoang thảng thốt
Lục lạc rung theo những lối hoa vàng...
(Trần Hòa Bình)
___________________
Lượm lặt để trân trọng cảm hứng qua những vần thơ hay, nhiều lúc như một thứ bất chợt mách bảo. Lâu lâu rồi, tôi ít đọc thơ của người bạn - nhà báo - nhà thơ Trần Hoà Bình.
Ấy thế mà bất chợt (lại bất chợt !), giở tờ báo Gia đình & Xã hội số Tân xuân, tôi ngỡ ngàng xúc động trước thi phẩm Lối hoa vàng của Bình. Tôi lại ngộ ra: cái nghiệp báo chí - dạy báo và làm báo, chưa thể tắt lụi niềm say trong xúc cảm thi sĩ của Trần Hoà Bình. Ấy là khi người thơ nao lòng hướng về lối đẹp, lối tình rực rỡ: Lối hoa vàng.
1.- Trái tim thi sĩ của Trần Hoà Bình, giữa bao bộn bề lo toan của cuộc mưu sinh thường nhật, bỗng đột nhiên rùng mình giữa miền hoang lạnh nơi nhân thế. Rùng mình chạnh buồn mà nhận ra những lời thương tự hồn thơ mình, có lúc rơi vào phía "vô vọng" - vô vọng từ cõi đời, đã đành . Buồn hơn, vô vọng từ chính nơi mình gửi gấm niềm yêu thương. Nhà thơ dùng hai hình ảnh so sánh từ "lá về ngàn" và "cánh chim hoang" để giãi bầy nỗi buồn tan vỡ của những câu thơ mơ mộng, thoắt trở nên lạc lõng giữa dòng đời:
Thả một câu thơ về phía em mơ mộng
Có lẽ nó đã bay như lá về ngàn
Thả một lời thương về phía em vô vọng
Nó biệt tăm như cánh chim hoang
2- Mượn cái vô vàn rơi rụng của "lá về ngàn"; mượn hình ảnh cánh chim hồn nhiên và khờ khạo, vỗ mãi vào nơi hoang hoải, "biệt tăm", lời thơ mang tình ý của Trần Hoà Bình thật nhẹ và cũng thật êm lắng rơi vào cõi buồn từ tâm hồn nhạy cảm, đa tình muôn đời của thi sĩ cổ kim .
Nhà thơ của hôm nay, giữa cơn lốc hiện đại của cuộc sống mà nhận ra cái giá của đời, cái giá của nghệ thuật - thơ ca. Thì cứ đi trọn "giấc mơ yêu - trái tim rung lục lạc"; Thì cứ "đi qua bờ bãi hoa vàng", đi qua "những giấc mơ nhàu nát" dày vò day dứt tận đáy hồn mình mới có thể nhận ra niềm rạo rực của những hạt mầm sự sống, nhận ra "những con chữ nảy mầm tí tách". Đời đấy và cũng là thơ đấy!
Trần Hoà Bình đã tạo hình, tạo cảm từ những cảm quan trái ngược. Nhà thơ đem vẻ đẹp rực rỡ, sáng ấm của một không gian, một thế giới "những bờ bãi hoa vàng" để rồi buồn lòng mà nhận ra những điều đã mất giữa "giấc mơ nhầu nát"ngay giữa cuộc đời.
3-Xin hãy tiếp bay theo "Lối hoa vàng" của niềm hứng khởi - hứng khởi của khoảng khắc sáng tạo ngôn từ- vũ điệu huyền hoặc của thơ ca; hứng khởi của một đời đi tìm hương sắc- sắc hương của đời giao hoà cùng sắc hương tự lòng thi sĩ.
Xin thi nhân cứ đi tới miền yêu thương của lòng mình bằng trái tim dại dột và đắm say. Để thả hồn về "Lối hoa vàng"
Dẫu những câu thơ như phận lá về ngàn
Anh vẫn thả rợp một chiều dại dột
Trái tim yêu -vó ngựa hoang thảng thốt
Lục lạc rung theo những lối hoa vàng...
Hôm nay, viết thêm mấy dòng này khi sắp tròn năm Trần Hoà Bình ra đi... Bình ơi! Mong em mãi tiếp bay về "Lối hoa vàng"trong niềm đắm say bất tận...
---
Hà Nội, ngày 3- 8- 09
Trần Trung
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 3:14pm

TÀN LỬA (Vi Văn Chôồng)


Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
- Quay về đi thôi.

Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời.
Vi Văn Chôồng
______________________
HÀNH TRÌNH BẤT TẬN
Phê bình bài thơ “Tàn Lửa” của Vi Văn Chôồng
Trần Hoàng Hoàng
Thơ ca vốn không chứa chất trong mình quá nhiều chất truyện, có chăng kể chuyện để gợi một tầng nghĩa khác bởi thơ cốt gợi. Bài thơ “Tàn lửa’’ của Vi Văn Chôồng chứa trong mình cả một câu chuyện  - câu chuyện đốt đuốc đi đến nhà người yêu
TÀN LỬA

Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
- Quay về đi thôi.

Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời.
Đây là một phong tục phổ biến của các dân tộc miền núi đến nay vẫn còn được lưu truyền. Tuy nhiên, người đọc không phải ai cũng hiểu rõ phong tục mà quan trọng là theo dõi diễn biến câu chuyện. Nhà thơ đã rất khéo léo khi gài trong câu chuyện phong tục một hành trình đi tìm tình yêu - tượng trưng cho một khát khao; rồi mở ra chân trời để tâm hồn người đọc suy ngẫm cho cuộc hành trình tìm kiếm cho chính bản thân mình.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh một đuốc lửa lập loè trong đêm. Khổ thơ thứ nhất gợi một không khí thơ, thông báo tâm trạng nhân vật và cũng là thời điểm xuất phát của hành trình mở ra một khát khao đang ẩn giấu:

Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa

Thời gian được đo bằng đơn vị “đêm”: trọn một đêm, tròn hai đêm. Bản thân hai chữ trọn và tròn có nhiều nghĩa nhưng trong trường bài thơ chúng có hai nghĩa giống nhau là: xác định một thời điểm và đồng thời mang nghĩa hoàn thành một hành động.
Hết khổ thơ thứ nhất sang khổ thơ thứ hai là kết thúc hành trình đo bằng đơn vị toán học. Nơi cần tìm, nơi cần đến là đây: ngôi nhà người yêu – ngôi nhà hạnh phúc. Đuốc lửa vẫn ở trong tay và sáng hơn bao giờ hết nó như là tình cảm của chàng trai dành riêng cô gái. Bao hi vọng chất chứa, bao vất vả của một hành trình tìm kiếm sắp sửa được đền đáp nhưng:

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
- Quay về đi thôi

Nhà thơ đã tạo được kịch tính của một bài thơ trong một khổ thơ. Chính kịch tính đó làm thay đổi tứ thơ, làm văn bản thơ không liên tục, chứa đựng những khoang trắng, đậm chất thơ, nơi thơ lặng đi, cái lặng tràn ngập cảm xúc và tư duy. Cảm xúc tràn ngập ngậm ngùi cho một sự thất vọng vì những lí do ngoại cảnh và đồng thời mở ra một cuộc hành trình mới bằng tâm tưởng. Cuộc hành trình này ắt hẳn dài hơn, chứa đựng nhiều mầm đau khổ hơn bởi sự chờ đợi luôn luôn là liều thuốc thử xác đáng nhất trong tình yêu.
Vẫn bằng âm hưởng ngậm ngùi của nhịp điệu thơ dội vào trong kết hợp với cấu trúc trùng điệp âm vận, nhà thơ diễn đạt thành công nội tâm qua những lời độc bach (monologique):
   
Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ lại lặp lại các câu thơ khiến chúng gần như cùng nghĩa và như vậy cảm giác thừa một khổ thơ, một điều không cần thiết. Bao giờ việc lặp lại như thế mục đích chính vẫn là nhấn mạnh. Ở đây là hoài niệm sâu lắng cho những phút giây đã qua và một niềm hi vọng mong manh mơ hồ cho tương lai.
Bài thơ được mở ra từ thời điểm đêm tối và giờ đây được khép lại bởi thời điểm buổi sáng - một vòng thời gian khép kín theo quy luật tự nhiên. Song song thời gian tự nhiên là khép lại cuộc hành trình tình yêu khi mà:
 
Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời

Người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”. Phải chăng câu chuyện tình dang dở mà nhà thơ Vi Văn Chôồng đã kể cũng nằm trong trường hợp trên? Dấu vết của tình yêu chỉ còn là những tàn lửa bay đi bốn phương trời. Dư âm, dư ảnh của một đốt lửa tình, của một hành trình không hết, nó vẫn vương vấn trong trái tim người một nỗi xót xa ngậm ngùi cho một cuộc tình dang dở.
Linh Đàm, 12-11-2006.
IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 4:13pm
SÓNG
                Xuân Quỳnh
 
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương 

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa.

