Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Kiến thức Văn học
 Diễn đàn :Phổ biến kiến thức :Kiến thức Văn học
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Tác giả Nội dung
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 02 Nov 2011 lúc 10:09pm

Lời thề lá sen

Nguyễn Đăng Luận

                 Lá sen chưa kịp đi tu
                 Mà hoa cúc đã nhuộm thu óng vàng
                 Yêu em mua cốm làng Vòng
                 Nâng niu anh gói trong lòng lá sen
                 Lời thề hôm ấy của em
                 Thơm như cốm ướp hương sen giữa mùa
                 Không ngờ anh thật không ngờ
                 Lá sen rách.Cốm bây giờ thơm đâu ?

Lời bình của Ngô Quân Miện:

     

Lời thề lá sen,như một bài dân ca xinh xắn , nói về một tình yêu thất vọng.Nó chiếm được tình cảm của người đọc vì cái cốt hồn nhiên chân thật của hương đồng gió nội mà vẫn có cái duyên dáng thanh lịch :

                       " Lá sen chưa kịp đi tu "

Hai chữ "Đi tu" nghe thì quê kiểng nhưng ý nhị lắm.Ngày xưa những cô gái thất tình thường hay thề thốt "cắt tóc đi tu" nếu không lấy được người mình phải lòng đắm say thì thà xa lánh trần duyên còn hơn gánh cả đời trần duyên oan trái . Cũng ngày xưa con trẻ nhà quê nghịch ngợm thường bắt bướm vặt bỏ hết chân không cho đậu vào hoa nữa như thế gọi là bắt con bướm đó "đi tu ".Nguyễn Đăng Luận dùng trong câu mở đầu bài thơ có sức gợi .

Anh đã khéo tìm được tứ thơ hay để góp vào những hình ảnh và từ ngữ dân gian :

        " Lời thề hôm ấy của em

          Thơm như cốm ướp hương sen giữa mùa "

Tứ thơ này là một tứ thơ độc đáo đáng yêu. Cũng phải hiểu rằng : Sự bắt đượctứ thơ mới trong thơ không phải là ngẫu nhiên, trời cho mà là sự tích đọng tiềm tàng khi gặp thuận thì ngẫu hứng nảy bật lên Nếu không có được cái tứ "chủ bài" ấy thì không thể có được cái tình huống bất ngờ lý thú đầy kịch tính sau :

           Không ngờ anh thật không ngờ

           Lá sen rách . Cốm bây giờ thơm đâu ?

 Lời thề yêu thương được gói trong chiếc lá sen tơ thì đẹp quá thơm quá thi vị quá .Ai ngờ đâu lại gặp phải cái lá sen rách. Sự hóm hỉnh ở đây cũng chính là một nét truyền thống của thơ ca dân gian Có duyên cũng chính là ở chỗ đó.



Sửa bởi Hoangtube - 02 Nov 2011 lúc 10:14pm
IP IP Logged
ThoNau
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 28 Oct 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 14
Trích dẫn ThoNau Replybullet Ngày gửi: 02 Nov 2011 lúc 10:30pm
Sông Thao - Nguyễn Duy
 

                            

Sông Thao thêm một lần tôi tắm 
thêm một lần đến để rồi đi 
gió cứ thổi trống không ngoài bãi vắng 
em nhìn tôi để không nói năng gì
 
Tôi gửi lại đây cái buồn vô cớ 
để mang về cái nhớ bâng quơ 
xin chớ hỏi tại làm sao vậy 
tôi vốn không rành mạch bao giờ
 
Em đưa tiễn bước chân gìn giữ lắm 
hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê 
yêu mến ạ xin đừng buồn em nhé
dòng nước trôi đi, giọt nước lại rơi về…

                                       

 

-----------------------------------------------------

Thoáng đọc qua tiêu đề, cứ ngỡ bài thơ sẽ vẽ lên bức tranh phong cảnh thiên nhiên tuyệt mĩ: dòng nước trong xanh, uốn lượn, hàng cây soi tóc đôi bờ, những con thuyền nhấp nhô trên sóng… Song kì thực lại không như vậy. Sông Thao của Nguyễn Duy mang một dáng hình mới trong cảm xúc hoài niệm, nhớ thương:

 

Sông Thao thêm một lần tôi tắm 

thêm một lần đến để rồi đi

 

Điệp khúc "thêm một lần" được nhắc lại hai lần. Dòng sông tôi tắm, tôi đã từng qua cũng như bao nhiêu dòng sông khác trên đất nước rộng lớn này, tôi đến rồi đi… chặng đường có bao giờ kết thúc. Thế mà, lòng lại bồi hồi xốn xang mỗi lần gặp mặt. Phải chăng vì nơi đó có em, có mối tình thuỷ chung da diết, có những kỉ niệm thiêng liêng đã gắn chặt hồn tôi với mảnh đất này.

 

Khổ thơ đầu mở ra một không gian rất rộng, khoáng đạt, một không gian lồng lộng gió, tràn ngập cỏ. Không gian đó làm điểm tựa cho tâm hồn, cho những cảm xúc dạt dào thăng hoa.

 

Gió cứ thổi trống không ngoài bãi vắng 

Em nhìn tôi để không nói năng gì

 

Một cái nhìn đăm đăm thay bao lời muốn nói. Bài thơ có nhiều khoảng trống: trống không, không nói, không rành mạch… những nốt lặng trong một bản nhạc buồn; những im ắng, ngừng nghỉ mà gợi bao da diết, băng khuâng.

 

Tôi gửi lại đây cái buồn vô cớ 

để mang về cái nhớ bâng quơ 

xin chớ hỏi tại làm sao vậy 

tôi vốn không rành mạch bao giờ

 

Cái buồn vô cớ, nỗi nhớ bâng quơ… tất cả cứ mơ mơ thực thực, cảm xúc đan xen, hoà trộn, chơi vơi giữa những giới hạn, những miền kí ức vô danh. Bài thơ bao trùm một màu không khí bàng bạc, bàng bạc từ bức tranh thiên nhiên chỉ gợi mà ít tả, bàng bạc từ trong nỗi nhớ không thể gọi tên.

 

Em đưa tiễn bước chân gìn giữ lắm 

hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê

 

Một bức tranh chia ly buồn với điểm nhấn là em và tôi trên nền xanh mướt của cỏ non sau cơn mưa. Hạt mưa "dùng dằng" hay chính lòng người cũng dùng dằng, nửa ở nửa đi, như không muốn có cuộc chia ly này. Bước chân "gìn giữ" là bước chân ngập ngừng, e thẹn "bước đi một bước giây giây lại dừng”…

 

yêu mến ạ xin đừng buồn em nhé 

dòng nước trôi đi, giọt nước lại rơi về…

Tác giả dùng hai chữ "giọt nước" chứ không phải "hạt nước". Giọt nước gợi cảm giác tinh khiết, nguyên sơ. Cũng như dòng sông miệt mài đổ ra biển để những cơn mưa trong lành trở về đất liền, con người dù có bôn ba khắp chân trời góc bể vẫn mong một ngày được đắm mình trong dòng sông nguồn cội. Những triết lý trong thơ Nguyễn Duy bao giờ cũng giản dị, sâu xa.  Sông Thao đã góp thêm một hương sắc mới cho vườn thơ về quê hương đất nước.

Thanh Phương

                         


Sửa bởi ThoNau - 02 Nov 2011 lúc 10:32pm
IP IP Logged
ThoNau
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 28 Oct 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 14
Trích dẫn ThoNau Replybullet Ngày gửi: 02 Nov 2011 lúc 10:37pm

Bài thơ Không nói - giai điệu buồn của chia ly

Không nói là một trong những sáng tác đầu tay của nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Và công bằng mà ngẫm, Không nói không tạo được tiếng vang như Sáng mát trong như sáng năm xưa hay những thi phẩm rất thành công của ông sau này, song bài thơ có vị trí quan trọng, góp phần làm nên diện mạo Nguyễn Đình Thi trên văn đàn bấy giờ vốn đã đông đủ anh tài.

 
Dừng chân trong mưa bay 
Ướt đầm mái tóc 
Em, em nhìn đi đâu 
Môi em đôi mắt 
Còn ôm đáy 
Nhìn em nữa 
Phút giây 
Chiều mờ gió hút 
Em  
         Bóng nhỏ
                             Đường lầy  
 

Nếu quan niệm thơ hay trước hết phải là thơ dễ đọc, dễ hiểu, chúng ta sẽ rất lúng túng khi tiếp nhận, thưởng thức, đánh giá Nguyễn Đình Thi. Thơ ông không bề bộn chất liệu hiện thực, không sa vào kể lể dài dòng mà chỉ chọn lấy những hình ảnh tiêu biểu làm điểm tựa cho những cảm xúc mãnh liệt. Không nói có thể nói là một minh chứng tiêu biểu, thuyết phục cho phong cách thơ Nguyễn Đình Thi: buồn mà không bi luỵ, cô đơn mà vẫn kiêu hãnh, dịu dàng mềm mại mà lắng sâu ân tình.

 

Bài thơ chỉ có 35 chữ, nhỏ nhắn, vừa vặn, đủ để diễn tả một thoáng cảm xúc, một thoáng rung động của tâm hồn thi sỹ vốn rất kiệm lời, đặc biệt là kiệm trong sự mô tả. Viết về cuộc chia tay giữa hai người trên đường hành quân mà không thấy một từ nào nói về chiến tranh hay gợi lên hình ảnh chiến trường khốc liệt. Chỉ có im lặng, buồn, và cô đơn.

 

Câu thơ Dừng chân trong mưa bay được cấu tạo bằng năm thanh bằng gợi lên cảm giác chơi vơi, mênh mang như không gian đất trời giăng kín mưa. Tôi chợt nhớ đến Quang Dũng trong một câu thơ rất mực tài hoa: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Có cái gì đồng điệu giữa Nguyễn Đình Thi và Quang Dũng ở chất nhạc, chất tình. Khúc nhạc dạo đầu của bản nhạc buồn trong mưa bay đã ngay lập tức cuốn hút người đọc.  Gương mặt nhân vật trữ tình hiện lên qua một nét phác hoạ sơ khoáng nhưng đầy ấn tượng: “Ướt đầm mái tóc”. Bao nhiêu gian khổ đọng lại trong hai chữ “ướt đầm”…

 

Trong cố gắng đưa ngôn ngữ thơ trở về với ngôn ngữ đời thường, Nguyễn Đình Thi đã đưa vào thơ mình những từ ngữ thuần Việt giản dị, mộc mạc tự nhiên như lời nói. Ai cũng có thể đọc, cũng có thể cảm nhận theo cách của riêng mình. Song không vì thế mà bài thơ thành ra dễ dãi, hời hợt. Chỗ tìm kiếm của Nguyễn Đình Thi lại đọng ở những khoảng trắng giữa các dòng. Những đối thoại cũng là một phát hiện mới mẻ, tạo nên sắc điệu mới cho thơ: Em, em nhìn đi đâu? Từ “em” vang lên hai lần, thiết tha, sâu lắng như một nốt nhấn. Câu hỏi bỏ lửng, nhân vật trữ tình tự hỏi mình mà không hướng đến người đối thoại.

 

Người đọc rất lúng túng khi tiếp nhận những vần thơ như thế này:       

                                                                  Môi em đôi mắt  

                              Còn ôm đáy

                              Nhìn em nữa 

Nỗi buồn gợi lên từ không gian “mưa bay”, từ thời gian “chiều mờ gió hút” từ cuộc gặp gỡ quá ngắn ngủi. Không một lời từ biệt, im lặng trở thành ngôn ngữ duy nhất có ý nghĩa. “Chiều mờ gió hút”, cái lạnh lẽo của buổi chiều và mưa gió càng làm cho không khí cuộc chia tay thêm xót xa, ngậm ngùi. Dường như có điều gì phấp phỏng chờ đợi từ cả hai phía mà không một ai dám lên tiếng. Từ “hút” cuối câu thơ gợi lên một không gian xa xăm, vô định như tương lai mờ mịt phía trước, như cuộc chia tay có thể là từ biệt, không hẹn ngày trở về.

 

Hình ảnh người em lùi lại phía xa, chỉ còn là cái bóng nhỏ mà người ra đi mang theo bên mình. Cuộc hành quân tiếp tục. Con đường lầy hiện ra như biểu tượng của chặng đường sắp tới đầy những gian truân, cực nhọc. Nhịp điệu câu thơ chùng xuống. Kết thúc bài thơ cũng lại là một nốt nhạc buồn, mênh mang, sâu thẳm. Viết về cuộc chia tay giữa hai người trên đường hành quân nhưng ở một bài thơ nổi tiếng khác, Nguyễn Đình Thi lại viết trong nguồn cảm hứng chiến thắng, trong niềm tin yêu mãnh liệt vào cuộc đời, vào thắng lợi tất yếu sẽ đến. Nó đối lập hoàn toàn với âm hưởng trầm buồn của Không nói:

                  Chào em, em gái tiền phương 

                   Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn

Không nói có những câu rất hay, đi giữa thực và ảo, giữa không gian và thời gian, người đọc khó nắm bắt rõ ràng mà chỉ mơ hồ cảm nhận theo trí tưởng tượng của mình. Khác với không khí thơ kháng chiến lúc bấy giờ thường lấy chất liệu là hiện thực đời sống với những cảnh đầu rơi máu chảy, những thôn xóm tiêu điều, bốc cháy, Nguyễn Đình Thi đi tìm kiếm một sự thực nhói đau khác, sự thực về tâm hồn con người. Ông đã chạm đến nỗi đau riêng, đến số phận mỗi cá nhân trong số phận cộng đồng. Vì thế mà cùng viết về đề tài chiến tranh, nhưng bài thơ lại mang một âm điệu khác, có sức nặng không kém những bài thơ cùng thời.

Phương Thanh

 

IP IP Logged
ThoNau
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 28 Oct 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 14
Trích dẫn ThoNau Replybullet Ngày gửi: 02 Nov 2011 lúc 10:41pm

Hoa cỏ may - một bài thơ hai câu mà đa nghĩa, đa tình

 

Bài thơ phảng phất hương vị ca dao ngọt ngào, đắm say lòng người. Thoạt nghe, ta không thấy mới lạ, ấn tượng. Vẫn là những anh, em, một buổi chiều vu vơ… quen lắm rồi. Chỉ có điều, đọc thơ Nguyễn Bính, ngay cả những bài “cũ” thế này, người đọc vẫn tìm thấy cảm giác mới mẻ, thích thú. 

 

Cái đẹp của “Hoa cỏ may” là sự trong sáng, giản dị từ ngôn từ đến thi tứ, từ cảm xúc đến giọng điệu, hình ảnh. Nguyễn Bính sử dụng thơ lục bát dân tộc với tiết điệu nhịp nhàng uyển chuyển, rất phù hợp để diễn tả những cảm xúc trữ tình dịu dàng, những rung động vẩn vơ, mong manh:  

 

Hồn anh như hoa cỏ may

Một chiều cả gió bám đầy áo em

 

Cách so sánh cũng thật lý thú, giữa một bên là hồn anh – trừu tượng, vô hình – và bên kia là hoa cỏ may đời thường, gần gụi. Phải chăng, chính cái vẻ đẹp dung dị, mộc mạc, cái đặc tính vô hại, dễ bám, khó rời mà hoa cỏ may rất có duyên với thơ ca. Không thể kể hết những thi sĩ đã từng tốn bút mực cho loài hoa này.

 

Người Việt mình hay nói: sóng cả, nước cả, sông cả.. rồi cả tin, cả nghĩ, cả locả tiếng nữa. Một chữ cả mà chia đi muôn nơi, hoà vào khắp chốn. Mà lạ thật, ở đâu cũng thấy có hồn. Hai chữ cả gió là của riêng Nguyễn Bính. Ông đã hút nhụy trong cái bầu hương lời ăn tiếng nói dân tộc và trả lại cho đời hai chữ thuần Việt đến tận hồn, tận cốt. Cả gió vẫn là gió, tuy gió có hơi to đấy nhưng không phải là gió lay, gió giật một cách vô hồn, ngẫu nhiên mà ngầm ý định hướng, có chủ định hẳn hoi. Gió trời qua thơ Nguyễn Bính đã trở thành gió có tình và gió của riêng ông. Câu thơ có thể hiểu theo nhiều cách: Hồn anh là hoa cỏ may, chỉ muốn suốt đời làm kiếp cỏ nhưng một chiều vì gió to quá mà vô tình bám vào áo em; hoặc anh cố tình bám vào áo em đấy nhưng mượn gió làm lá chắn: tại trời cả gió chứ có tại anh đâu! Nhà thơ quả là khéo khi thanh minh cho cái lẳng lơ thiên phú của mình.

 

Bài thơ chuếnh choáng giữa mộng và thực. Và hình như mộng nhiều hơn thực. Thơ Nguyễn Bính nhiều mộng: Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng… Cái mộng ấy như màn sương, khi bảng lảng, lúc đậm đặc trên từng trang thơ. Nhiều khi là nỗi nhớ bâng khuâng, da diết: Trời còn có bữa sao quên mọc/Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em.

 

Hai câu thơ - một bức họa đồng quê duyên dáng, mềm mại: Không gian trời mây bát ngát, triền đê tràn ngập gió, hương cỏ may thoang thoảng, vương vất, cô gái quê dịu dàng, đằm thắm… Đọc thơ Nguyễn Bính, ta có xúc cảm như đứng trước bức tranh phong cảnh ấn tượng mà phóng khoáng. "Hoa cỏ may" đã góp vào vườn thơ tình yêu trăm hồng ngàn tía một nét hương thầm quyến rũ.

 

Trần Phương

 



Sửa bởi ThoNau - 02 Nov 2011 lúc 10:43pm
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 02 Nov 2011 lúc 10:50pm
Biển (Xuân Diệu)
 

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê…

Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng…

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt…

Cũng có khi ào ạt

Như nghiến nát bờ em

Là lúc triều yêu mến

Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết,

Để những khi bọt tung trắng xóa

Và gió về bay tỏa nơi nơi

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa,

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

4.4.1962
XUÂN DIỆU

LỜI BÌNH:
Biển là một bài thơ tình đặc sắc của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám, được sáng tác trên bãi biển Sầm Sơn. Nhưng như chính nhà thơ tâm sự, nguồn thi hứng của ông được gợi lên từ biển Quy Nhơn cát vàng nước biếc dạt dào, tiếng thầm thì của phi lao như lời tâm sự của những tình nhân. Con người từng được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình” thời Thơ Mới đã nói lên cảm xúc yêu đương nồng nàn từ vọng tưởng về con sóng quê hương thấm đẫm hồn thơ từ thuở hoa niên. Một tình yêu mới mẻ, không còn cảm giác mong manh vì lo sợ “tình yêu đến tình yêu đi ai biết” mà gắn kết vững bền trong quan hệ sóng - bờ. Vượt ra khỏi phạm vi của tâm tình lứa đôi, bài thơ còn nóng hổi những bồi hồi của đứa con miền Nam những ngày phải xa cách quê hương khi đất nước cắt chia làm hai nửa.

Bắt đầu bài thơ là một lời thú nhận nhưng cũng đồng thời là một khát vọng hóa thân, để được hướng về em bằng tất cả niềm ngưỡng vọng, đắm say:

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Em - bờ cát trắng, như một biểu tượng của cái đẹp muôn đời, được cảm nhận bằng tất cả sự say mê của một trái tim si tình. Cái nhìn của nhà thơ trước sau vẫn thế, luôn lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn mực cho những vẻ đẹp tự nhiên. Sắc nắng pha lê làm nên sắc cát vàng óng ả. Một dáng nghiêng mềm mại “thoai thoải hàng thông” tạo thành vẻ đẹp mang đậm nữ tính. Vẻ đẹp ấy là cái cớ để nhà thơ bộc lộ tình yêu tha thiết với em khi tự nhận: “Anh xin làm sóng biếc”. Cái tôi hóa thân thành con sóng mới tự do và mãnh liệt làm sao!

Có lẽ cho đến nay trong thi ca Việt Nam, kể cả những nhà thơ cách tân mới nhất, chưa ai dám bạo dạn tả cái hôn đắm đuối đến thế: hôn mãi, hôn thật khẽ thật êm, hôn êm đềm, mãi mãi, hôn rồi hôn lại, tan cả đất trời… Ngỡ như cả vũ trụ nghẹt thở bởi những cái hôn nồng cháy đến thế! Thấp thoáng trong câu thơ những ám ảnh dục tính rất đời thường mà không hề vẩn đục bởi những dục vọng thấp hèn.

Và con sóng tình không chỉ dừng lại đó mà rất bạo liệt ào ạt, nghiến nát bờ em. Ta lại gặp một Xuân Diệu - kẻ uống tình yêu dập cả môi thuở nào! Con người đã tìm thấy trong tình yêu sự sống vĩnh cửu, vượt ra khỏi giới hạn đời người trăm năm để quyện chặt với đời bằng nụ hôn ngàn năm không thỏa. Bằng tình yêu ấy, thi nhân đã hoà con sóng biếc tâm hồn góp thành bể biếc cuộc đời - màu tình yêu muôn thuở. Ân tình nhà thơ cũng hòa chung quan niệm của một thời người yêu người sống để yêu nhau (Tố Hữu). Có lẽ cũng không cần phải bàn nhiều về tính chất của tình yêu hiển hiện trong những vần yêu nồng nàn ấy.

Đó cũng là tình yêu vọng về mảnh đất Bình Định thân thương, nơi đã nuôi hồn thơ cho Xuân Diệu. Biển Quy Nhơn lung linh trong bao thi ảnh: bể biếc, cát vàng, thoai thoải bãi bờ… Tình yêu lứa đôi quyện hòa cùng tình yêu quê hương. Để những người yêu nhau ra trước biển Quy Nhơn giờ đây lại có thể ngâm ngợi những vần thơ của người nghệ sĩ đa tình thuở ấy:

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết

Trần Hà Nam
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 02 Nov 2011 lúc 10:54pm
Cuộc chia li màu đỏ
 
                                    Nguyễn Mỹ 

Được sáng tác vào năm 1964, sau hơn 40 năm, Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ vẫn được nhiều người yêu thích. Bài thơ có mặt trong hầu hết các tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại.


Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ.
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa


Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rạng đông đang hừng trên nét mặt
Một rạng đông với màu hồng ngọc
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai...


Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp!
Nắng vẫn còn ngời trên những lá si
Và người chồng ấy đã ra đi...
Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói, tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau..."


Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét...
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly...


* Lời bình của Tú Anh



Người đọc cho tôi nghe lần đầu bài thơ này là nhà thơ Tô Hà. Anh đọc thuộc lòng, riết róng và nức nở. Tô Hà đọc thơ bao giờ cũng riết róng, nhưng không phải khi nào cũng nức nở như khi đọc thơ Nguyễn Mỹ. Dường như trong mỗi câu thơ đều thấm đẫm nước mắt nhớ thương người bạn đã vĩnh viễn ra đi. Và khi đọc đến câu thơ cuối cùng, Tô Hà đã khóc thật, khóc nức nở, đến nỗi những câu thơ bỗng nhòe đi, thảng thốt lạ lùng:


Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly!


Nhà thơ Bằng Việt từ trong phòng làm việc của Tạp chí Tác phẩm mới bước ra, ngạc nhiên hỏi:


- Sao Tô Hà... khóc?


- Vì đọc thơ Nguyễn Mỹ! - Tôi trả lời. Nghĩ ngợi một lát, Bằng Việt bảo:


- Mình sẽ giúp Tô Hà in tập thơ cho Nguyễn Mỹ! Phải in cho bằng được!


Suốt mấy chục năm qua, mỗi lần chạm vào Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ, tôi không sao quên được kỷ niệm xưa.


Vậy mà, cuộc kháng chiến chống Mỹ đã đi qua trọn ba mươi năm rồi, tôi vẫn chưa viết được dòng nào về Nguyễn Mỹ và bài thơ định mệnh ấy của anh!