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
 
29-19-1967.
----------------------------------------
Nếu như Xuân Diệu đã từng thổn thức vì tình yêu, dâng hiến trọn đời cho tình yêu, chạy vội với thời gian để được yêu thì Xuân Quỳnh cũng thế, cũng từng thấp thỏm, lo âu, đau khổ vì yêu. Nhưng dù sao đi nữa, là phận nữ nhi nên người rất ít tỏ ra táo bạo, quá mạnh dạn như Xuân Diệu. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thường bắt gặp hình ảnh con sóng, chiếc thuyền nói hộ tình yêu… Cũng vì lẽ ấy, suy cho cùng đây chỉ là những chất liệu dung dị, bình thường nhất trong cuộc sống song lại chứa đựng biết bao là ẩn ý, biết bao là ẩn tình mà Xuân Quỳnh muốn bày tỏ.
Chúng ta đã đến với “sóng” của Xuân Quỳnh để thưởng thức từng vị thương, vị nhớ của một người phụ nữ đang yêu.
Người ta thường ví rằng tình yêu là một bông hoa kì diệu! Vâng! Quả đúng như thế, tình yêu chưa bao giờ đi theo một hướng xác định. Cũng có lúc, người ta nhìn nhận tình yêu là cây đàn muôn điệu gảy lên muôn bản nhạc tình, có khi trầm bổng thiết tha, có khi nghẹn ngào đau đớn, cũng có khi e ấp, nũng nịu, dễ thương. Thì đây, trong bài thơ này, tình cảm của nhân vật "Em" cũng biến thiên như thế!
"Sóng" là thơ ngụ ngôn, một thể thơ rất phù hợp để kể về một huyền thoại tình yêu đầy ăm ắp những tâm trạng khắc khoải, những cung bậc tình cảm và vì thế bài thơ dễ dàng được phổ nhạc. Sóng! – là một hình tượng ẩn dụ, là phương tiện bộc lộ tình cảm của nhân vật "Em":

"Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
… Bồi hồi trong ngực trẻ"

Một câu chuyện cổ tích về tình yêu được nhà thơ Xuân Quỳnh kể lại. Câu chuyện bắt đầu từ một con sóng nhỏ chẳng biết xuất phát từ đâu, sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động. Hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn. Sóng chẳng hiểu tại sao mình lại cứ "dữ dội" rồi "dịu êm", "ồn ào" rồi "lặng lẽ". Phải chăng sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ? Vâng! Một tình cảm đang rạo rực trong trái tim người con gái, làm sao ai có thể "định nghĩa được tình yêu". Một buổi chiều mộng? Một lần gặp gỡ? Một phút
xao động trong tâm hồn ? Người con gái hay chính nhân vật “Em” trong bài đang cố tìm câu giải đáp cho tình yêu, cho sự bâng khuâng, đối lập của lòng mình. Và rồi chỉ còn một lối thoát: con sóng phải tìm ra tận bể cũng như "Em" đi tìm nguồn gốc của tình yêu.
Tâm hồn con người là một cõi mênh mông vô tận. Làm sao ta có thể đi xuyên suốt hết cái cõi vô tận ấy. Và ngay chính trong lúc cõi lòng đang bùng lên ngọn lửa yêu thương thì cô gái trẻ lại càng trăn trở, bâng khuâng, khắc khoải, dằn vặt với chính lòng mình. Phải vượt khỏi cái giới hạn chật hẹp này, phải lao mình vào chân trời bao la, những miền vô tận để hiểu rõ lòng mình. Con sóng đã rời bờ ra đi, đi thật xa, cố tìm hiểu và soi mình với những con sóng khác để biết được sự huyền diệu của tình yêu, mà hiện tại đối với sóng vẫn còn là một bí mật. Tình yêu là gì ư? Một nhà thơ Pháp đã từng khẳng định: “tình yêu là điều mà con người không thể hiểu nổi". Và thế rồi con sóng vẫn đi tìm mãi, tìm mãi:

"Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ"

Tình yêu cũng như con sóng, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Xuân Diệu đã từng nói:

"Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo
hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu"

Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ. Tuổi trẻ là trái tim dào dạt, đa cảm và rạo rực niềm yêu thương chất sống. Chính vì thế, mà cái khát vọng tình yêu cứ bồi hồi trong ngực trẻ, nó cứ thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lý yêu đương, cũng như con sóng “ngày xưa và ngày sau vẫn thế".Tuy nhiên, câu thơ "bồi hồi trong ngực trẻ " là một câu thơ chưa chín.Thật ra ngực trẻ hay ngực già… đều nồng nàn và bồi hồi trước tình yêu. Song, sóng và em cứ tìm mãi mà chẳng hiểu mình, chẳng thể hiểu được tình yêu. Sóng chính là điển hình của sự nhận thức về cái "quy luật" không thể cắt nghĩa được tình yêu:

"Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau".

Sóng bắt đầu từ gió – Vâng! Gió bắt đầu từ đâu? Tình yêu bắt đầu từ đâu? –“Em”cũng không biết nữa. Đọc những câu thơ này, ta chợt hình dung cái lắc đầu nhè nhẹ như một sự bất lực của cô gái. Trong khi người con gái cố đi tìm cội nguồn tình yêu thì tình yêu trở thành trò chơi ú tim, không tài nào nắm bắt được. Và thế là, muôn đời tình yêu vẫn là sự bí hiểm .Tình yêu của "Em" giờ đây trở thành nỗi nhớ da diết, giày vò. Nó choáng đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian. Phạm Đình An đã nhận xét: "Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ yêu buổi đầu giản đơn hò hẹn, non nớt, ngọt ngào, mà là tình yêu hạnh phúc, tình yêu gắn bó với cuộc sống chung với nhiều đòi hỏi ở chiều sâu tình cảm, với nhiều chứng minh của thử thách, mang đậm dấu ấn trách nhiệm”. Chính vì thế mà tình yêu của người "Em". Ở đây có thể nói không còn bồng bột mà khá chín chắn, có sự can thiệp của lý trí, có ý thức về mặt tình cảm. Ấy thế mà trong lòng người con gái vẫn trỗi dậy mãnh liệt một nỗi nhớ muôn hình, muôn sắc:

"Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”

Nỗi nhớ của "Em", của tình yêu dữ dội được khởi đầu từ những cái cao cả lớn lao, không tủn ngủn và tầm thường chút nào! Nỗi nhớ ấy da diết, cuốn lấy tâm hồn người con gái! Với Xuân Quỳnh là thế: mọi con sóng đều có bờ, mục đích là vỗ vào bờ, nên khi sóng xa bờ thì phải nhớ bờ, ngày đêm không ngủ được. Cũng như sóng, nỗi nhớ về “Anh” vẫn dào lên mãnh liệt:

"Lòng em nhớ đến – Anh
Cả trong mơ còn thức"
Tình yêu đến, tình yêu mang theo một nỗi nhớ vô bờ đến với “Em”, choáng ngợp tâm hồn “Em”. Tình yêu đã trở nên đậm đà đến thế, và nỗi nhớ lại càng da diết miên man. "Có không gian nào dài hơn chiều dài nỗi nhớ, có một khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình yêu…". Vâng! Làm sao đo được nỗi nhớ, làm sao đo được tình yêu! "Em"vẫn nhớ đến “Anh”, chỉ nhớ về phương anh mà thôi:

"Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương".

Tình yêu thật huyền diệu! Điều đáng nói là "Em" biết chủ động, biết gửi trao nỗi nhớ về hướng xác định: Phương anh! – Phương của tình yêu: "rợp trời thương ấy mấy màu xanh suốt, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh…". Tình yêu của người phụ nữ thật mãnh liệt nhưng cũng thật trong sáng, dung dị, một tình yêu thuỷ chung và trọn vẹn. Song, để toàn vẹn mối tình ấy, con sóng phải vượt qua muôn ngàn cách trở:

"Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở"

Con sóng muốn tới bờ, phải vượt qua bao giông tố, bão bùng. Em muốn hướng về anh, phải vượt qua bao cạm bẫy cuộc đời. Suy cho cùng, tình yêu phải cần thử thách tôi luyện mới thấy rõ giá trị thực sự của nó. Tình yêu muốn tồn tại cũng phải có sự ra đi và trở lại, phải có sự dồi lên, lắng xuống để cuối cùng trở về với tình yêu hồn nhiên thuở đầu. Chính tình yêu của anh đã giúp cho em vượt qua tất cả, đón nhận một tình yêu vĩnh cửu – tình yêu lớn lao và cao thượng, không mang màu sắc vị kỉ, riêng rẽ mà là hoà trong cái chung và ở trong cái chung mênhmông ấy, cái riêng sẽ tồn tại mãi mãi:

"Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ"

Tình yêu sẽ trưởng thành đằm thắm hơn và sẽ vĩnh hằng trong cái đẹp của tạo hoá. Bài thơ kết thúc rồi mà nhịp điệu êm ái, nhẹ nhàng của tình yêu vẫn còn vướng đọng đâu đây. Bài thơ thành công không chỉ trong việc miêu tả hình tượng " Sóng" mà còn bộc lộ một tình yêu thật sôi nổi, nỗi khao khát tình yêu của một nhà thơ nữ. Đây chính là nét mới mẻ trong thơ ca hiện đại Việt nam. Trong rất nhiều loài hoa thì bông hoa Xuân Quỳnh tỏa ra một hương thơm riêng, một cách cảm nhận riêng về sóng – biển trong tình yêu. Tình yêu như con sóng mênh mang, vô tận, song cái đích cuối cùng cũng là một tình yêu thứ nhất, vĩnh hằng mãi mãi.