Cũng như tôi, bao thế hệ nhà thơ trước và sau chiến tranh, đều yêu thích Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ. Vì sao vậy? Cùng với bài thơ Con đường ấy, Cuộc chia ly màu đỏ xuất hiện thường xuyên trong hầu hết các tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại, chứng tỏ sức sống và vẻ đẹp trường tồn của nó. Vì sao?


Bài thơ được viết vào năm 1964, năm đầu tiên giặc Mỹ đem máy bay đánh phá miền Bắc. Chiến trường miền Nam đang đánh và thắng lớn, kêu gọi lớp lớp thanh niên lên đường vào mặt trận. Những cuộc chia tay, tiễn đưa người lính ra chiến trường diễn ra từng ngày, từng giờ, làm xao xuyến trái tim thi sĩ. Nguyễn Mỹ đã chọn đúng thời điểm này để viết bài thơ, Cuộc chia ly màu đỏ như là một tất yếu khách quan. Ngay từ cái "tít" bài thơ đã khác người, đã làm cho bạn đọc phải sửng sốt. Sao lại "chia ly"? Hai từ này là hai từ tuyệt đối "cấm kỵ" trong thời buổi đó. Chỉ có thể nói tạm biệt, chia tay, chúc chân cứng đá mềm và hẹn ngày gặp lại... chứ sao lại nói "chia ly"?


Vậy mà Nguyễn Mỹ vẫn gan góc viết là "Chia ly". May sao, đó là cuộc "chia ly màu đỏ". Một cuộc chia ly có màu, màu đỏ, vừa là cái giá đỡ, cái khiên che, vừa là một ẩn dụ đầy linh nghiệm.


Nhân vật trữ tình - nhà thơ - ở đây là nhân vật thứ ba, là người quan sát. Nhà thơ cảm thấy, trong cuộc chia ly này, mình phải là kẻ khách quan, là người quan chiêm mới thỏa đáng, và ngầm tuyên bố rằng: Hỡi các bạn, tôi là kẻ đứng ngoài đấy nhé! Bất chợt trưa nay, Trưa một ngày sắp ngả sang đông/ Thu bỗng nắng vàng lên rực rỡ, tôi vô tình lạc bước vào công viên và chợt bắt gặp một cô áo đỏ tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa. Chỉ vừa thoạt nhìn thôi, nhà thơ đã xúc động rồi, và ngay lập tức, nhà thơ định danh cho cuộc chia ly ấy: Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/ tươi như cánh nhạn lai hồng! Rồi, như một ống kính máy quay, cái nhìn của nhà thơ bỗng "Zoom" vào cận cảnh:


Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy


rồi vào đặc tả:


Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời


Và, vì là nhà thơ nên ông có ngay một lời bình về những giọt nước mắt kia, những giọt nước mắt như những hạt ngọc đang "chảy trên bình minh hé giữa làn môi/ Và rạng đông đang hừng trên nét mặt/ Một rạng đông với màu hồng ngọc".


Ống kính máy quay của nhà thơ vẫn hướng theo họ với một cú "lia" toàn cảnh và thấy:


Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình...


Họ ngồi dưới bóng rợp của cây si để nói với nhau chuyện gì thì nhà thơ không biết. Vì vậy, bằng vào cảm xúc của mình, ông tưởng tượng câu chuyện hai người đang nói với nhau và đinh ninh rằng nhất định là họ đang nói tới ngày mai :


Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp


Ống kính lơ đãng chiếu lên vòm cây và thấy "Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si" nhưng "người chồng ấy đã ra đi..." Khi ống kính quay trở lại, người thiếu phụ chỉ còn lại một mình trong vườn hoa và nhà thơ nghe phảng phất đâu đây trong tiếng gió:


Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói, tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau!"


Tới đây, cuốn phim của nhà thơ đã hết. Nhưng là người "quay phim", nhà thơ phải viết tiếp lời bình cho cuốn phim hoàn chỉnh. Và nhà thơ đã bình những hình ảnh kia thấm thía đến tuyệt vời:


Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như (cái) màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng bên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét...
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly!...


Như vậy, bài thơ là một cuốn phim tài liệu (hay phóng sự?) và những lời bình. Cái vẻ tưng tửng khách quan này làm lòng người rướm máu, nhưng cũng làm chợt thức một ý chí kiên cường! Cả bài thơ là một bức tranh theo trường phái ấn tượng, đầy màu sắc, tràn ngập màu sắc, với một gam màu nóng, rực rỡ đến chói gắt. Bạn yêu thơ, bạn hãy tính xem, có bao nhiêu màu sắc trong bài thơ này? Ở phương diện ấy, Nguyễn Mỹ chính là một họa sĩ, họa sĩ của ngôn từ! Tôi mong muốn biết bao, các họa sĩ của chúng ta, hãy vẽ một bức tranh với chủ đề Cuộc chia ly màu đỏ.


Vậy, cái tài tình của bài thơ chính là trong thơ có họa, trong thơ có phim, trong thơ có truyện, và trong thơ là... thơ!


Và Nguyễn Mỹ - với tư cách chiến sĩ - đã lấy máu của chính mình để bảo hiểm cho những dòng thơ ấy.


Hà Nội, 3-2005

Nguồn: Báo Nhân Dân
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 5:03am
TRƯƠNG CHI

Tôi về đây với Trương Chi
Lòng ta
rót mãi
có khi nào tràn

 

Ném vào đâu một tiếng đàn
Mà sông nước dội sóng ngàn năm ơi

 

Câu ca
bỏ lại 
bên trời
Tình dan díu một bóng người
rồi...
hoang

 

Con đường vô định trống toang
Nỗi niềm
ai
với ai 
loang nắng chiều

 

Trăng còn mộng một lần yêu
Sóng còn vỗ một đời theo khuyết tròn

 

Nước trôi mà đá chẳng mòn
Tình yêu khi mất là còn mãi nhau.
  
(Bình Nguyên)
 
 

 


Câu chuyện cổ ngày xưa bỗng miên man trở về trong nỗi nhớ của tôi khi đọc bài thơ Trương Chi của nhà thơ Bình Nguyên
 
Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay…

Câu ca dao xưa tưởng như khách quan kể chuyện mà thực ra lại nghẹn ngào cho nghịch cảnh của một đời người. Có rất nhiều dị bản của câu chuyện cổ tích này. Tôi ấn tượng với một bản kể có các sự việc chính sau: Anh Trương Chi ấy, hình thức thì thậm xấu, nhưng giọng hát đẹp của anh đã làm cho cô tiểu thư con quan phải say lòng, và khi gặp mặt, nàng đã thất vọng tràn ngập để rồi lãng quên anh. Nhưng còn anh, từ sau khi gặp cô gái, tình yêu trỗi dậy cùng với sự đau khổ vì bị coi thường và lãng quên đã khiến anh héo mòn mà chết. Linh hồn anh đã hóa thân vào cây gỗ trầm, về sau cây gỗ ấy được làm thành chiếc chén mang cho cô gái. Khi nàng nâng chiếc chén trên tay, nhìn vào thấy có hình chàng ngư phủ chèo thuyền và văng vẳng tiếng ca da diết của anh. Tiểu thư đã hiểu tất cả. Giọt nước mắt muộn màng rơi xuống, chiếc chén tan ra, và trên tay nàng là một trái tim nhỏ máu… 

Câu chuyện ấy đã khiến cho bao nhà thơ, nhạc sĩ nhiều thế hệ xúc động và cảm tác. Các nhạc sĩ Văn Cao, Phạm Duy, Phó Đức Phương… có bài hát về Trương Chi vô cùng xúc động. Thơ cũng khá nhiều, mỗi bài có một nét riêng. Nhưng khi đọc Trương Chi của nhà thơ Bình Nguyên, tôi đã nhận thấy một phong vị không dễ lẫn. Đó là sự tiếc nuối được diễn tả trong vần thơ lục bát đáng lẽ là rất mượt mà, nhưng ở đây lại cứ trào lên, rồi lại lặng đi, như tiếng thổn thức, nấc nghẹn của giọng ca năm nào. Có lẽ là bởi cấu trúc đặc biệt này: Toàn bài có 6 cặp lục bát, thì 3 cặp được viết đúng quy luật trên 6 dưới 8, còn 3 cặp là những câu ngắt dòng, tạo cảm giác về một sự vỡ vụn nào đó. Ngay mở đầu bài thơ đã là một cặp như vậy:

Tôi về đây với Trương Chi
Lòng ta
rót mãi
có khi nào tràn

 Tình cảm dâng tràn trong lòng nhà thơ khi về với vùng sông nước, nơi mà theo truyền thuyết thì đó chính là con sông Tiêu Tương gắn bó với mối tình đơn phương của Trương Chi. Tình cảm ấy được diễn tả trong một hình tượng thơ rất đẹp: Lòng ta rót mãi có khi nào tràn.  Cách biểu cảm rất gợi hình, dễ làm người đọc liên tưởng đến những người đàn ông hay gửi nỗi lòng vào li rượu, rót mãi, rót mãi, càng uống càng đắm trong nỗi niềm chứ không say được. Có khi nào tràn là như vậy. Và trong tiềm thức, âm thanh huyền hoặc bỗng vọng về giữa chốn sông nước mênh mông:

Ném vào đâu một tiếng đàn
Mà sông nước dội sóng ngàn năm ơi
 
Đây là 2 câu lục bát viết đúng quy luật, ngay lập tức tạo cảm giác về một không gian bao la với sóng gió từ ngàn năm xưa cũ. Giữa không gian ấy vang lên tiếng đàn chơi vơi đơn lẻ, tiếng đàn giống như một sự vật hữu hình nhỏ bé, có thể cầm nắm được, để có thể ném được. Cái từ ném này có chút gì thật phũ phàng bất nhẫn! Chàng Trương Chi tài hoa, có tiếng đàn giọng ca làm mê đắm lòng người, nhưng tiếng đàn của chàng lại bị ném giữa nhân gian, là sự ngẫu nhiên hay đất trời xui khiến mà nàng Mỵ Nương kia lại nghe mà say đắm? Nhưng người đẹp lại nhanh chóng thất vọng vì gương mặt của chàng. Thế là cung đàn mê hoặc lòng người đã trở thành định mệnh cho cuộc đời chàng trai tài hoa bất hạnh! Giữa cuộc đời đầy sóng gió, ai là người tri âm của chàng, ai là người nâng niu tiếng đàn ấy, để tiếng đàn đừng bị ném vào đâu mơ hồ bất định? Và từ những con sóng cuộn trào, nhà thơ đã lắng nghe được tiếng đàn cô liêu, tiếp tục cảm nhận về cuộc đời chàng trai đầy xót xa :

Câu ca
bỏ lại 
bên trời
Tình dan díu một bóng người
rồi...
hoang
 
Chàng trai ngư phủ - người nghệ sĩ dân gian sống một đời với câu ca tiếng đàn giữa muôn trùng  sông nước,  bây giờ đã khuất nẻo dương gian, và câu ca của anh, mối tình của anh, xin đành bỏ lại bên trời. Sao tự nhiên lại dan díu bóng hình người đẹp, để rồi bây giờ trái tim thành hoang phế? Tình dan díu một bóng người / rồi…/ hoang. Những dấu chấm lửng giữa dòng, ngắt câu, đã làm cho tôi phải lặng cả người đi khi ngẫm về sự lãng phí của một tài năng và một tấm tình tha thiết giữa cuộc đời. 
Và trong mạch cảm xúc xót xa ấy, một không gian khác lại mở ra trước mắt - Không gian của một con đường vô định:
Con đường vô định trống toang
Nỗi niềm
ai
với ai 
loang nắng chiều

Đây không phải là con đường thực, mà là đường đời – một con đường không có điểm dừng, cứ hun hút và lạnh đến rợn người. Đã có một sự mất mát ghê gớm được gửi trong cái từ trống toang ấy! Nỗi niềm của người xưa biết chia sẻ cùng ai? Không thể sẻ chia, nỗi đau đã tràn lên cả không gian trời chiều, làm cho cái nắng cuối ngày cũng loang ra như vết mực không thể xóa mờ trên tấm áo nhân tình! Nỗi niềm ai với ai vừa là tâm trạng của Trương Chi ngày xưa, cũng vừa là sự đồng cảm sâu sắc của nhà thơ hôm nay đối với sự tuyệt vọng đớn đau của chàng trai trẻ. 
Đến hai cặp câu lục bát cuối bài, nhịp thơ trở về sự da diết bồi hồi. Nhà thơ suy ngẫm:

Trăng còn mộng một lần yêu
Sóng còn vỗ một đời theo khuyết tròn

Giấc mộng đêm trăng gắn với ước mơ về sự trọn vẹn của mối tình. Trương Chi sẽ sống mãi trong không gian riêng của mình – không gian của một tình yêu lãng mạn tuyệt vời! Cho dù đó là mối tình đơn phương, ngậm ngùi xót xa, nhưng đó là tình yêu đích thực. Giống như quy luật của tự nhiên: trăng khuyết trăng tròn sẽ kéo theo nhịp sóng thủy triều lên xuống, thì tình yêu cũng vậy, những con sóng tình sẽ còn mãi vỗ nhịp với thời gian. Trương Chi đã hát bằng tất cả sự khát khao yêu đương vô bờ bến, và trong nỗi đau không nơi hóa giải, chàng đã tìm về với dòng sông thân yêu. Dòng sông đã giữ lại mối tình ấy trong những con sóng còn vỗ một đời. Như thế nghĩa là tình yêu trong trái tim chàng đã trở nên vĩnh hằng, như truyện xưa đã kể, trái tim chàng cuối cùng đã trở về trên tay người chàng yêu:

Nước trôi mà đá chẳng mòn
Tình yêu khi mất là còn mãi nhau.