Sửa bởi Butsap - 01 Nov 2011 lúc 4:23pm
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 4:28pm
Nói cùng anh
                                 Xuân Quỳnh
 
Em vẫn biết đấy là điều đã cũ
Chuyện tình yêu, quan trọng gì đâu:
Sự gắn bó giữa hai người xa lạ
Nỗi vui buồn đem chia sẻ cùng nhau

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn
Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi
Niềm đau đớn tưởng như vô tận
Bỗng có ngày thay thế một niềm vui

Ðiều hôm nay ta nói, ngày mai
Người khác lại nói lời yêu thuở trước
Ðời sống chẳng vô cùng, em biết
Và câu thơ đâu còn mãi ngày sau

Chẳng có gì quan trọng lắm đâu
Như không khí, như màu xanh lá cỏ
Nhiều đến mức tưởng như chẳng có
Trước cuộc đời rộng lớn mênh mang

Nhưng lúc này anh ở bên em
Niềm vui sướng trong ta là có thật
Như chiếc áo trên tường, như trang sách
Như chùm hoa mở cánh trước hiên nhà

Em hiểu rằng mỗi lúc đi xa
Tình anh đối với em là xứ sở
Là bóng rợp trên con đường nắng lửa
Trái cây thơm trên miền đất khô cằn

Ðó Tình yêu, em muốn nói cùng anh
Nguồn gốc của muôn ngàn khát vọng
Lòng tốt để duy trì sự sống
Cho con người thực sự Người hơn.
 
------------------------------------------
Nỗi buồn trong thơ tình yêu Xuân Quỳnh

Cái chết bởi tai nạn thương tâm đã mang Xuân Quỳnh đi mãi mãi khỏi chốn trần ai nhưng Xuân Quỳnh còn để lại một sao băng chói sáng trên nền thơ Việt Nam hiện đại. Người đàn bà tài hoa nhưng không hề may mắn trong đời riêng- lận đận hai lần đò- lấy chồng lần thứ hai, lấy Lưu Quang Vũ, đã “vắt kiệt tâm hồn mình” để lại cho đời mảng thơ tình yêu vô cùng ấn tượng…

Cả cuộc đời Xuân Quỳnh có những nỗi buồn đau: mồ côi mẹ từ nhỏ, gặp bất trắc trong tình yêu và hôn nhân. Những nỗi đau buồn ấy cùng với những dư vị cay đắng ở đời đã thấm đẫm vào trong từng trang thơ của chị…Vì thế, trong thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có sự song hành của những cặp phạm trù đối lập, của mọi sắc màu và giai điệu của tình yêu: hạnh phúc và sự khổ đau, niềm hy vọng và sự mất mác chia lìa…Bên cạnh sự mơ mộng, sôi nổi..thơ chị còn là những trăn trở về cuộc đời, về tình yêu và sự chia xa…Nhiều lúc giọng thơ như nghẹn lại vì lòng chị còn vướng bận bao điều âu lo khác: Em lo âu trước xa tắp đường mình. Trái tim đập những điều không thể nói- (Tự hát); Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn, Hôm nay yêu mai có thể xa rồi- (Nói cùng anh); Lời yêu mỏng manh như màu khói, Ai biết lòng anh có đổi thay- (Hoa cỏ may)…

Tâm hồn Xuân Quỳnh luôn luôn xáo trộn. Sự yên tĩnh chẳng được bao lâu, tâm hồn ấy cũng nghiêng ngả như những vần thơ chơi vơi của chị: Em từ nhà đi đến ngã tư, Gặp đèn đỏ trước hàng đinh thứ nhất. Chờ sang đường- đèn xanh vừa bật. Em lại quay về. Thành phố mùa đông-(Trời trở rét). Đắng cay, chia lìa, đổ vỡ…như điệp khúc trong bản tình ca buồn về cuộc đời và  thơ ca của chị. Hạnh phúc như tan biến hoặc dẫu  có nhìn thấy nhưng hạnh phúc còn ở mãi xa xôi vượt khỏi tầm tay . Nhiều vần thơ là nỗi đau giằng xé tâm hồn, nỗi đau ấy hạnh hạ nhà thơ từng phúc giây thực tại: Mấy năm rồi thơ em buồn hơn, Áo em rộng, lòng em tan nát- (Không đề)...

Trong thơ Xuân Quỳnh, biết bao lần trào lên nỗi cô đơn- cái điều mà chị lo sợ nhất. Nhân vật trữ tình thường đứng một mình trước biển, một mình trên sân ga với nỗi buồn và sự cô đơn choáng ngợp: Vừa thoáng tiếng con tàu. Lòng đã Nam đã Bắc- (Sân ga chiều em đi)...

Cả cuộc đời Xuân Quỳnh luôn sống bằng tình yêu, làm thơ nhờ tình yêu, sung sướng trong tình yêu và khổ đau cùng cực cũng vì tình yêu hành hạ: Tôi có một tình yêu rất sâu. Rất dữ dội nhưng không bao giờ yêu được hết. Ở các cô, các cô âm thầm chịu đựng. Còn ở tôi, tôi mang nó nặng nề...Ôi con trai thật là kì lạ. Tôi yêu tất cả mọi người mà chẳng yêu được riêng ai- (Thơ viết cho mình và những người con gái khác). Và khi nhìn vào trong cõi lòng, không thể kìm nén được Xuân Quỳnh đã bật lên tiếng nấc cô đơn. Chị thương mình vì cảm thấy đôi lúc bị bỏ rơi và bất lực: Gọi ngàn lần tên anh vẫn là không. Chỉ gió thổi mây bay về phía núi. Điều thương nhớ ngàn lần em muốn nói. Nhưng bây giờ chỉ có sóng và em- (Chỉ có sóng và em). Đâu phải là sự tình cờ mà trong thơ Xuân Quỳnh ý thức về thời gian luôn luôn là nỗi khắc khỏai niềm day dứt không thể nguôi ngoai. Chính điều ấy đã góp phần tạo nên một giọng điệu khá đặc sắc trong những bài thơ viết về tình yêu của chị. Không một lúc nào, nỗi ám ảnh về thời gian vận động không ngừng buông tha chị: Dù cùng một thời gian, cùng một không gian. Ngoài cánh cửa với em là quá khứ- (Thời gian trắng).  Xuân Quỳnh đã nói lên được tiếng lòng mình và đó là một nỗi lòng muôn thưở của người phụ nữ khi yêu. Ngay trước một cảnh rất thường: Cuối trời mây trắng bay. Lá vàng thưa thớt quá- (Thơ tình cuối mùa thu)... Song lời thơ cứ như một tiếng thở dài bất chợt như một niềm thảng thốt của một tâm hồn đầy xao động.

Chính những đắng cay trong cuộc sống hàng ngày đã khiến cho Xuân Quỳnh nhìn đời không như trước nữa. Tình yêu ngọt ngào và sâu lắng nhưng chị nào biết đâu lời nào thật, giả của người mình yêu. Vẫn con đường, vạt cỏ tuổi mười lăm. Mặt hồ rộng gió đùa qua kẽ lá. Lời tình tự trăm lần trên ghế đã. Biết lời nào giả dối với lời yêu- (Thơ tình cho bạn trẻ). Và nỗi buồn vì chia xa như một điệp khúc buồn cứ vang vọng mãi trong thơ của chị: Thị trấn nào anh đến chiều nay. Mảnh tường trắng mùa đông giá rét. Dẫu em biết không phải là vĩnh biệt. Vẫn thấy lòng da diết lúc chia xa- (Dẫu em biết chắc rằng anh trở lại). Càng về cuối, thơ tình của Xuân Quỳnh càng khắc khoải nung đốt lòng người bởi nó thấm đẫm những cay đắng cuộc đời. Chất lý tinh đã hòa quyện vào trong những bài thơ tình yêu nhưng chẳng làm giảm bớt đi vẻ đẹp đẫm tình của thơ Xuân Quỳnh vốn có từ trước đó: Đấy tình yêu em muốn nói cùng anh. Nguồn gốc của muôn vàn khát vọng. Lòng tốt để duy trì sự sống. Cho con người thực sự Người hơn- (Nói cùng anh);  Em trở về đúng nghiã trái tim em. Biết khao khát những điều anh mơ ước. Biết xúc động qua nhiều nhận thức. Biết yêu anh và biết được anh yêu- (Tự hát).

Đâu phải vô cớ mà trong thơ Xuân Quỳnh sử dụng rất nhiều từ chỉ tâm trạng. Sự cô đơn, cay đắng đau đớn, nỗi nhớ thương, và về cuối là  bệnh tật… như phủ kín trên từng trang thơ của chị. Người đọc hôm nay sẽ cảm mến hơn, trân trọng hơn khi đọc lại những bài thơ chị viết về tâm trạng của mình trong những ngày tháng đó: Trái tim này chẳng còn có ích. Cho anh yêu cho công việc bạn bè. Khi cuộc đời trôi chảy ngòai kia. Thời gian trắng vẫn ngừng trong bệnh viện. Chăn màn trắng, nỗi lo và cái chết. Ngày với đêm có phân biệt gì đâu- (Thời gian trắng)...

Xuân Quỳnh đã đột ngột từ giã chúng ta ra đi vĩnh viễn cùng với chồng và con qua một tai nạn thương tâm, để lại biết bao thương tiếc cho tất cả những ai yêu thơ chị, yêu kịch Lưu Quang Vũ. Thế nhưng chính sự kết thúc ấy đã khiến cho tình yêu mà chị tôn thờ trở thành bất tử, đã là cho Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh dường như càng đẹp ngời thêm lên bởi một vừng sáng kì diệu của huyền thoại …  



Sửa bởi Hoangtube - 01 Nov 2011 lúc 4:34pm
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 5:47pm

Lời thề cỏ may - Phạm Công Trứ

Làm sao quên được tuổi thơ
Tuổi vàng, tuổi ngọc - Tôi ngờ lời ai
Thuở ấy tôi mới lên mười
Còn em lên bảy theo tôi cả ngày
Quần em dệt kín bông may
Aó tôi đứt cúc, mực dây tím bầm
Tuổi thơ chân đất đầu trần
Từ trong lấm láp em thầm lớn lên
Bây giờ xinh đẹp là em
Em ra thành phố dần quên một thời
Về quê ăn tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò
Gặp tôi em hỏi hững hờ:
"Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai"
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may.