Quy luật của tình yêu được gửi gắm trong hai câu cuối bài nghe sao tha thiết quá! Thể xác là hữu hạn, nhưng tình yêu là vô hạn! Tình yêu đã mất là còn mãi nhau. Một kết thúc không hề bi lụy. Thì ra, sự mất mát đớn đau lại là sự khởi đầu cho một tình yêu bất tử. Tình yêu trong sáng tuyệt vời ấy đã tỏa sáng cả trang đời Trương Chi, tỏa sáng cả một vùng kí ức của tâm hồn Việt! 
Dư âm của bài thơ Trương Chi đã làm tôi nhớ đến ca khúc Khúc hát phiêu li của nhạc sĩ Phó Đức Phương:

Là Trương Chi ta hát khúc Trương Chi …
Là Trương Chi ta hát khúc phiêu ly 
Một bóng một mình một dòng lênh đênh thì đàn làm chi …
Yêu thương con sông nghẹn ngào gió đông một khúc tính tang tang 
tình ta đi …
 
Trương Chi của nhà thơ Bình Nguyên cũng là một khúc hát phiêu li cùng hòa chung giai điệu thiết tha với những sáng tác không thể nào quên về mối tình huyền thoại ấy!

 


Thành phố Hải Dương, 8/6/2011
Quỳnh Trâm
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 5:17am
NGƯỜI DỆT TẦM GAI
              Vi Thùy Linh
 

Chúng mình ở hai miền
Ngày nào em cũng khóc...
Anh yêu của em ơi
Em yêu anh điên cuồng
Yêu đến tan cả em
Ào tung kí ức
Ngày dài hơn mùa
Em mong mỏi
Em (có lúc) như một tội đồ nông nổi

... Em nghe thấy nhịp cánh êm ái ân
Một làn gió thổi sương thao thác
Đêm run theo tiếng nấc
Về đi anh!
Cài then tiếng khóc của em bằng đôi môi anh
Đưa em vào giấc ngủ nồng nàn, quên đi những đêm chập chờn trĩu nặng
Ngày nối ngày bằng hi vọng
Em là người dệt tầm gai...
Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui
Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ
Truân chuyên đè lên thanh thản
Ôi, sự trái ngược - những sợi tầm gai!
Không kỳ vọng những điều quá lớn lao
Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ nỗi buồn - những sợi tầm gai - không ai nhìn thấy
Gai tầm gai đâm em đau đớn
Em chờ anh mãi...
Tưởng chừng không vượt nổi cái lạnh, em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước
Những giọt tâm hồn thấm xót mười ngón tay rớm máu
Ngay cả khi anh làm em buồn thảng thốt
Em vẫn hướng về anh bằng tình yêu trọn vẹn của mình
Dệt tầm gai đến bao giờ
Mỗi ngày dài hơn một mùa
Dệt tầm gai đến bao giờ?
Về đi anh,
Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh.

 
 
 
Yêu thương, hạnh phúc, hờn ghen, nhớ nhung,…là những cung bậc cảm xúc bất biến tạo nên sự hấp dẫn kì diệu của tình yêu. Bởi vậy tình yêu luôn trở thành cảm hứng dồi dào nhất của thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung. Thơ tình yêu cũng muôn màu muôn vẻ, từ sự hờn ghen cao cả của Tôi yêu em (Puskin), sự yêu thương trong sáng trong Thuyền và biển (Xuân quỳnh) đến sự lâm li diễm lệ của Hai sắc hoa tigôn (TTKH),… tất thảy đều mục đích chung khắc họa chân dung tình yêu. Đến thời điểm hiện nay, nữ thi sĩ trẻ Vi Thùy Linh, bằng sức trẻ sôi nổi, cũng hăm hở đóng góp vào bộ sưu tập ấy những chân dung tình yêu mới. Bài thơ Người dệt tầm gai là một bài thơ tiêu biểu như thế của chị.
Nếu đánh giá bài thơ Người dệt tầm gai của Vi Thùy Linh, tôi không cho rằng đây là một tác phẩm độc đáo to lớn về nội dung hay nghệ thuật. Trên thực tế, để đánh giá một tác phẩm thơ cho đúng đắn thì cần thiết đòi hỏi những kĩ năng chuyên môn sâu sắc cùng một lượng thời gian hợp lí. Bởi vậy ở đây, tôi đơn giản chỉ muốn đề cập đến một câu chuyện tình yêu cùng những cung bậc cảm xúc tinh vi của nó. Đồng thời, tôi cũng liên hệ so sánh với một số tác giả, tác phẩm thơ trước hoặc cùng thời để thấy được một số nét nghệ thuật tiêu biểu của cây viết thơ trẻ Vi Thùy Linh.
Vi Thùy Linh là một nhà thơ tuổi đời còn khá trẻ, nhưng với phong cách hiện đại và độc đáo, cô gái mảnh dẻ mới hơn 20 tuổi đầu đã trở thành “hiện tượng Vi Thùy Linh” vào năm 1998. Với danh hiệu này, nữ thi sĩ Vi Thùy Linh đã thực sự có chỗ đứng vững chắc trong nền thơ ca Việt Nam đương đại. Tuyển tập các tác phẩm thơ Đồng Tử (2005), Linh (2000) và Khát (1999) của nhà thơ đã nhận được nhiều sự quan tâm, yêu mến của người đọc đặc biệt là giới trẻ. Yêu mến nhiều nhưng ác cảm cũng lắm. Người khen hết lời mà người chê thì cũng mạnh mẽ. Nhưng đây cũng là một dấu hiệu đáng mừng. Bởi tác phẩm của chị đã không bị quên lãng. Nó đã có đời sống và số phận của nó. Đối với sự sáng tạo nghệ thuật, sợ nhất là sự im lặng. Một tác phẩm ra đời mà không gây nên tiếng vọng nào thì cũng chỉ như hạt cát ném vào sa mạc, rút cục là bị quên lãng mà thôi.
Dù trở thành hiện tượng cách đây đã hơn 10 năm, nhưng dường như sức nóng của những tác phẩm Vi Thùy Linh vẫn chưa giảm xuống. Đọc thơ Vi Thùy Linh, ta vẫn thấy mới mẻ, vẫn mạnh mẽ và hứa hẹn những ý nghĩa mà ta chưa thể khám phá hết. Tâm hồn thơ phong phú của chị đã tạo nên những vần thơ nóng bỏng, tinh tế và đầy gợi cảm. Người dệt tầm gai là một bài thơ tiêu biểu. Bài thơ được làm theo thể thơ tự do, bởi vậy nó không bị gò ép, qua đó cảm xúc của nhà thơ được thể hiện chân thực và tinh tế hơn. Người dệt tầm gai là một bài thơ tình diễn tả nỗi nhớ và sự chờ mong khắc khoải của người con gái khi yêu. Nó chất chứa cái thiếu thốn ngàn đời của trái tim, chất chứa cái đong đầy ngàn đời của khao khát yêu đương mê đắm. Các cung bậc cảm xúc của người con gái khi yêu được khúc xạ qua từng câu, từng chữ trong bài. Bất cứ người con gái nào khi yêu cũng có thể tìm thấy một phần bản thân của mình trong đó. Vi Thùy Linh đã nói thay, nói hộ cho tâm trạng của biết bao người con gái.
Bài thơ mở đầu với sự xuất hiện của một không gian đặc biệt: Không gian xa cách. Chỉ bằng một câu thơ duy nhất, nhà thơ đã vẽ lên một không gian xa cách đầy thương nhớ giữa “em” và “anh”:
“Chúng mình ở hai miền”
Chúng mình là một đại từ nhân xưng chỉ sự kết hợp giữa em và anh. Nó nhất quán thể hiện sự gắn bó gần gũi giữa hai con người yêu nhau. Nhắc tới chúng mình là ta nghĩ ngay đến sự đoàn tụ. Vậy mà ở đây, chúng mình lại được đặt trong không gian “hai miền” - không gian xa cách, chia lìa. Điều đó khiến cho người con gái đau đớn và cô phải yếu đuối thú nhận:
“Ngày nào em cũng khóc”
Khi yêu tất yếu ai cũng có khao khát được ở bên cạnh người mình yêu thương. Đối với người con gái, điều này còn quan trọng hơn cả bởi con gái cần lắm sự chiều chuộng chở che. Vậy mà người con gái trong bài thơ phải chịu đựng cảnh chia lìa. Nhưng cũng chính bởi vậy mà tình yêu trong cô càng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết. Tình yêu, nỗi nhớ, sự xa cách đã hợp lại tạo nên sự khao khát mãnh liệt như những con sóng. Bởi vậy mà dường như lúc này, không gì có thể ngăn cản cô gái hòa tan bản ngã trong tình yêu của mình:
“Anh yêu của em
Em yêu anh cuồng điên
Yêu đến tan cả em ra”
Ở mỗi thời đại khác nhau con người ta có cách thể hiện tình yêu khác nhau. Qua rồi cái thời yêu thương nhung nhớ kín đáo nhẹ nhàng “thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, một người chín nhớ mười mong một người” (Nguyễn Bính), thơ tình ngày nay có cách thể hiện tình yêu mạnh bạo hơn với những ý tưởng ngày càng lạ hơn. “Yêu đến tan cả em ra” thể hiện một thứ tình yêu vô điều kiện, yêu đến tôn thờ, yêu đến độ sẵn sàng hòa tan mình, dâng hiến bản thân mình cho đến giới hạn cuối cùng.
Hai câu thơ đầu tiên thật ngắn nhưng cũng thật đầy đủ để dựng lên một không gian ngập căng nỗi nhớ. Đó là sự súc tích trong ngòi bút của Vi Thùy Linh . Đối với việc tạo dựng thời gian nghệ thuật trong bài, Vi Thùy Linh cũng tận dụng triệt để thủ pháp này. Chị tạo dựng thời gian nghệ thuật bằng ba câu thơ:
“Ngày dài hơn mùa”
“Ngày nối ngày bằng hi vọng”
“Mỗi ngày dài hơn một mùa”
Ba câu thơ trên là ba câu thơ đặc sắc được thể hiện theo hình thức của nguyên lí song song. Nhưng ý đồ nghệ thuật của tác giả tập trung ở hai câu “Ngày dài hơn mùa” và “Mỗi ngày dài hơn một mùa”. Sự lặp đi lặp lại của cụm từ “ngày dài” có tác dụng tạo nên ấn tượng thời gian lặp đi lặp lại, bất biến. Nó diễn tả tâm trạng chán chường của người con gái trước sự trôi chảy của thời gian. Với cô, mỗi ngày không có anh là mỗi ngày giống nhau, buồn tẻ và dài đằng đẵng. Ẩn sau ba câu thơ ta như nghe được tiếng thở dài của một tâm hồn mệt mỏi và tuyệt vọng. Bằng chứng là câu thơ “ngày dài hơn mùa” so với câu thơ “mỗi ngày dài hơn một mùa” đã gia tăng về số lượng câu chữ, tính từ chỉ số lượng “mỗi” “một” xuất hiện. Chỉ khi sự chờ đợi đã lâu dài đến độ đủ thiêu đốt trái tim thì cô gái mới có thể thẫn thờ ngồi đếm thời gian như vậy. Ở đây sự chờ đợi tuyệt vọng được gia tăng tỉ lệ thuận với cấp độ thời gian. Nếu câu thơ thứ nhất đơn thuần chỉ thời gian thì câu thơ sau đã mang theo đầy đủ tâm trạng của cô gái: Mệt mỏi, khắc khoải và tuyệt vọng.
Từ không gian, thời gian đầy cảm xúc, nhà thơ dần dần dẫn dắt người đọc bước vào thề giới tâm trạng của nhân vật trữ tình. Mặc dầu không gian, thời gian hết sức quen thuộc trong thơ Việt Nam nhưng với biểu tượng thơ, Vi Thùy Linh đã táo bạo chọn cho mình một biểu tượng rất lạ lẫm và mang đậm phong vị cổ tích. Nếu ta từng quen thuộc với các loại biểu tượng tình yêu như hoa hồng, trái tim, sôcôla,..thì ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi bắt gặp biểu tượng tình yêu trong bài thơ này. Đó là tầm gai. Tầm gai vốn là một loài cây dùng để kéo sợi, hình dạng xấu xí lại vô cùng nhiều gai. Vậy mà Vi Thùy Linh lại chọn nó làm biểu tượng của tình yêu. Nhưng nếu ta biết đến câu truyện cổ tích về nàng Lidơ may áo bằng sợi tầm gai thì ta sẽ không còn ngạc nhiên nữa. Xưa kia nàng công chúa Lidơ xinh đẹp tuyệt trần may áo bằng sợi tầm gai để giải thoát các anh trai mình khỏi lốt chim thiên nga do lời nguyền của mụ phù thủy độc ác. Áo may xong cũng là lúc nàng giải thoát cho các anh, đồng thời đạt được hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời : có được người mình yêu thương. Có lẽ câu truyện cổ tích cảm động này là nguồn cảm hứng chính để Vi Thùy Linh viết Người dệt tầm gai. Biểu tượng tầm gai xuất hiện trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ, trở thành nỗi ám ảnh không ngừng trong tâm trí người đọc. Tầm gai trở thành biểu tượng cho tình yêu, cho hạnh phúc mà cô gái đeo đuổi bằng tất cả sự nhiệt tình và khao khát của mình. Như nàng Lidơ dệt áo tầm gai với những ngón tay rớm máu, nhân vật trữ tình trong bài thơ khao khát dệt nên hạnh phúc bằng niềm vui và cũng bằng cả nỗi buồn, nỗi đau:
“Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui
Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ
Truân chuyên đè lên thanh thản
Ôi sự trái ngược - những sợi tầm gai !
Không kỳ vọng những điều lớn lao
Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ những nỗi buồn - những sợi tầm gai - không ai nhìn thấy”

Có một nghịch lí đắng cay trong những câu thơ trên. Cô gái khao khát yêu thương, khao khát hạnh phúc và gồng mình lên để đấu tranh cho hạnh phúc ấy. Nhưng cuối cùng thì cô lại chỉ nhận được “rất nhiều nỗi khổ” bởi chính thứ hạnh phúc cô đang đeo đuổi đã trở thành một camboorang, khi không thể mang lại hạnh phúc, nó quay lại đâm ngược vào chính trái tim cô:
“Gai tầm gai đâm em đau đớn
Em chờ anh mãi...
Tưởng chừng không thể vượt qua nổi cái lạnh, em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước

Những giọt tâm hồn thấm xót mười ngón tay rớm máu”

Mỗi câu thơ đều mang nặng nỗi cô đơn xót xa đến tột cùng. Phải từng trải, phải thẩm thấu được nỗi đắng cay của sự thất bại trong tình yêu thì mới có thể viết lên được những câu thơ gợi cảm đầy xót xa đến vậy. Hình ảnh “hai bàn tay trầy xước” cũng được lặp lại tới hai lần, lần nào cũng tràn ngập cảm xúc. Đó là sự chuyển hóa thành nỗi đau tinh thần thành nỗi đau thể xác. Điều này khiến cho nỗi đau trở nên cụ thể, rõ nét hơn. Không phải là nỗi đau tột cùng nhưng nó cứ ám ảnh và day dứt trong tâm hồn cô gái. Điều này còn khó chịu hơn cả. Cách thể hiện trên của Vi Thùy Linh còn đồng thời tạo cho người đọc có thể cảm nhận được một cách sâu sắc hơn tâm trạng của nhân vật.
Vi Thùy Linh đã vận dụng dày đặc những tính từ “cuồng điên”, “mong mỏi”, “nông nổi”, “thảng thốt”,.... Đồng thời sử dụng những động từ mạnh “tan”, “run”, “nấc”, “đè” để bổ sung vào đó những trạng thái tình cảm phức tạp của nhân vật. Đó là tâm trạng yêu thương trong hi vọng có xen lẫn nhiều hơn tuyệt vọng. Mỗi từ ngữ, câu chữ được đặt đúng vị trí của mình một cách tinh tế và tài tình. Đó chính là cái tài của nhà thơ. Bởi như chính nhà thơ đã tâm sự “Tôi cho rằng viết “Tôi đang vui, tôi đang buồn, đang thất vọng” thì người nào đó biết chữ cũng có thể viết ra. Những người đã mang chữ “sĩ” – nghệ sĩ, thi sĩ hay họa sĩ, văn sĩ thì phải biết thể hiện trang thái và thế giới và con người một cách khác thường…Nhà thơ phải đem đến cho người đọc những rung cảm mới đầy tinh tế, phóng khoáng và mãnh liệt”.
Bài thơ là một bản nhạc với đủ các cung bậc cảm xúc. Cuối bài thơ, cảm xúc của thi sĩ dâng lên đến cực điểm:
“Dệt tầm gai đến bao giờ?
Mỗi ngày dài hơn một mùa
Dệt tầm gai đến bao giờ?”

Sự lặp lại của câu hỏi là biểu hiện của một sự vô vọng. Vô vọng trong tình yêu xa cách của người con gái đối với người con trai, vô vọng trong nỗi cô đơn cùng cực. Bởi vậy câu “dệt tầm gai đến bao giờ?” lặp đi lặp lại thành nỗi ám ảnh. Câu thơ cuối cùng lại là sự lặp lại của những câu thơ trước:
“Về đi anh!
Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh!”

Đây là sự thành công của tác giả trong sự vận dụng cấu trúc trùng điệp. Thủ pháp nghệ thuật này phát huy hiệu quả cao độ trong việc khắc họa tâm trạng rối ren phức tạp của nhân vật. Hai câu thơ cuối đã chuyển bài thơ từ trạng thái khao khát mong nhớ sang trạng thái van lơn. Dường như lúc này nhân vật trong bài thơ đã không thể tiếp tục gồng mình lên để chịu đựng được nữa mà chấp nhận sự bất lực của mình và van lơn được lành lặn những nỗi đau xa cách. Phải chăng đó là bi kịch của kiểu tình yêu “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”(Xuân Diệu)?
Bằng thủ pháp tạo dựng không gian, thời gian, biểu tượng cùng hệ thống ngôn ngữ mang tính chọn lọc, Vi Thùy Linh đã khắc họa thành công thế giới tâm trạng của một người con gái khi yêu. Chủ đề của bài thơ không mới nhưng bằng cách thể hiện độc đáo, ta trực tiếp cảm nhận được một luồng không khí văn thơ mới mẻ. Nếu đa phần trong số các bài thơ của chị nghiêng về bút pháp diễn đạt tâm trạng bằng những hình ảnh giàu tính nhục thể thì bài thơ này không thế. Đây là một bài thơ giản dị, trong sáng với những hình ảnh đẹp và lạ. Chính bởi vậy mà bài thơ nhận được nhiều lời khen ngợi hơn là chê trách. Bài thơ còn được nhạc sĩ Ngọc Đại phổ nhạc bằng những giai điệu nồng nàn, nóng bỏng, đó là ca khúc Dệt tầm gai. Ca khúc được đông đảo bạn trẻ biết đến và yêu mến.
Người dệt tầm gai là một bài thơ tình giàu nữ tính và cảm xúc. Bài thơ đem đến cho người đọc những cảm nhận mới trên nền đề tài tình yêu quen thuộc. Người đọc yêu bài thơ bởi sự gợi cảm tinh tế của nó và bởi nếu đã từng đọc qua, không ai có thể quên được những câu thơ đẹp và lạ cứ mãi ám ảnh tâm trí:
“Về đi anh
Cài then tiếng khóc em bằng đôi môi anh”

“Về đi anh!
Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh!”

IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 5:22am
MÀU TÍM HOA SIM
Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Phần viết tiếp bài thơ của nhà thơ Hữu Loan 50 năm sau...

"...Ai hát
vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím
có chiều hoang biết
Chiều hoang tím
tím thêm màu da diết. ..
nhìn áo rách vai
tôi hát trong màu hoa:
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm. ..!
Màu tím hoa sim tím
Tình tang lệ rớm. ..

Ráng vàng ma và sừng rúc
điệu quân hành
Vang vọng chập chờn
theo bóng những binh đoàn
biền biệt hành binh
vào thăm thẳm chiều hoang màu tím...

Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu?
- Áo anh nát chỉ dù. .. lâu!
 

"Màu tím hoa sim", bài thơ tình đau thương nhất thế kỷ

Một buổi chiều cuối tháng giêng. Cùng với vài người bạn, chúng tôi trở lại quê nhà. Trong ánh nắng đượm vàng cuối ngày, bất chợt, tôi nghe lại bài thơ "Màu tím hoa sim" của thi sĩ Hữu Loan. Với giọng khàn đục của một người đàn ông từng trải, bài thơ được đọc lên chậm rãi:

"Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những đứa em nàng
Có em chưa biết nói ..."

Mọi người ngồi hôm ấy đều ngồi trầm ngâm, xúc động.

Lâu lắm rồi, hơn 60 năm, kể từ ngày người vợ bé bỏng chiều quê của thi sĩ miền Nga Sơn - Thanh Hoá ra đi mãi mãi, dể lại nỗi thương đau tận cùng của một cuộc tình định mệnh và đầy nghiệt ngã. Tôi bồi hồi nhớ lại...