 

Người trai trong bài thơ này có một lời thề kì dị, lạ lùng : Thề cỏ May. Người ta thề non nước, thề miếu, thề đền, thề trăng sao, sông biển :

Phải chi miếu ở gần sông

Em thề một tiếng kẻo lòng anh nghi

(Ca dao)

Trăng thề còn đó trơ trơ

Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng

(Nguyễn Du)

          Vẫn biết rằng có bao nhiêu tình yêu thì có bấy nhiêu cách thề nguyền. Nhưng có lẽ không phải vì muốn độc đáo, khác người mà đem lời nguyền thề với cỏ may. Cỏ may, một thứ cỏ đồng quê gắn liền với tuổi thơ đầu trần chân đất. Cỏ may từng chứng kiến bao nỗi buồn niềm vui thơ ngây :

Sợi dây đứt cánh diều bay mất

Ta một mình ngồi khóc với cỏ may

          Đã bao lần nước mắt đẫm cỏ may, nên lời thề thiêng liêng ấy gắn với cỏ may cũng là điều dễ hiểu. Để ý xem kỹ, không thấy nói lời thề cỏ may được bắt đầu từ khi nào. Nó được nguyền "đinh ninh đôi miệng một lời song song " cạnh giếng đá trăng vàng, hay khắc cốt ghi lòng cạnh ngõ nhỏ "xanh xanh bờ dậu cúc tần. Thoảng hương bồ kết thơm gần thơm xa ". Không rõ. Nhưng có phần chắc lời thề được ghi tạc như một tất yếu sau quãng tuổi thơ, sau những ngày họ vô tư quấn quýt bên nhau và cùng nhau lớn lên thầm lặng.

          Thời gian đã ban phép màu nhiệm, biến một cô bé lên bảy quần "dệt kín bông may" hôm nào trở thành một cô gái xinh đẹp, ăn mặc thật "mốt" của hôm nay.

Bây giờ xinh đẹp là em

Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò

          Thời gian đã làm cho cô xinh thêm,đẹp thêm, hiện đại thêm, nhưng cũng thêm cho cô một sự quên lãng. Chưa đến mức quên sạch sành sanh. Khi gặp lại người bạn trai cô vẫn còn nhận ra anh, chứ không như người con gái trong ca dao "Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào". Nhưng ta hãy xem cô cư xử :

Gặp tôi em hỏi hững hờ

Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai

Em đi để lại chuỗi cười

          Hỏi "hững hờ" đã rất đáng trách. Hỏi "chờ đợi ai" lại càng đáng trách hơn. Lại còn cười nữa chứ ! "một chuỗi cười ". Tiếng cười không dứt của cô, và rất có thể cộng với những tiếng cười của dân làng mà cô khơi gợi đã làm cho anh choáng váng. Cứ như cô là người dưng, người ngoài cuộc. Cứ như cô là người chẳng liên quan đến lời thề cỏ may ngày nào. Cứ như người trung thành với lời thề, chờ đợi cô đến nỗi muộn màng là người vớ vẩn, làm một chuyện nực cười !

          Có lẽ có nhiều trường hợp phản bội tình yêu, nhưng sự phản bội cố ý mà khoác cái áo vô tình như cô gái này thì thật là kinh khủng.

          Bao nhiêu ấp ủ, bao nhiêu chờ đợi, bao nhiêu hy vọng và mơ mộng của chàng trai cùng với "lời thề cỏ may" thiêng liêng nhưng quá mong manh kia bây giờ tan vụn ra. Cái áo chẽn, cái quần bò ai ngờ có thể đẻ ra sự hững hờ. Sự lạnh nhạt cùng với chuỗi cười tàn bạo đã như một quả bom nổ tung "khoảng trời pha lê". Chớ nên hiểu rằng chỉ vì mất cô mà trong anh có sự đổ vỡ lớn lao như vậy. Anh mất cô, có đau xót, có nuối tiếc thật nhưng sự mất mát của anh lớn hơn rất nhiều so với một cô gái, một con người cụ thể. Đây đâu phải là chuyện bội tình. Đây là sự phản bội "tuổi vàng tuổi ngọc", phản bội cả "một thời " đã sống. Đổ vỡ lớn nhưng đâu còn thơ ngây như ngày nào mất cánh diều giấy, nên anh chẳng thể "ngồi khóc với cỏ may". Không một tiếng cầu xin, không một lời than thở, một chút oán giận cũng không nốt, chàng trai tự mình giải lời thề :

Trăng vàng đêm ấy bờ đê

Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may

          Anh tự thuật về mình mà cứ như viết về ai, về một chàng trai nào đó. Phải chăng vì đã 8 lần xưng tôi ở trên nên bây giờ tác giả không thể viết "tôi ngồi lặng gỡ lời thề cỏ may"? Phải chăng đây chỉ đơn thuần là một thủ pháp làm duyên như tác giả đã dùng trong bài "Quê" :

Trăng vàng giếng đá đêm sau

Có đôi đầu chụm vào nhau thầm thì.

          Có lẽ "tôi"-  con người cả tin chân thành và trong trắng ấy đã chết cùng với khoảng trời pha lê vỡ, cho nên phải viết "có người" như thế ? Tôi nghiêng về giả định sau và cho rằng câu thơ ấy là khả năng tối ưu trong hàng loạt khả năng.

          Ngược dòng thời gian quãng trên dưới thế kỷ, ta sẽ được chứng kiến sự đổi cách ăn mặc của phái đẹp trong thơ. Nguyễn Bính trong bài thơ "Chân quê" đã ghi lại hết sức cụ thể về sự thay đổi đó. Nào cái yếm lụa sồi, cái dây lưng đũi, nào cái áo tứ thân, nào cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen. Tất cả đều bị thay thế bởi "khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng" và " áo cài khuy bấm". Thế mà mới quãng thời gian chưa xa, những thứ "tân thời" của cô gái trong thơ Nguyễn Bính đã chỉ còn như là cổ vật chỉ thấy nói trong sách vở  và bày trong viện bảo tàng. Đã bao lần đổi thay để đến cách ăn mặc "áo chẽn, quần bò " như trong bài thơ này ? Khác với người đồng hương lớn tuổi, tác giả Phạm Công Trứ không dám đòi cô bạn "giữ nguyên quê mùa" trong cách ăn mặc. Anh biết khi mà Việt Nam đang hoà nhập vào cộng đồng thế giới một cách toàn diện thì đòi hỏi như thế là không tưởng. Anh chấp nhận áo chẽn, quần bò. Và hình như anh còn tự hào vì nó thì phải. Anh chỉ muốn một điều này thôi : dù có áo chẽn , quần bò hay ăn mặc tối tân gì gì đi nữa, thì xin đừng quên những gì thiêng liêng mà mình đã có, xin đừng quên những trăng vàng, đường cỏ, bờ đê, xin đừng quên lời thề một thời đã sống. Với một ý tưởng như vậy "lời thề cỏ may" vượt ra khỏi câu chuyện tình của một người, trở thành chuyện của nhiều người, của nhiều thời. Chúng ta đang đổi mới toàn diện, đổi mới triệt để "Nhật nhật tân, hựu nhật tân", trong đó chắc chắn có sự đổi mới về ăn mặc. Mốt áo chẽn quần bò chẳng mấy lúc mà cũ càng. Nhưng tinh thần, cái hồn của "Lời thề cỏ may" chắc không bao giờ xưa cũ.

 






Sửa bởi Hoabanglang - 01 Nov 2011 lúc 5:50pm
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 5:56pm

ĐÁM CỎ XANH
         LÊ THỊ MÂY


Đây đám cỏ nơi ngã ba
Em buồn nhiều, có biết là anh đợi
Nỡ nào bứt cọng cỏ xanh
Em đau chợt trút cho thành đau cây
Quá giờ hẹn ai qua đây
Cỏ gầy cũng ngóng từng giây nhận người
Em buồn nhiều, cỏ bớt tươi
Đêm tối lắm, chỉ sao cười yêu nhau
Anh lỡ hẹn, gió về đâu
Nỡ nào bứt cỏ cho nhàu ban mai
Em buồn nhiều, cỏ khóc ai
Giọt sương ấy có đất đai nhận rồi
Lỡ hẹn bóng không còn đôi
Em như con dế không rời cỏ xanh.