Tình yêu thời chiến chinh


Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 14-6-1919 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Năm 24 tuổi, Hữu Loan rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Lúc bấy giờ, ở Thanh Hóa có cửa hàng bán vải và bán sách của bà Tham Kỳ (tên thật là Đái Thị Ngọc Chất), vợ của ông Lê Đỗ Kỳ, kỹ sư canh nông, có thời làm Tổng Thanh tra Canh nông Đông Dương). Những ngày tháng xa quê, Hữu Loan thường ghé lại quán xem và mua sách.
Hữu Loan được ông bà Lê Đỗ Kỳ mời về dạy học. Gia đình ông bà có 3 người con trai, sau này đều gia nhập quân đội :
"Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh ..."
Ngày ấy, ông 26 tuổi, đêm đầu tiên đến nhà, bà Kỳ đã hạ sinh một đứa con gái, cô bé ấy sau này mắt luôn mở to nhìn ông không dứt, đó chính là cô em gái của cô Lê Đỗ Thị Ninh, lúc đấy mới 10 tuổi. Hữu Loan và Ninh rất thân nhau, ông xem cô như em gái và cô cũng rất quý mến ông :
"...Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới..."
Sau đó, Hữu Loan rời Thanh Hóa lên Hà Nội thi Tú tài và đỗ hạng ưu, người Pháp muốn mời Hữu Loan vào làm thư ký ở Phủ Toàn quyền với lương rất cao nhưng do không thích Pháp nên Hữu Loan quay trở lại nghề dạy học. Cô Ninh càng lớn, càng nết na và xinh đẹp, một vẻ đẹp thánh thiện. Mặc dù gia đình rất giàu, có 500 mẫu ruộng và gần năm chục người làm nhưng riêng quần áo của Hữu Loan cô không cho người làm đụng đến mà tự tay giặt ủi, xếp và cất vào tủ. Bà Chất rất quý mến ông, có ý định gả cô em gái xinh đẹp tên Nga cho ông, nhưng Nga lại không thích vương vấn chuyện đời,mu ốn xuất gia theo đạo nên bà lại đổi ý,gả con gái mình cho Hữu Loan. Ông nhớ lại : "Lúc đấy có bao giờ tôi nghĩ chuyện tình yêu với Ninh, tôi hơn cô ấy đến 16 tuổi, lại xem cô ấy như em gái nuôi"
Hữu Loan kể, lần đầu tiên tôi tới nhà, bà Chất phải gọi mãi cô bé Ninh mới chịu ra khoanh tay chào thầy, miệng nói lí nhí:
-Em chào thầy ạ!
Chào xong cô bé bất ngờ mở to mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là từ hôm ấy, tôi dạy em đọc, viết. Em là một cô bé thông minh, ít nói và mỗi lần mở miệng là giống y như một "bà cụ". Có lần tôi kể chuyện này cho hai người anh của em nghe. Không ngờ câu đùa ấy đến tai em. Thế là em dỗi! Suốt một tuần liền, em nằm lì ở buồng trong, không chịu học hành. Trước đó, hằng ngày em vẫn chăm sóc tôi một cách rất thầm kín. Lúc thì đặt vào góc mâm chỗ tôi ngồi ăn một vài quả ớt đỏ au em vừa hái ở vườn, lúc thì quả chanh mọng nước... Những buổi trưa hè, khi tôi ngủ trưa, em lén lấy chiếc áo sơ mi trắng của tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt".
Một hôm, em nằng nặc đòi tôi đưa em lên khu rừng thông. Tôi sợ em lại dỗi nên đánh liều xin với ông bà cho đưa em lên núi chơi. Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc. Tôi đuổi theo em đến đứt cả hơi. Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi:
-Thầy ngồi xuống đi!
Tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi cứ ngồi như thế và im lặng bên nhau. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tít tận chân trời, không hiểu lúc đó em nghĩ gì. Bỗng em hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim không?
Tôi nhìn xuống sườn đồi, tím ngắt một màu sim. Em đứng lên và đi xuống. Tôi mệt quá và nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tỉnh dậy, tôi thấy em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.
- Thầy ăn đi!
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng, trầm trồ
-Ngọt quá !
Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế. Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này tới quả khác. Tôi ngước nhìn em, em cười. Hai hàm răng và đôi môi em đỏ tím, hai bên má cũng đỏ tím một màu sim. Tôi phá lên cười, em cũng cười theo...

Hạnh phúc mong manh


Hữu Loan hồi tưởng...
Cuối mùa đông năm ấy, tôi lên đường đi kháng chiến, làm Chính trị viên tiểu đoàn ở sư 304 của tướng Nguyễn Sơn.
Hôm tiễn tôi, em cứ theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Lên đến bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim vẫy tôi. Tôi lại đi và nhìn lại cho tới khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, tôi biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Chín năm sau, tôi trở lại nhà... Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều nhưng em không nói, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em bây giờ đã là một cô gái xinh đẹp. Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Đám cưới thật đơn sơ:
"...Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi ..."
Hạnh phúc ngọt ngào. Hai tuần phép của tôi trôi đi nhanh quá !
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi tám năm về trước em đã đứng. Chỉ có điều giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời, người vợ yêu quý của tôi. Tôi đi và quay đầu nhìn lại... Nếu như tám năm về trước, khi nhìn lại, tôi chỉ cảm thấy cô quạnh, một nỗi sầu man mác thì lần này tôi thực sự đau buồn. Đôi chân tôi không đứng nỗi và em cũng như quỵ xuống. Tôi đâu ngờ, đây là lần chia tay cuối cùng...

Dòng sông định mệnh


Ngày 29/5/1948, một ngày định mệnh, Ninh đưa quần áo ra giặt ở sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống). Đoạn sông này gần đổ ra biển nên nước chảy xiết. Buổi trưa bà Chất rủ cô Ninh ra tắm nhưng cô đã tắm buổi sáng nên mang quần áo ra giặt. Đang giặt, Ninh bỗng trượt chân, chới với giữa dòng nước hung dữ , bà mẹ quay lại chỉ thấy tóc con mình xõa trên mặt nước. Ba ngày sau, rất kỳ lạ, xác cô Ninh mới nổi lên không xa bến nước bao nhiêu trong khi nước ở nơi này chảy rất mạnh. Có người nói do cô bị kẹt ở dưới đáy, có người bảo cô Ninh vương vấn gia đình nên không muốn đi xa...
Ninh chết trong khi đang mặc chiếc áo màu tím. Dọc bờ sông, dưới chân núi Nưa, nơi cô chết, cũng mọc đầy những hoa sim tím. Thấp thoáng những cánh quân đi qua những đồi sim bạt ngàn. Câu thơ bi hùng:
"...Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt..."
Ba tháng sau, Hữu Loan nhận được tin dữ, vợ qua đời. Ninh chết quá thảm thương. Ông chạy về đến nơi thì mọi việc đã xong. Mẹ ngồi khóc bên mộ con, chiếc bình hoa trong ngày cưới được mọi người dùng làm bình hương để thờ tự:
"...Chiếc bình hoa ngày cưới.
thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh..."
Chiếc bình đặc biệt ấy, ông Hữu Loan vẫn giữ đến tận bây giờ và được đặt trên bàn thờ cô Ninh cùng với tấm ảnh cô chụp năm lên 10 tuổi. Vào một đêm mưa bão lớn, nước tràn từ mái nhà xuống bàn thờ đã làm hỏng tấm ảnh duy nhất đó.
Ba người anh của cô Ninh mà ông Hữu Loan đã dạy học và đựợc nhắc đến ở ngay đầu bài thơ lúc đấy đang ở chiến trường Đông Bắc. Không hiểu thư từ đi lại khó khăn hay sao mà họ nhận được thư báo tin em gái mất, rồi ít lâu sau mới nhận được thư báo tin người em gái lấy chồng.
Rất ít ai biết được về ba người anh của Ninh, người anh cả Lê Đỗ Khôi là Chính ủy tiểu đoàn, hy sinh chỉ vài giờ trước khi trận Điện Biên Phủ kết thúc. Người thứ hai là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Phạm Đình Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, còn người anh thứ ba là Lê Đỗ An tức Nguyễn Tiên Phong, nguyên Bí thư Trung ương Đoàn - Phó Ban dân vận Trung ương.
Trở về doanh trại với nỗi đau xé lòng, Hữu Loan như người bị mất hồn. Trong nỗi đau tột cùng, bài "Màu tím hoa sim" được viết ngay bên mộ vợ trên một cái quạt giấy. Bài thơ khóc vợ nổi tiếng của ông được chép tay nhau và lan truyền rất nhanh chóng trong quân đội theo suốt cuộc chiến tranh đầy máu lửa.
Mãi đến những năm 1993, ông thêm một đoạn ở cuối bài thơ. Gần 50 năm sau, lời thơ của ông vẫn ai oán như xưa:
"...Ai hát
vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím
có chiều hoang biết
Chiều hoang tím
tím thêm màu da diết. ..
nhìn áo rách vai
tôi hát trong màu hoa:
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm. ..!
Màu tím hoa sim tím
Tình tang lệ rớm. ..
Ráng vàng ma và sừng rúc
điệu quân hành
Vang vọng chập chờn
theo bóng những binh đoàn
biền biệt hành binh
vào thăm thẳm chiều hoang màu tím...
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu?
- Áo anh nát chỉ dù. .. lâu!
Phần thêm vào một thời cũng gây xôn xao, có những người thích phần thêm nhưng có người chỉ muốn bài thơ nguyên thủy đã ăn sâu vào tâm khảm. Hữu Loan giải thích rằng việc ông viết thêm chỉ để làm cho rõ thêm ý cuối bài.
Bài thơ đã được các nhạc sĩ miền Nam phổ nhạc. Phạm Duy nổi tiếng với bài "Áo anh sứt chỉ đường tà", còn Dzũng Chinh cũng đã phổ thành nhạc phẩm boléro "Những đồi hoa sim", Duy Khánh với bài "Màu tím hoa sim". Cho dù với phong cách đối ngược nhau hoàn toàn, các bản nhạc đều được rất đông người biết đến.
Khi người ta hỏi Hữu Loan rằng ông thích bài hát nào nhất trong số các bản nhạc trên thì ông chỉ im lặng, ánh mắt nhìn ra vườn, hững hờ:
- Tôi không để ý chuyện người ta phổ nhạc tôi.
Bà Nhu , người vợ sau của ông giải thích:
- Ông ấy không thích bài nào cả, khi phổ nhạc người ta đổi lời mất mấy đoạn rồi.
Và như thế, từ đó đến nay, ông không bao giờ bước chân ra khỏi cổng nhà nữa. Mỗi ngày, ông ra chiếc võng trong vườn, nằm nhìn ngắm các cây cối xung quanh. Gần đây người con út của ông bắt đầu tìm cách sưu tầm lại các bài thơ còn thất lạc của ông, cũng có người đưa trả lại, nhưng chủ yếu do ông Hữu Loan nhớ ra và đọc lại. Không biết bao giờ tập thơ mới xuất bản và có kịp khi ông vẫn còn sống hay không, nhưng tên tuổi Hữu Loan cũng vẫn gắn chặt với Màu tím hoa sim, được xem như một trong những bài thơ tình đau thương nhất của thế kỷ 20.


Sửa bởi Hoabanglang - 03 Nov 2011 lúc 5:23am
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 5:27am
Lưu Trọng Lư với bài "Tiếng Thu"
 
 
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...

 
Lưu Trọng Lư là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà phê bình thiên tài Hoài Thanh đã có những nhận xét thật chuẩn xác: "Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt rũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy". Nhận định này dường như đã thành nỗi ám ảnh. Và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ loạng choạng, cứ bập bỗm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán và vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn. Còn về con người Lưu Trọng Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: "Cả đời Lư cũng là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết".
Quả đúng vậy. Và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của Việt Nam, nghĩa là ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng Thu. Đây là bài hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...


Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ "Đầu Ngô mình Sở". Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về. Tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:

Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người chinh phụ


Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không thấy dấu vết thô vụng đâu nữa.
Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và chỉ xảy ra có một lần. Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi.
Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi thế, người đọc cũng phải dùng hồn để chiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lý trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất ngơ ngác này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khoá mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có 9 câu mà đã có đến ba câu điệp "Em không nghe":

Em không nghe mùa thu
...
Em không nghe rạo rực
...
Em không nghe rừng thu...


Em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được.Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xạc, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô, nghĩa là nó cũng không nghe nốt. Hiểu một cách sống sít như thế thì thật thô thiển. Nhà phê bình đã kéo những đám mây ngũ sắc đang bay lảng vảng trong không trung, rồi rải xuống đường làm rơm rạ lót chân, và như thế còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ để tạo giai điệu rất đặc biệt cho bài thơ này. Ở đây, nhạc điệu cũng là một phần nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ. Còn ở góc độ khác, cũng nhìn bằng con mắt lý trí, có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của nước ngoài. Thực tế trong bếp núc sáng tác, có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Người bình luận còn viện cớ rằng: "Thực tế Việt Nam làm gì có khu rừng vàng. Đấy là rừng châu Âu. Rừng Việt Nam là rừng luốm nhuốm. Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong Kiều: "Rừng thu từng biếc chen hồng". Và con nai Việt Nam cũng nhanh nhẹn lắm, tinh ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác! Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con mắt thịt đâu! Lại phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bào chữa cho ông thôi: "Trong thơ Lư, nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng tiếng ấy, màu kia chỉ có ở trong mộng. Mộng! Đó mới là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng, Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỷ 20, ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy mình gò ngựa ở những chốn xa xăm nào".

Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời...

1997.

Bài bình luận của Trần Đăng Khoa

IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 5:38am
Vội vàng - Xuân Diệu
 
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng chợt tắt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa...

Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Rút từ tập Thơ Thơ, 1938)


Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh đã thấy "Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt". Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa đề Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.

Thực ra, cái điệu sống vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là kết cục không thể tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao kì diệu. Mà sống là phải tận hưởng và tận hiến! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp.

Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.

Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất "ngại" cặp kè với chính luận. Thế nhưng, nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên thuộc loại thơ cảm xúc. Nhưng đọc kĩ sẽ thấy thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cấu tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột có lúc đã thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh hoạ cho triết học. Mà đó chính là cảm niệm triết học của một hồn thơ.

Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài, nhưng tự nó đã hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ "Ta muốn ôm". Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ trực tiếp cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều dễ thấy là thi sĩ có dụng ý chọn cách xưng hô cho từng phần. Trên, xưng "tôi" - lập thuyết, đối thoại với đồng loại. Dưới, xưng "ta" - đối diện với sự sống. Trình tự luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ ào ạt, sôi nổi như thác cuốn đã xoá mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.

Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. ấy là ước muốn quay ngược qui luật tự nhiên - một ước muốn không thể:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi

Muốn "tắt nắng", muốn "buộc gió" thật là những ham muốn kì dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được qui luật, làm sao có thể vĩnh viễn hoá được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ với cái thế giới thắm sắc đượm hương này.

Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường đầy sắc hương đó hiện diện trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khiêu gợi. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.

Hãy xem cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Có lẽ trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn tơ non đầy một sức sống thanh tân kia sao mà quyến rũ - tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một một người tình rạo rực, trinh nguyên.

Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái lôgic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn "tắt nắng", muốn buộc gió chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho một trần thế như thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là vẻ đẹp, là cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì trong sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, "ngon" nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái "ngon" kia khi còn trẻ thôi. Trong khi đó, cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Con người thời trung đại lấy sinh mệnh vũ trụ để đo đếm thời gian. Nên hình như họ yên trí với quan niệm thời - gian - tuần - hoàn, với cái chu kì bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu nghìn ngày của kiếp người. Hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu. Con người hiện đại lấy sinh mệnh cá thể làm thước đo thời gian. Nên họ sống với quan niệm thời - gian - tuyến - tính. Thời gian như một dòng chảy vô thuỷ vô chung mà mỗi một khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !

Không chỉ dùng sinh mệnh cá thể, Xuân Diệu còn đo đếm thời gian bằng cái quãng ngắn ngủi nhất của sinh mệnh cá thể: tuổi trẻ. Tuổi trẻ đã một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn.

Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người quá ư ngắn ngủi hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Không chỉ quan niệm, mà ngay cả cảm giác cũng hết sức mới lạ. Xuân Diệu đã đem đến một cảm nhận đầy tính "lạ hoá" về thời gian và không gian:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt...

Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép "tương giao" (Correspondance) của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới, trước hết là thời gian và không gian. Có những câu thơ mà cảm giác được liên tục chuyển qua các kênh khác nhau. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: "Mùi tháng năm" - thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương - chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn "buộc gió lại" ư - hương bay đi là thời gian trôi mất, là phai lạt phôi pha! Một chữ "rớm" cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ "vị" liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật chất: "vị chia phôi"! Thì ra chữ "rớm" và chữ "vị" đều từ một hình ảnh ẩn hiện trong cả câu thơ là giọt lệ chia phôi đó. Giọt lệ thường long lanh trên khoé mắt người trong giờ phút chia phôi. Giọt lệ thành hiện thân, biểu tượng của chia phôi. Vì sao thời gian lại mang hương vị - hình thể của chia phôi? ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép "tương giao"? Thực ra cái tinh tế của Xuân Diệu là ở chỗ này đây. Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang có một cuộc ra đi như thế, thời gian đang chia tay với con người, chia tay với không gian và với cả chính thời gian. Tựa như một phần đời của mỗi cá thể đang vĩnh viễn ra đi. Từng phần đời đang chia lìa với cá thể. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than triền miên bất tận: "than thầm tiễn biệt". Không gian đang tiễn biệt thời gian! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kì này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi!

Và, một điều rất đáng nói đã bộc lộ đây đó trong thi phẩm này là: do dùng tuổi trẻ để đo đếm thời gian, nên ở Xuân Diệu đã xuất hiện một ý niệm thời gian khá đặc biệt, đó là thì sắc. Thời gian được nhìn ở phía nhan sắc, gắn với nhan sắc của sự vật. Vì thế mà với hồn thơ này, thời gian, về thực chất không có ba thì phân lập rành rẽ với quá khứ - hiện tại - tương lai, mà chỉ có hai thì luôn tranh chấp và chuyển hoá thôi đó là thời tươi và thời phai. Nó không phải là hai mùa. Không phải Xuân Diệu lược qui bốn mùa vào hai mùa. Mà là hai thì của mỗi một tạo vật thiên nhiên. Thời tươi: vạn vật thắm sắc, thời phai: vạn vật phôi pha, phai lạt. Vật nào trong trần thế này cũng trải qua hai thì ấy. Tất cả những ý niệm thời gian khác như năm tháng, mùa vụ, phút giây... dường như đều tan trong cái ý niệm thì sắc tổng quát đó. Mà ta thấy ở đây, nó hiện diện trong sự đối lập của "độ phai tàn" (thời phai) và "thời tươi":

- Chim rộn ràng chợt dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa.
- Cho no nê thanh sắc của thời tươi.

Có thể nói ý niệm thì sắc này đã chi phối toàn bộ nhỡn quan Xuân Diệu đối với việc cảm nhận vẻ đẹp của thế giới trong sự trôi chảy vô thuỷ vô chung của nó.

Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có một cách thực tế nhất, khả thi nhất là chạy đua với thời gian, là tranh thủ sống:

Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao gì nữa...
Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm

Đến đây, phần luận giải cuả tuyên ngôn Vội vàng đã đủ đầy luận lí!

Phần cuối của bài thơ là lúc tuyên ngôn được hiện ra thành hành động, ấy là Vội vàng trong hình thái sống của cái tôi cá nhân cá thể này. Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những ham muốn mỗi lúc mỗi cuồng nhiệt, vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống trào cuốn của mình:

Ta muốn ôm:
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi, bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa, song song, thành những đợt sóng vỗ mãi vào vào tâm hồn người đọc. Câu thơ Ta muốn ôm chỉ có ba chữ, lại được đặt ở vị trí đặc biệt: chính giữa hàng thơ, là hoàn toàn có dụng ý. Xuân Diệu muốn tạo ra hình ảnh một cái tôi đầy ham hố, đang đứng giữa trần gian, dang rộng vòng tay, nới rộng tầm tay để ôm cho hết, cho khắp, gom cho nhiều nữa, nhiều nữa, mọi cảnh sắc mơn mởn trinh nguyên của trần thế này vào lòng ham muốn vô biên của nó. Cái điệp ngữ:"Ta muốn" được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm - riết - say - thâu - cắn. Có thể nói, câu thơ "Và non nước, và cây, và cỏ rạng" là không thể có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với người xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ "và" đến thế? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ "và" hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc ham hố, tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi s !

Câu thơ:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi

cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ "cho" điệp lại với nhịp độ tăng tiến, nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thoả thuê: chếnh choáng - đã đầy - no nê. Sóng cứ càng lúc càng tràn dâng, cao hơn, vỗ mạnh hơn, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:

- Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong một cuộc tình chếnh choáng men say.

Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc, phải sống vội vàng. Thế là, Vội vàng chính là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc và dường như cũng là cái giá trả cho hạnh phúc vậy! Xuân Diệu quả đã mang trong mình nguồn sống trẻ. Xuân Diệu là thi sĩ của nguồn sống trẻ. Ta hiểu vì sao, khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
 
(Sưu tầm)
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 5:50am

Dạ khúc

                                 Hoàng Phủ Ngọc Tường
 
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời người

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối dâng đầy
Anh lặng thầm như là chiếc bóng
Hoa tàn một mình em không hay

Theo bản in trong tập thơ Người hái phù dung-NXB Hội Nhà văn- 1992

 
 
Có lẽ những ai đã từng đọc những trang tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng sẽ không thất vọng khi đọc thơ tình của ông. Rất trong sáng, dịu nhẹ, bâng khuâng...

Dạ khúc là một câu chuyện tình được kể bằng những vần thơ. Câu chuyện có anh, có em, có khởi đầu, và có kết thúc. Lần đầu tiên đọc bài thơ này, tôi đã ngạc nhiên, không hiểu vì đâu một bài thơ đầy ắp những buổi chiều như thế, lại có tên là Dạ khúc.

Cái tên của một bài thơ bao giờ cũng thâu tóm cái thần, cái cốt lõi nhất của bài thơ đó. Với tôi, Dạ khúc là khúc đêm, là một khoảng lặng tĩnh tại, hoang vắng. Thế mà một bài thơ với sáu khổ thơ, sáu buổi chiều, sáu khúc ca hoài niệm lại có tên Dạ khúc !

Nhưng khi đọc trở lại bài thơ tôi đã nhận ra rằng quả thực nhà thơ đã vô cùng hữu ý khi đặt cho bài thơ cái tên đó. Sáu khổ thơ bắt đầu bằng sáu sự tìm kiếm “có buổi chiều nào như chiều …”, với thời gian kéo dần từ quá khứ xa đến hiện tại. Sự lặp lại đó đã tạo cho âm hưởng chung của bài thơ, đó là sự - lần - tìm - kỉ - niệm. Cũng vì sự lần tìm kỉ niệm ấy mà người đọc biết, câu chuyện tình đó đang qua hoặc đã qua rồi.

Sự vận động mãnh liệt của dòng thời gian qua các khổ thơ cũng là sự vận động mãnh liệt của cảm giác con người trong tình yêu, từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc. Anh và em đã cùng đi qua những buổi chiều, từ buổi chiều xưa, đến buổi chiều qua, và những buổi chiều chỉ có thể gọi tên bằng kỉ niệm “buổi chiều người bỏ vui chơi” “buổi chiều mộng mị vây quanh” “buổi chiều hình như chưa nguôi” , những buổi chiều hạnh phúc, chỉ cho đến một buổi chiều nay, buổi chiều mà lần đầu tiên bóng tối đã đến.

Câu thơ “căn phòng anh bóng tối dâng đầy” là một câu thơ vô cùng tinh tế. Không phải là bóng tối phủ ngập căn phòng mà là bóng tối đang dâng lên, đang xâm lấn dần những khoảng không ánh sáng, thứ ánh sáng của hạnh phúc tình yêu mà con người vẫn chìm đắm. Trong căn phòng ấy , vẫn có anh và em, nhưng hai người dường như đã bị đẩy lùi về hai đầu thế giới mà sợi dây kết nối duy nhất là tình yêu đã không còn.

Hình ảnh “hoa tàn” vô cùng gợi cảm, bởi lẽ chỉ cần hình ảnh đó mà người đọc cảm nhận có một tình yêu vừa đã qua đi, vừa đã tàn lụi. Bông hoa tàn lụi trong bóng tối, như sự kết thúc lặng lẽ của một mối tình. Và người đọc biết rằng sẽ không còn có thể tìm thấy một buổi chiều nào nữa, chỉ còn là bóng tối miên viễn, buồn rầu…. Phải chăng vì lẽ đó, bài thơ có tên “dạ khúc”?

Từ trước đến nay, nhớ đến thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi hay nhớ đến những nàng tiên “quì ôm cát bụi khóc òa như mưa”, nhớ tới những miền không gian giao thoa giữa trần gian và tiên giới… Nhưng Dạ khúc lại là một tình yêu rất đời, rất trẻ, và cũng đầy cảm thông da diết. Nét tài hoa quen thuộc của Hoàng phủ Ngọc Tường, ta vẫn tìm thấy trong những hình ảnh trong sáng, hoặc mơ màng một vẻ đẹp liêu trai. Đó là một bông hoa xuân thì, là vành mi cong hờn dỗi, là mớ tơ xanh, vầng trăng nhân chứng,hay cả lời thề dâng hiến …

Bài thơ là một mối tình đã vỡ, với những dự cảm ngay từ ban đầu, khi chàng trai say đắm trong nụ hôn, anh đã biết “nỗi đau bắt đầu từ đấy” đã biết tình yêu luôn là nơi phát khởi của những nỗi đau. Nhưng đó là nỗi đau đớn ngọt ngào mà ít người chối từ được nó. Và vì lẽ đó, khi bài thơ kết thúc, nó không quá cay đắng, không quá xót xa, mà chỉ là một cảm giác luyến tiếc xa vắng, lặng lẽ….