Lời bình của Vũ Nho
Các cô gái trong tình yêu thường hay "làm điệu con gái" bằng cách bắt các chàng trai phải chờ đợi mình trong buổi hẹn từ năm phút cho tới hơn... nửa giờ. Cô gái trong bài thơ này dễ mến, có được cảm tình ngay, vì cô hồn nhiên và chân thành. Cô không cần dùng thuật tâm lý, mà đến nơi hẹn hò ít ra là cũng đúng giờ, cho nên mới phải đợi chờ và mong ngóng.
Khi có điều bối rối, những người bạn gái hay vô tình bứt một lá cây hay một nhành cỏ. Cô gái không nỡ và không muốn làm cỏ đau vì nỗi buồn của mình. Nỗi buồn ấy, không rõ vì đợi người yêu mà anh không tới đúng hẹn, hay còn vì trong đời sống tình cảm đã có dấu hiệu của sự tan vỡ, mất mát.
Quá giờ hẹn ai qua đây
Cỏ gầy cũng ngóng từng giây nhận người
Em buồn nhiều, cỏ bớt tươi
Đêm tối lắm, chỉ sao cười yêu nhau.
Vậy là cỏ không chỉ đóng vai trò ng¬ời làm chứng mà cỏ cũng là người trong cuộc. Ngã ba chờ đợi bây giờ không phải chỉ có một người ngóng trông.
Cỏ gầy cũng ngóng từng giây nhận người
Không thấy cô gái mà chỉ thấy cỏ. Cỏ ở đây hiện ra rõ rệt hơn cả về hình thể lẫn màu sắc. Ở khổ thơ thứ nhất là "cọng cỏ xanh" thì ở khổ thơ này là "cỏ gầy", "cỏ bớt tươi". Thời gian chờ đợi thật khắc khoải : "ngóng từng giây". Người yêu đương xưa đã từng nếm trải "ba thu dọn lại một ngày...".
Còn nơi đây "một giây" cũng đã được dồn vào bao nhiêu đằng đẵng sau chữ "cũng". Cô cũng ngóng từng giây với cỏ. Cô lẫn vào trong cỏ. Và do đó cứ muốn ngỡ rằng, cô không chỉ buồn nhiều, mà cô cũng hao gầy, cũng bớt tươi như cỏ vì ngóng trông, vì đã "quá giờ hẹn" mà người chưa thấy tới. Cảnh được nói trong câu thơ "Đêm tối lắm, chỉ sao cười yêu nhau" có vẻ như mâu thuẫn nhưng lại rất đúng về tâm trạng. Đêm sáng sao, các vì sao lấp lánh như đang mỉm cười, đang âu yếm nhau. Nhưng với cỏ, với cô gái thì sao xa quá nên đêm tối. Hơn nữa bởi không một tia hy vọng, một dấu hiệu nào đảm bảo sự sẽ có mặt của người hò hẹn. Vì thế đêm có sao mà lại là đêm tối lắm, trong mắt người chờ mong.
Anh lỡ hẹn, gió về đâu
Vì sao sự lỡ hẹn của anh lại đi liền với câu hỏi về hướng bay của gió ? Phải rằng muốn hỏi gió lang thang, may ra gió biết anh ở đâu và vì sao anh lỡ hẹn ? Có thể là vậy. Nhưng câu hỏi lại không hỏi về điều ấy. Khi "quá giờ hẹn" thì vẫn còn hy vọng mong manh anh sẽ đến. Còn khi quá giờ hẹn vượt xa mức cho phép, đã có thể tin chắc là lỡ hẹn một trăm phần trăm thì người chờ đợi thất vọng hoàn toàn. Trong trạng thái ấy xuất hiện nhu cầu giao tiếp. Cần phải được trò chuyện, được hỏi han, được chia sẻ. Phải vì thế chăng mà có câu hỏi như là một sự thảng thốt "gió về đâu ". Một câu hỏi chỉ để hỏi, để được hỏi, được trò chuyện, chứ không nhằm mục đích để hiểu biết.
Nỡ nào bứt cỏ cho nhàu ban mai
Khi tuyệt vọng người ta cũng dễ giận cá chém thớt, dễ phá phách. Nhưng cô gái mới hiền làm sao, mới nhân hậu làm sao. Cô không nỡ làm cỏ đau. Cô không nỡ bứt cỏ vì sợ nhàu ban mai. Có người cứ vào chữ "ban mai" mà cho rằng cô gái đã đợi đến tận sáng.
Không nên quên rằng nhà thơ có thể thậm xưng, có thể nói quá mà người đọc vẫn tin vì đôi khi cảnh không thực, thời gian không xác thực nhưng tình là thực. Tuy nhiên, cũng không nên hiểu rành mạch như thế. Chị biết rằng cô gái không muốn trút nỗi niềm riêng của mình sang cỏ cây, không muốn vì thế mà làm nhàu ban mai - một ban mai trong trẻo hồn nhiên như tâm hồn cô.
Em buồn nhiều, cỏ khóc ai
Cỏ như thấu hiểu nỗi lòng, cỏ như hoá thân vào cô mà rơi nước mắt. Khóc ai ? Thật là dễ xác định, nhưng lại không nên xác định : Ai là anh, nhưng ai cũng là em. Và đâu chỉ có cỏ khóc vì không phải chỉ có mình cỏ "ngóng từng giây nhận người". Có điều nước mắt của cỏ nhìn thấy được trong giọt sương ấy đã có đất đai nhận rồi. Còn nước mắt của em, nước mắt chảy vào trong tim không nhìn thấy thì ai nhận cho, ai có thấu cho.
Lỡ hẹn bóng không còn đôi
Em như con dế không rời cỏ xanh
Câu thơ sáu chữ nói một điều hiển nhiên, nhưng hãy chú ý đến chữ "bóng". Bóng không còn đôi chứ không phải là em. Tất nhiên, có em thì mới có bóng. Nhưng người con gái khiêm tốn này như muốn xoá mình đi, ẩn mình đi trong khung cảnh chờ đợi. Còn khi em hiện ra đằng sau chiếc bóng lẻ kia thì lại là một em khác, một em "như con dế" níu lấy cỏ, bám vào cỏ. Ta bỗng nhớ đến mô típ truyện cổ dân gian rất phổ biến về sự chờ đợi hoá đá của bao người vọng phu.
Câu thơ "Em như con dế không rời cỏ xanh" nghe thật là hiền lành nhưng nghĩ kĩ thì thật là dữ dội. Chờ đợi như thế, cô đơn như thế cũng là hết mực. Con dế nhỏ bé đơn chiếc lẫn vào với cỏ được ví với người con gái cô đơn níu vào cỏ, dựa vào cỏ để có điểm dựa tinh thần - sự so sánh có sức gợi cảm hơn bất kỳ một hình thức khoa trương nào. Nó rất hợp với điệu tâm hồn cô gái, con người dịu dàng e ấp không nỡ làm đau, dù chỉ là một ngọn cỏ, một mầm cây. Nó phù hợp với những câu thơ ngập ngừng một nửa hướng ngoại, một nửa hướng nội, mà phần hướng nội lại mạnh hơn.
Nhiều nhà thơ hiện đại Việt Nam đã từng viết về cỏ rất hay, rất tinh tế, nhưng "Đám cỏ xanh" của Lê Thị Mây khác hẳn những bài thơ cỏ, khác hẳn những vuông cỏ, bờ cỏ, thảm cỏ, cọng cỏ, sợi cỏ, ngọn cỏ... mà các thi sĩ khác đã viết.



Sửa bởi Hoabanglang - 01 Nov 2011 lúc 5:56pm
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 6:11pm

HÒ HẸN MÃI CUỐI CÙNG EM CŨNG ĐẾN

                                                  Hoàng Nhuận Cầm

 

    Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến

    Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi

    Còn sót lại bên bàn bông cúc tím

    Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi

 

    Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng tới

    Nh­ư cánh chim trong mắt của chân trời

    Ta đã chán lời vu vơ giả dối

    Hót lên! Dù đau xót một lần thôi

 

    Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói

    Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ

    Anh sợ hãi, bây giờ anh mới nhớ

    Em hay là cơn bão tự ngàn xa.

   

    Quả tim anh nh­ư căn nhà bé nhỏ

    Gió em vào- nếu chán- gió lại ra

 

    Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó

    Dẫu mùa thu, hoa cúc c­ướp anh rồi...

 

Lời bình của Vũ Nho

Hẹn hò là đã có tình ý với nhau. Gặp gỡ trong hẹn hò là để khởi đầu cho một quá trình gắn bó. Cuộc tình nào mà chẳng phải trải qua b­ước hẹn hò. Điều khác th­ường ở đây là cuộc hẹn này cứ lần lữa kéo dài, cứ hoãn đi hoãn lại. Nó không giống với cuộc hẹn lỡ một lần để mùa xuân cũng cạn ngày nh­ư trong M­ưa xuân của Nguyễn Bính. Hò hẹn mãi nghĩa là chí ít cũng dăm bảy bận. Đến nỗi đã có thể quên, vĩnh viễn quên nếu không có cái lần cuối cùng em cũng đến. Cái từ cũng ở đây không thể thay thế bằng từ mới, hay đã chẳng hạn. Bởi vì nó là sự kịp thời đến sau cái giới hạn "cuối cùng" nghiệt ngã.

Không rõ cuộc hẹn hò bắt đầu từ bao giờ, nh­ưng thời điểm "cuối cùng" mà em đến là thời điểm lỡ mùa. Mùa thu vừa mới đi rồi. Sự đến của em không kịp với sự ra đi của mùa thu. Chỉ còn một chút hình ảnh sót lại của mùa thu, nh­ư một chứng tích về mùa thu đã ở trong căn phòng này, đã cùng chờ cuộc hò hẹn ấy. Nh­ưng bông hoa cúc ấy cũng đã úa tàn, héo hon vì chờ đợi:

    Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi.

Ng­ười chủ căn phòng cũng đã cùng với bông hoa chờ đợi nên mới tẩn mẩn đếm kĩ cánh hoa tàn và biết cả cái trạng thái "sắp sửa rơi".

Mới hò hẹn thôi, đã có gì sâu nặng đâu. Thế nh­ưng mỏi mòn chờ đợi đã làm cho chàng trai dằn dỗi:

    Ta đã chán lời vu vơ giả dối

    Hót lên! Dù đau xót một lần thôi

Thật ra khó mà xác định ai là ng­ười nói lời vu vơ, giả dối. Lời hò hẹn mãi kia nhàm chán thành ra lời vu vơ giả dối chăng? Cô gái cứ lần lữa hẹn mà không đến thành ra lời thiêng liêng bỗng hóa trò đùa chăng? Sự vòng vo ngập ngừng mãi qua những lần hẹn không thành của chàng trai chăng? Chỉ biết là lần này phải dứt khoát, phải là hai năm rõ m­ười. Có vẻ nh­ư không khí của đôi trai gái x­ưa trong ca dao: "Có yêu thì nói rằng yêu. Không yêu thì nói một điều cho xong".

Thế nh­ưng không thể ngờ tình huống lại đảo ng­ược nh­ư vậy. Hò hẹn mãi, em cũng đến vào thời điểm cuối cùng. Chần chừ mãi, em cũng nói vào thời điểm cuối cùng. Mà là một cách nói hình t­ượng:

    Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ

Thế là bao nhiêu dằn dỗi, quyết liệt kia bỗng đ­ược hóa giải. Không những thế, đang từ thế chủ động lại chuyển thành thế bị động, đang mạnh dạn bỗng thành sợ hãi, dù mới là một dự cảm khi nghe câu nói mà chợt nhớ ra:

    Anh sợ hãi, bây giờ anh mới nhớ

    Em hay là cơn bão tự ngàn xa.

Nh­ưng bão thì cũng chỉ là gió lớn mà thôi. Cho nên không phải sợ hãi nhiều. Chàng trai đã đủ bình tĩnh để mời mọc:

    Quả tim anh nh­ư căn nhà bé nhỏ

    Gió em vào- nếu chán- gió lại ra

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Em đã v­ượt qua đ­ược quan niệm bồ câu không chết trẻ để bây giờ Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó. Cơn bão liệu còn khả năng nổi gió đ­ược không khi mùa thu đã đi rồi? Những cơn gió mạnh liệu có vào căn nhà quả tim bé nhỏ mở rộng cửa đón mời? Và chàng trai, sau bao nhiêu chờ đợi, cái phút giây gặp gỡ này cũng đã muộn, là quá muộn "Mùa thu hoa cúc c­ướp anh rồi"! Có thể c­ướp lại đ­ược anh từ mùa thu và hoa cúc chăng? Có thể c­ướp lại. Nh­ưng có thể chăng c­ướp lại đ­ược mùa thu khi mùa thu đã ra đi? Có thể chăng c­ướp lại, làm t­ươi lại bông hoa cúc" Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi"?...Khả năng thật mong manh, nh­ưng ch­ưa phải là hết khả năng. Tình thế ch­ưa phải là tuyệt vọng, nh­ưng cũng gần tuyệt vọng. Câu hỏi còn để ngỏ cho cả hai ng­ười.

    Nh­ưng bài học về sự hò hẹn mãi cuối cùng...thì trở thành một bài học cho lứa đôi muôn thuở.

                                                   

                                                                     Hà Nội 10/2005

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 7:31pm
THỜI HOA ĐỎ VÀ TRÁI TIM "CHÀNG ĐÀN ÔNG VÔ LÝ".

THỜI HOA ĐỎ
Thanh Tùng

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng cho lòng ta yên

Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê của một thời thiếu nữ

Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa của một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn vào tận sâu mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu thương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say

Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh lùng
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim.

Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời hoa đỏ ngày xưa.


LỜI BÌNH của Hoàng Đình Quang

Bài thơ được viết vào khoảng năm 1972 khi vừa đổ vỡ cuộc tình cùng người vợ ở Hải Phòng. Bài thơ là nỗi đau tột cùng thăng hoa thành định mệnh của tôi, thành tên gọi của Thanh Tùng. Đây là những lời tự bạch của nhà thơ Thanh Tùng.
Người bình thường, người nghe hát bình thường, biết đến Thời hoa đỏ qua ca khúc nhạc của Nguyễn Đình Bảng. Đó là một bài hát hay, phổ cập và có thể nói rằng ca khúc ấy ở cấp độ phổ thông.
Người yêu thơ, người làm thơ nghe bài hát thấy hay, rất hay. Khi tìm đến bài thơ viết từ ngót 40 năm qua, sao thấy không chỉ buồn mà còn đau nữa. Vết khứa trong tim thật sâu, thật day dứt bằng con dao cùn trớ trêu.
Nhưng bài thơ không dành cho số đông, không dành cho các nhà phê bình. Nó dành hẳn cho những ai đang buồn, đang đau xót và túng quẫn, không có lối ra.

Thanh Tùng viết rằng anh viết bài thơ này "khi vừa đổ vỡ cuộc tình cùng người vợ",  tôi không tin, rất không tin. Có thể anh nói thế để giấu đi nỗi đau của mình, để "làm hàng" với dư luận mà thôi. Đây chắc hẳn là một mối tình khác, mối tình sau của anh và cũng là của em:
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời hoa đỏ ngày xưa.


"Anh biết mình vô nghĩa đi bên em", là thế nào? Là làm sao phải thế? Là em của thời hoa đỏ ngày xưa kia! Không phải của anh! Anh cũng vớt vát để giả vờ xoa đi nỗi đau của mình: Anh của thời hoa đỏ ngày xưa. Thật vụng về, đáng thương!
Cách đây nhiều năm, khi ngồi uống bia với Thanh Tùng, tôi hỏi:
- Anh là tác giả của Thời Hoa đỏ. Bài thơ hay lắm, câu nào cũng hay! Khi nó được làm lời cho ca khúc cùng tên, bài hát cũng hay, có một số câu sửa đi theo yêu cầu của âm nhạc, cũng vẫn còn hay. Nhưng tôi đố anh, trong đó có một câu hay nhất, phải nói là cái đinh của bài thơ, Đến nỗi, nếu rút nó đi, thì bài thơ sẽ đổ, hoặc chí ít, nó cũng chỉ là một bài thơ tình ở mức trung bình? Đố anh biết nó là câu nào?
Thanh Tùng ngớ người ra, lắc đầu: Chịu!
Tôi tiếp:
- Câu thơ đó không phải là câu thơ hay, để người ta phải chép vào sổ, hay được đem ra phân tích ngữ pháp. Nó chỉ hay khi đứng trong bài thơ này, và bài thơ này hay là nhờ nó... Vì bài thơ tình này không dành cho số đông.

Nhìn vẻ mặt căng thẳng của Thanh Tùng, tôi càng tin rằng: thi sĩ làm thơ là bằng gan ruột, băng giây phút thăng hoa nhất định, chứ tuyệt nhiên không phải bằng chữ nghĩa, lại càng không phải bằng thủ pháp tu từ nào để người đọc tuỳ tâm suy diễn. Và khi nói điều này, tôi cũng là người suy diễn mà thôi:
Ta nhìn vào tận sâu mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Chỉ vì:
Trong câu thơ của em anh không có mặt
Đây là câu thơ mang toàn bộ nguồn cơn, là lý do sâu xa để có được bài thơ buồn đau xót thế này.
Thanh Tùng như là rùng mình, lắc đầu nhìn tôi, im lặng!

Nhưng Thanh Tùng ơi, và cả những người đang buồn đau ơi! Cuộc đời là thế. Đây là cái đẹp nhất mà chỉ cuộc đời mới có. Và những ai nhấp phải nỗi buồn này, nỗi trớ trêu này mới được tận hưởng sức mạnh của thi ca.
Một lần khác, tôi đem điều này nói với một bạn gái. Bạn tôi có hơi xúc động, nhưng chỉ thoảng qua, rồi rành rọt:
- Này chàng đàn ông vô lý ơi! Thế lúc đó anh ở đâu? Sao anh không chạy đến với tôi? Sao anh không xô đẩy, giải tán đám đông, thậm chí nếu cần thì vung nắm đấm lên để giành lấy tôi? Lúc đó tôi sẽ làm thơ về anh, sẽ ca hát về anh và thậm chí tôi sẽ khóc nức nở trên vai anh...

Tôi chịu thua! Và tự an ủi trái tim "chàng đàn ông vô lý" bằng một câu khác:
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ.


Trưa ngày 28-9-2009
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 7:43pm
Đừng vò nát thư em

Những ai yêu thơ Nga không thể không biết đến những vần thơ trữ tình thấm đẫm của Anna Akhmatova. Sức sống của thơ bà không phải ở những cái mới lạ, độc đáo hay sự cầu kì, trau chuốt mà chính là ở sự nhẹ nhàng, đằm thắm, lắng sâu với nhiều tầng ý nghĩa. Những vần thơ tình của Anna Akhmatova là những lời thủ thỉ, tâm tình của một trái tim phụ nữ đong đầy yêu thương, tinh tế và nhạy cảm. “Đừng vò nát thư em” là một nốt trầm xao xuyến trong cung đàn thơ tình ấy của bà…

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Hãy kiên nhẫn đọc đến cùng, anh nhé

Em đã chán làm người xa lạ

Chán vật vờ trên bước đường anh.

 

Đừng nghi ngờ em, đừng giận, đừng buồn

Em là của anh, là người yêu anh đó

Không phải cô bé lọ lem, chẳng là công chúa

Em cũng không phải là tu sĩ nữa rồi.

 

Em giản đơn mặc áo bạc màu

Em trong đời thường, đi giày vẹt gót...

Nhưng vẫn như xưa, vòng tay riết chặt

Vẫn nỗi kinh hoàng trong đôi mắt mở to.

 

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Đừng khóc vì sự dối lừa thánh thiện

Trong hành trang nghèo, chỉ giàu kỷ niệm

Tận đáy túi của mình, anh hãy giữ thư em

(Đừng vò nát thư em – Hồ Bất Khuất dịch)

 

Cả bài thơ là nỗi niềm khắc khoải, lo lắng của cô gái gửi tới người yêu thương. Bốn khổ thơ, không có sự mới mẻ trong cách viết, không có sự độc đáo trong hình ảnh, không cả sự tăng cấp của dòng cảm xúc. Vậy cái hay, cái làm nên sức sống lâu bền của bài thơ nằm ở đâu? Đó chính là ở những dòng tâm tình đầy tha thiết, một tâm hồn dịu dàng với một ước mong giản dị mà rất đỗi chân thành: Đừng vò nát thư em. Ước mong ấy được thể hiện ngay từ câu thơ đầu tiên:

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Một câu thơ nhẹ nhàng, một giọng điệu trìu mến! Ta có thể cảm nhận được bao yêu thương chất chứa trong ba tiếng Anh thân yêu. Ba tiếng ấy được đảo lên đầu, trở thành trung tâm thông tin của câu thơ, chính vì vậy, lời khẩn cầu đừng vò nát thư em trở nên tha thiết hơn, nhẹ nhàng hơn và không bị rơi vào sự van xin quỵ luỵ. Đó cũng chính là điểm mạnh trong thơ Anna Akhmatova – chân thật, giản dị. Tình yêu chân thành tự có tiếng nói riêng của nó. Những câu thơ của bà giống như một lời thủ thỉ hết sức tự nhiên:

Hãy kiên nhẫn đọc đến cùng, anh nhé

Kiên quyết, nhẹ nhàng – thái độ đó chỉ có thể có ở một người con gái đầy nữ tính và cũng đầy bản lĩnh. Bởi chỉ có bản lĩnh thì mới có được thái độ kiên quyết như vậy và phải có bản lĩnh thì mới có thể thốt lên:

Em đã chán làm người xa lạ

Chán vật vờ trên bước đường anh.

Đằng sau thái độ mạnh mẽ, người đọc dễ dàng cảm nhận được một tâm trạng yếu đuối, mệt mỏi thể hiện qua từ chán được lặp lại hai lần, cộng hưởng với từ vật vờ. Tuy nhiên, ngay sau đó cô gái lại giãi bày lời tâm sự, lời khẩn cầu tha thiết:

Đừng nghi ngờ em, đừng giận, đừng buồn

Câu thơ được ngắt làm ba nhịp với ba cung bậc khác nhau. Sự xuất hiện của ba trạng thái nghi ngờ, giận, buồn đâu phải là ngẫu nhiên, nó là một quá trình từ nguyên nhân (nghi ngờ) đến kết quả (giận, buồn). Căn nguyên của nỗi niềm ấy là từ sự dối lừa thánh thiện của cô gái và để giải toả nỗi lòng của chàng trai, cô đã khẳng định:

Em là của anh, là người yêu anh đó

Cả hai vế của câu thơ đều khẳng định: em là của anh. Câu thơ giản dị như lời nói thường nhưng lại chứa đựng một sức nặng phi thường, sức nặng ở lời khẳng định đinh ninh, một sự xác tín tuyệt đối:

Không phải cô bé lọ lem, chẳng là công chúa

Em cũng không phải là tu sĩ nữa rồi.

Em giản đơn mặc áo bạc màu

Em trong đời thường, đi giày vẹt gót...

Nhưng vẫn như xưa, vòng tay riết chặt

Vẫn nỗi kinh hoàng trong đôi mắt mở to.

Em là một con người bình thường, dung dị như cuộc đời thực. Em không phải là cô bé lọ lem hay nàng công chúa trong câu truyện cổ tích; cũng không phải là một tu sĩ thoát tục, xa rời mọi hỉ nộ ái ố của cuộc đời. Em giản đơn là chính em với những khó nhọc, nhếch nhác đời thường, mặc áo bạc màu, đi giày vẹt gót. Em không phải là một mẫu hình lý tưởng và khát khao mong đợi một tình yêu không phải là ảo ảnh, một tình yêu hết mình, mãnh liệt với vòng tay riết chặt. Nhưng em vẫn là em, vẫn là một trái tim yêu yếu đuối với nỗi kinh hoàng trong đôi mắt mở to. Những vần thơ cuối cùng vẫn là những lời tha thiết chân thành, một sự mong mỏi, cầu khẩn:

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Đừng khóc vì sự dối lừa thánh thiện

Trong hành trang nghèo, chỉ giàu kỷ niệm

Tận đáy túi của mình, anh hãy giữ thư em

 
Xuyên suốt cả bài thơ, người đọc gặp cô gái với một tình yêu da diết, một thái độ chân thành của một tâm hồn thiếu nữ nhạy cảm, ưu phiền. Sức lắng đọng của bài thơ không phải là sự êm dịu của một tình yêu đẹp, lãng mạn mà chính ở sự chua xót, dở dang của nó. Bởi chính trong sự không trọn vẹn, ta mới cảm nhận rõ hơn, sâu sắc hơn cái nồng nàn, chất nữ tính đằm thắm của một trái tim yêu.
 
Đừng vò nát thư em được Anna Akhmatova sáng tác năm 1912. Lúc này, bà đã lập gia đình với nhà thơ, nhà phê bình tài năng Nikolai Gumilyov được hai năm. Có nhiều ý kiến cho rằng Đừng vò nát thư em được Anna Akhmatova viết cho chồng mình, sau những khoảng thời gian hai người không hiểu nhau và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Tuy nhiên cũng có ý kiến phủ nhận và cho đây là những vần thơ được bà viết cho người bạn trai trước đây của mình. Thật khó để thừa nhận hay bác bỏ ý kiến nào. Ta chỉ nên xét yếu tố không hạnh phúc và may mắn trong tình duyên của bà đã ảnh hưởng đến bài thơ. Đó là dư vị xe xót về một tình yêu dở dang đã xa.
 

Anna Akhmatova là một nhà thơ nhưng trước hết bà là một phụ nữ, một phụ nữ cá tính, sống hết mình với tình yêu và khao khát một tình yêu chân thành tha thiết. Chính điều đó đã làm nên chất trữ tình thấm đẫm, lối tư duy đầy nữ tính trong thơ bà. Và đây chính là cội nguồn làm nên sức sống lâu bền của thơ Anna Akhmatova nói chung, của Đừng vò nát thư em nói riêng. 

 

Sao Thụy

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 01 Nov 2011 lúc 7:48pm

Cây ngải đắng

 

Olga Berggholz là một trong số những nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của văn học Nga thế kỉ XX. Bên cạnh những vần thơ công dân, những trang thơ tình của bà có được sức sống lâu bền hơn cả. Thơ bà là tiếng nói của một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm với trái tim nồng nàn yêu thương nhưng cũng luôn khắc khoải, lo âu trăn trở.

(Olga Berggholz)

 

“Cây ngải đắng” là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất đặc điểm đó của thơ bà. Bài thơ là tiếng lòng thổn thức của một người con gái trước cuộc tình lỡ dở:


Rồi tôi vẫn nghiến răng bướng bỉnh

Ngẩng cao đầu khép chặt lòng đau

Hoa ơi hoa, hoa nở vì đâu

Hoa ngải đắng của tình tôi yêu dấu?

 

Hai ta cùng giấu giếm lẫn nhau

Cố nuốt ngược vào tim lời từ giã

Cầm chiếc khăn hoa của tôi, vội vã

Anh xé mẩu khăn, nào biết có ý gì!

 

Làm gì nữa anh ơi, chút tình si

Mẩu khăn ấy tả tơi anh còn giữ?

Làm gì nữa tôi ơi lòng đã lỡ

Đường trần đi tìm hằn dấu những bước chân

 

Chẳng làm gì nữa đâu lời âu yếm vô ngần

Của người dưng hay người tôi thương mến

Muôn nẻo quanh tôi loài cỏ hoa quyến luyến

Ngải đắng ơi, hoa ngải đắng tình tôi!

(Cây ngải đắng – Olga Berggholz, 1928 - Thuỵ Anh dịch)


Bài thơ này được Olga Berggholz sáng tác năm 1928 – khoảng thời gian bà đang chung sống với Borís Korinilov. Đó là mối tình đầu của Olga Berggholz, cũng là mối tình để lại trong bà nhiều day dứt. Họ đã yêu nhau ngay tư cái nhìn đầu tiên, nhanh chóng trở thành vợ chồng và cũng nhanh chóng chia tay nhau. Giai đoạn bà sáng tác bài thơ cũng là khoảng thời gian hai người bắt đầu rạn vỡ. Vì vậy, ta có thể nhận ra trong bài thơ những nỗi niềm chua xót, những cảm nhận cay đắng của một trái tim yêu bị lỡ dở:


“Rồi tôi vẫn nghiến răng bướng bỉnh

Ngẩng cao đầu khép chặt lòng đau

Hoa ơi hoa, hoa nở vì đâu

Hoa ngải đắng của tình tôi yêu dấu?” …


Câu thơ đầu tiên không phải là một lời yêu thương nhẹ nhàng, nồng thắm, hay lời giận hờn trách cứ như thường thấy trong các bài thơ tình khác mà là một một thái độ dứt khoát, một sự can trường, mạnhmẽ: “Rồi tôi vẫn nghiến răng bướng bỉnh / Ngẩng cao đầu khép chặt lòng đau”. Trước những rạn vỡ của mối tình, người con gái không kêu than, không uỷ mị, khóc lóc mà vẫn bướng bỉnh “khép chặt lòng đau”. Cái bướng bỉnh ấy chính là tính cách của Olga Berggholz. Bà được thừa hưởng từ người cha mái tóc vàng và chiếc mũi hếch nghịch ngợm, đôi mắt xanh biếc trong vắt và bướng bỉnh. Chính cái bướng bỉnh này đã giúp bà có đủ vững vàng để vượt qua những sóng gió trong cuộc đời đầy bão táp, truân chuyên của mình. Trong tình yêu, bà yêu nồng nhiệt bằng cả trái tim, nhưng lại luôn gặp trắc trở. Trong tâm thức văn hóa nhân loại, ngải đắng biểu trưng cho sự khổ đau, cay đắng, và đặc biệt lả sự khổ đau do thiếu vắng gây nên . Loài thảo mộc ấy có mùi hương ngai ngái, gợi niềm bất trắc nhưng lại có sức sống bên bỉ và kiên cường. Lấy đó làm biểu tượng cho sự dằn vặt trong tình yêu của mình, Olga Berggholz đã thể hiện được một trái tim nồng nàn yêu thương và cũng hết sức can trường:


“Hoa ơi hoa, hoa nở vì đâu

Hoa ngải đắng của tình tôi yêu dấu?”…


Câu hỏi vang lên như một sự dằn vặt, một sự chiêm nghiệm xót xa về tình yêu của người con gái. Hỏi hoa nhưng chính là lời chia sẻ với hoa về số phận mối tình của mình. Hoa vô tình hay hữu ý mà hương hoa sao giống tình yêu đắng cay. Olga Berggholz là một người nhạy cảm, gương mặt đôi khi mang một nỗi buồn kì lạ không lí giải nổi. Nỗi buồn ấy được nhà văn Anninski gọi là “nỗi sầu không lời và vô duyên cớ của tâm hồn Nga”. Nỗi buồn ấy được chung đúc nên từ những năm tháng tuổi thơ bên người vú già, từ những đau khổ, sóng gió trong cuộc đời đầy truân chuyên của bà. Nó thấm nhuần trong thơ Olga, mang đến một âm điệu riêng cho thơ bà. Âm điệu ấy được thể hiện rõ nét trong “Cây ngải đắng”.


Sang đến khổ thơ thứ hai, người con gái quay sang đối thoại với người yêu:


Hai ta cùng giấu giếm lẫn nhau

Cố nuốt ngược vào tim lời từ giã

Cầm chiếc khăn hoa của tôi, vội vã

Anh xé mẩu khăn, nào biết có ý gì!


Tình yêu chỉ còn lại là những đắng cay, vậy mà cả hai vẫn cố tìm cách níu giữ, “cố nuốt ngược vào tim lời từ giã” bởi họ chia tay nhau không phải vì tình yêu đã chết. Họ chia tay nhau trong day dứt, khổ đau. Olga Berggholzvà Borís Korinilovyêu nhau nhưng“tính cách khắc nhau”, thậm chí thơ của họ cũng mang những đặc điểm đối chọi nhau, nóinhư Lev Anninski, nhịp thơ nặng nề, trơn chuội của Kornilov ít có thể hoà hợp với cung đàn dâng trào thẳng băng của Berggoltz. Và đôi tình nhân mê đắm này chia tay nhau vì thế. Họ xa nhau, nhưng mối liên hệ sau sắc giữa hai người vẫn còn, không lời, không hình ảnh, nhưng thiêng liêng đến mức khó hiểu. Mãi sau này, Olga Berggholz vẫn không nguôi nhớ và đây đó trong các bài thơ, người ta vẫn thấy mơ hồ Olga nhắc đến mói tình đầu của mình. Thậm chí bà có hẳn một bài thơ đề gửi Borís Korinilovmang tên “Bài thơ cuộc đời”. Những trắc trở của mối tình đầu đã được Olga gửi gắm trọn vẹn vào bài thơ này. Và vì những nỗi trắc trở ấy nên bài thơ đầy những nỗi băn khoăn của cô gái trước những hành động của người yêu:


Cầm chiếc khăn hoa của tôi, vội vã

Anh xé mẩu khăn, nào biết có ý gi!


Những băn khoăn ấy cô gái đã có câu trả lời: Vì chàng trai muốn níu giữ chút tình. Chiếc khăn là vật chứng, là tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, giờ chia xa trở thành kỉ vật để nhớ về mối tình đã qua. Chiếc khăn xé lẻ ra sẽ không còn là chiếc khăn, cũng như tình yêu bị chia cắt, sẽ không còn vẹn nguyên. Vì vậy mà ở khổ thơ thứ ba là những lời hết sức thống thiết cô gái muốn nhắn gửi tới người yêu:


Làm gì nữa anh ơi, chút tình si

Mẩu khăn ấy tả tơi anh còn giữ?

Làm gì nữa tôi ơi lòng đã lỡ

Đường trần đi tìm hằn dấu những bước chân.


Níu giữ cũng chẳng để làm gì! Cô gái hiểu rất rõ điều đó.Dù đau đớn nhưng phải chấp nhận thực tế. Mẩu khăn “tả tơi” ấy hay chính là tình yêu đã tan vỡ. Nói với người yêu, cũng là tự nhủ với lòng mình:

Làm gì nữa tôi ơi lòng đã lỡ

Đường trần đi tìm hằn dấu những bước chân.


Bao giờ cũng vậy, thuyết phục người khác đã khó, tự thuyết phục bản thân mình còn khó khăn gấp bội. Lời thơ khắc khoải, tuyệt vọng và đầy day dứt, tiếc nuối. Nỗi niềm ấy ta ta có thể bắt gặp rất nhiều trong thơ Olga Berggholz . Sau này, trong bài thơ “cánh én bên bờ dốc đứng” bà cũng thể hiện một sự tiếc nuối như thế:


Cũng hương bạc hà khắp nơi

Cũng tiếng én kêu não ruột

Làm sao lấy lại anh ơi

Những gì thân thương đã mất?

( “Cánh én bên bờ dốc đứng”,1940 )


Khổ thơ thứ tư vẫn là sự dâng trào của mạch cảm xúc ấy:

Chẳng làm gì nữa đâu lời âu yếm vô ngần

Của người dưng hay người tôi thương mến

Muôn nẻo quanh tôi loài cỏ hoa quyến luyến

Ngải đắng ơi, hoa ngải đắng tình tôi!


Giờ đây, mọi lời âu yếm, thương yêu đều trở nên vô nghĩa, của người “thương mến” cũng đâu khác của “người dưng”. Còn lại chỉ là những dư vị cay đắng của mối tình lỡ dở. Dư vị ấy hiện hữu rõ qua hương hoa của loài ngải đắng. Loài thảo mộc ấy giăng đầy “muôn nẻo”, ngập tràn mọi nơi chốn, nhắc nhớ về mối tình đã tan vỡ. Ngải đắng “quyến luyến” quanh cô gái hay chính là nỗi xót xa về tình yêu trong cô tìm được sự đồng điệu với hương hoa. Bởi vậy mà câu thơ kết là một tiếng gọi tha thiết, một tiếng kêu não lòng, đồng thời cũng là một sự xác nhận – một sự xác nhận chứa chất đầy dư vị chua xót:


Ngải đắng ơi, hoa ngải đắng tình tôi!


Ngay từ nhỏ, Olga Berggholz đã sớm gần gũi thiên nhiên. Tâm hồn nhạy cảm của bà nhanh chóng tìm được sự hoà điệu với cỏ cây, hoa lá. Vì vậy có thể thấy rõ sự xuất hiện nhiều của các loài thảo mộc trong thơ Olga. Đó là hình ảnh của loài “hoa chuông” dịu dàng mỏng manh trong những vần thơ đầu tiên; là một “mùa lá rụng”; là “hàng giậu”, “cây phong” trong “Đường ra mặt trận”, là “hương bạc hà” giăng mắc khắp nơi trong “cánh én bên bờ dốc đứng”….Và độc đáo nhất chính là hình ảnh cây ngải đắng. Loài cây này đâu phải là đối tượng thẩm mĩ quen thuộc của thi ca, đặc biệt là của thơ tình. Vậy mà Olga đã tìm thấy ở loài cây ấy một sự đồng điệu kì lạ vớitình yêu của mình, để rồi bà đưa nó vào thơ không chỉ một lần:


“Hẳn anh chưa biết mùi ngải đắng

Tôi mải mê hít căng mùi hương sâu lắng

Ngải đắng đây, ngải đắng tình đời

Nỗi đau của loài người giản đơn vô hạn

Đã trở thành niềm cay cực riêng tôi

Từ những cửa đập bê tông vẫn thoảng đưa về mùi hoa ngải

Mùi hương yêu bất tử đưa đến tân nhà tôi”

( “Những lá thư viết trên đường” )

 

Loại cây ấy có một sự gắn kết kì lạ đối với Olga Berggholz. Bà được gọi là “cây ngải đắng” của thơ ca Nga. “Cây ngải đắng” ấy, dẫu trải qua bao nỗi bất hạnh vẫn sống, vẫn nở hoa, toả mùi hương cay nồng với đời.


“Cây ngải đắng” cũng như bao bài thơ khác của Olga Berggholz, hấp dẫn người đọc không phải ở sự mới lạ, độc đáo mà chính ở những tình cảm nồng nàn, sâu lắng được diễn đạt hết sức mộc mạc, giản dị. Thơ bà được nhiều độc giả Việt Nam yêu thích và học thuộc. Dường như không có sự cách ngăn của hai đất nước, hai nền văn hoá. Điều đó cũng dễ lí giải. Dù ở đâu, thời nào thì con người cũng có những cung bậc tình cảm chung nhất định. Người nghệ sĩ tinh tế là người khơi gợi lên được cung bậc tình cảm đó. Khi ấy, nhà thơ sẽ nói được tiếng nói chung của mọi tâm hồn, và thơ sẽ tự nó phá vỡ mọi cách ngăn địa lí, không gian, thời gian.


“Cây ngải đắng” cũng như Olga Berggholz sẽ tìm được sức sống lâu bền trong tâm hồn độc giả thế giới chính bởi thơ bà đã ngân lên điệu lòng chung của mọi tâm hồn đang yêu.

 

Sao Thuỵ

IP IP Logged
Trang  of 32 Tiếp >>
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.143 giây.