Rất nhiều bạn trẻ đã chép trong những trang thơ của mình bài thơ Dạ Khúc, và tìm thấy ở đó sự đồng cảm, sẻ chia. Với một bài thơ, một nhà thơ, có còn cần gì hơn thế?

NGUYỄN THU THỦY

(Theo_TuoiTre)

Sửa bởi Hoabanglang - 03 Nov 2011 lúc 5:51am
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 7:33am
TRÈO LÊN CÂY BƯỞI HÁI HOA (Ca dao)
 
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
 
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay
 
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thủa nào ra?
--------------------------------------
 
 

Bài ca dao này đã được khá nhiều người phân tích. Phần lớn đều tập trung ở khía cạnh hình tượng và ngữ nghĩa. Những sự phân tích ấy ít khi khác nhau cho nên tôi không muốn nhắc lại làm gì. Tôi chỉ xin lưu ý đến khía cạnh ngữ âm, một khía cạnh ngờ như có khả năng tiết lộ khá nhiều điều thú vị, đặc biệt là cảm xúc của người con gái.

Bài ca dao được cấu trúc bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của người con trai và ngôn ngữ của người con gái. Bài ca dao giống như một vở kịch với hai lời đối thoại. Nhưng lời nói của người con trai không hẳn là một lời nói, có vẻ như là lời kể của ai đó, một nhân vật thứ ba, ở ngoài. Tại sao? Không có gì khó hiểu cả: người con trai đang ở trong một trạng thái bất ổn, phân thân, hồn một nơi mà thân xác một nơi. Nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: không hiểu anh loăng quăng, líu quíu trèo lên, trèo xuống để làm gì vậy? Thật ra, có gì lạ đâu. Nhớ, trong một bài ca dao khác, một người con gái cũng có cái dáng điệu loăng quăng líu quíu như thế: “Khăn thương nhớ ai / Khăn rơi xuống đất / Khăn thương nhớ ai / Khăn vắt lên vai...”. Sự loăng quăng líu quíu ấy chỉ là một cách để làm nguôi ngoai một tâm trạng bời bời, đồng thời cũng là một dấu hiệu cho thấy anh không còn tự chủ được mình nữa, anh bị thất lạc tâm hồn. Anh bàng hoàng. Anh thảng thốt. Anh chấn động trước sự việc người anh yêu thầm đi lấy chồng.

Ngắm nụ hoa tầm xuân xanh biếc, người con trai ngẩn ngơ: “Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay.” Một câu hỏi quan trọng mà người đọc thơ không thể không đặt ra: có quan hệ gì giữa nụ tầm xuân và việc người con gái lấy chồng, từ đó, dẫn đến niềm tiếc nuối, xót xa kia? Ngỡ như không có. Mà lại có. Ở cái vần ‘iếc’ trong chữ ‘biếc’ cuối một câu thơ vốn có thật nhiều nguyên âm mở. Nó như một sự khép lại. Nó mảnh. Nó sắc. Như một sợi khói bay lên, bay lên, xa hút: nó hình tượng hoá một sự mất mát, một cái gì vuột khỏi tầm tay.

Người con gái chắc cũng yêu bạn mình. Chị đã từng chờ đợi. Hoài công vì sự nhút nhát của anh. Chị vừa thông cảm lại vừa giận. Chị đay nghiến: “ba đồng... một mớ....”. Sở dĩ đay nghiến là vì còn yêu, còn thương. Nhưng dẫu sao thì cũng đã lỡ: chị đã có chồng. Người con gái ý thức rất rõ điều đó, cho nên, giọng chị cứng lại:

Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng...

Vần hai câu thơ rơi vào âm ‘ông’ sang sảng, ngân vang. Mạnh, rất mạnh. Dứt khoát, rất dứt khoát. Nhưng tôi ngờ là chị chỉ cao giọng để lừa dối chính chị. Bởi, nói chưa hết câu ấy, giọng chị đã trầm xuống, thổn thức:

....Như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra.

‘Câu’, ‘đâu’, ‘gỡ’, ‘thuở’: những chữ kết thúc bằng nguyên âm ‘u’ và ‘ơ’, nửa khép nửa nhẹ, bềnh bồng, rưng rưng, không chừng là một tiếng khóc.



Sửa bởi Hoangtube - 03 Nov 2011 lúc 8:29am
IP IP Logged
Hoabanglang
Groupie
Groupie


Gia nhập: 16 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 72
Trích dẫn Hoabanglang Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 8:18am
Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con mình.
 

Ca dao, ai cũng biết là hay. Tuy nhiên, có nhiều bài ca dao chúng ta đọc đi đọc lại cả trăm lần, mơ hồ cảm nhận là chúng hay, mà chả hiểu chúng hay ở chỗ nào cả. Chỉ đến một lúc nào đó...

Ví dụ bài ca dao rất quen thuộc này:

Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con mình.

Tôi thuộc bài ca dao này từ nhỏ. Nhưng chỉ gần đây, tôi mới bắt đầu loé thấy một ít cái hay của nó. Trước hết, chúng ta biết ngay bài ca dao này được làm theo thể lục bát. Bình thường, trong thơ lục bát, câu sáu chữ nằm trên câu tám chữ, lục rồi mới đến bát. Tuy nhiên, trong bài này có điểm lạ: là thơ lục bát, nhưng thay vì mở đầu bằng một câu lục thì nó lại mở đầu bằng một câu bát phá thể. Hệ quả là gì? Hệ quả là hơi thơ của câu thứ nhất dài hẳn ra. Dài và thiết tha vô hạn: tấm lòng của anh thanh niên mở ra bao la với những nguyên âm ‘o’ và nguyên âm ‘a’ rộng rãi và khép lại ở nguyên âm ‘i’ thầm thì trong chữ ‘mình’, một chữ được dùng để gọi người yêu, lặp lại đến hai lần ở câu thứ nhất. Thành ra ở đây, ngay câu thứ nhất, đã có một nghịch lý: ý câu thơ là tố cáo một sự dối trá (‘Mình nói dối ta...’) mà giọng thơ thì lại rất mực ngọt ngào và ấm áp: anh thanh niên biết mình bị lừa mà lại sẵn sàng chấp nhận bị lừa, sung sướng để chịu bị lừa.

Hay nhất trong bài ca dao vẫn là chữ ‘mình’. ‘Mình’ là cách xưng hô đầy âu yếm để gọi người mình yêu. Chữ ‘mình’ ấy lại lặp đến lại năm lần, mang hai ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: bốn lần đầu, ‘mình’ là em, chỉ người con gái, ngôi thứ hai số ít: ‘con mình’ là con của em, là ‘your child’. Đến lần thứ năm, cũng là ‘mình’, nhưng ‘mình’ ở đây lại là ta, là chúng ta, ngôi thứ nhất số nhiều, bao gồm cả người con trai lẫn người con gái: ‘con mình’ ở câu cuối là ‘our child’. Người thanh niên chấp nhận đứa con riêng của người yêu làm con của mình.

Bài thơ mở đầu bằng chữ ‘mình’, kết thức cũng bằng chữ ‘mình’. Từ chữ ‘mình’ đầu bài đến chữ ‘mình’ cuối bài, cách nhau chỉ có 28 từ mà thực ra là cả một quá trình chuyển hoá của mối quan hệ giữa người con trai và người con gái, là lịch sử của một mối tình vừa ngang trái lại vừa cảm động. Trước là hai, sau chỉ là một: người thanh niên chấp nhận người tình ngay cả khi bị chị đánh lừa.

Cuối cùng, vì lặp đi lặp lại nhiều lần từ ‘mình’, chứa đựng nhiều âm ‘m’ vốn là một phụ âm môi, nhẹ nhàng và ngọt ngào, bài ca dao mang đầy giọng tâm tình. Như một lời thủ thỉ, thầm thì. Hiếm có bài ca dao nào của Việt Nam mà có cái giọng ngọt và ấm đến như vậy.

(Sưu tầm)
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 8:32am
Em như cục cứt trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ.

Từ trước đến nay, bài ca dao này thường chỉ được đọc trong những lúc nói chuyện phiếm, như một bài ca dao trào lộng. Đọc cho vui, đọc để cười chơi, vậy thôi. Trong ý nghĩa ấy, bài ca dao được nhìn nhận như một cái gì khá tục và khá nhảm.

Tuy nhiên, theo tôi, không chừng đó là một bài ca dao hay.

Vấn đề là: nó hay ở chỗ nào?

Trước hết là nó bạo và nó mới. Nó không có một chút sáo ngữ nào cả. Dĩ nhiên, nói thế, chúng ta cần thận trọng. Không phải cứ hễ viết tục là thoát sáo. Từ trước đến nay, ở đâu cũng có những người khoái viết tục và viết bạo. Hiện nay, người ta lại càng viết tục và viết bạo. Nhưng chưa chắc đã hay. Dù sao, theo tôi, cái tục của câu ca dao này quả là hay thực. Nó không phải chỉ bạo để bạo, chỉ mới vì mới mà còn là một sự sáng tạo hầu vẽ nên một thế giới gần hiện thực hơn. Chúng ta hãy nhớ lại xã hội Việt Nam ngày xưa. Đâu phải ai cũng như là Thuý Kiều và Kim Trọng, cũng là “người quốc sắc, kẻ thiên tài”, là “trai anh hùng, gái thuyền quyên” cả. Trong xã hội thời xưa, đặc biệt là ở nông thôn, đại đa số các cặp tình nhân là những anh thợ cày và những chị đầy tớ. Anh đi làm mướn, chị đi ở đợ. Anh giống như Chí Phèo, chị giống như Thị Nở. Đời sống của họ cơ cực, tối tăm. Cho nên, không có gì lạ khi họ tự ví

Em như cục cứt ...
Anh như con chó ...

Cái tục của ngôn ngữ, cái thô của hình tượng ở đây lại là những cái thực và là một sự sáng tạo. Nó phá đổ những khuôn sáo cũ kỹ và giả tạo trong văn chương bác học. Nó vứt bỏ những son phấn những mũ mão đai hia để làm hiện hình những con người gần gũi với cuộc đời hằng ngày.

Hơn nữa, điều đáng cảm động ở đây là cặp tình nhân tự biết thân phận của người họ yêu và của chính họ chẳng ra gì. Em không ra gì. Mà anh thì cũng chẳng ra gì. Thế nhưng họ vẫn cứ yêu nhau, thương nhau. Chúng ta nhớ trong truyện ‘Chí Phèo’, Chí Phèo và Thị Nở cũng từng có lúc yêu nhau như tất cả mọi cặp tình nhân khác trên đời này. Và trên đời này, tất cả những con người bất hạnh khác, khi yêu nhau, thì cũng yêu nhau như tất cả những con người bình thường hay may mắn khác yêu nhau. Cách biểu hiện tình yêu có thể khác nhau nhưng những rung cảm những những xao xuyến những quyến luyến những ngây ngất trong lòng thì chắc chắn là không có gì khác nhau cả.

Ở giữa câu lục là hai từ bắt đầu bằng phụ âm ‘k’ (‘cục cứt’) mạnh, gắt, như một nỗi đau uất. Ở giữa câu bát là hai từ bắt đầu bằng phụ âm ‘ch’ (‘chó chạy’) mềm mại, ngân vang, như một nỗi buồn tênh. Câu ca dao, như thế, không phải chỉ tả mối tình giữa hai người khốn khó bất hạnh tự ví mình với những gì hèn mọn, thậm chí hèn hạ nhất trên mặt đất. Điều đáng đau xót, toát lên từ câu ca dao này là ở chỗ, mặc dù họ tự biết thân phận của mình, mặc dù họ hoàn toàn an phận, chấp nhận cái số kiếp làm phân, làm chó, họ vẫn không được gần nhau. Em vẫn lênh đênh giữa sông và anh vẫn chạy rông trên bờ. Anh vẫn không bắt được em, vẫn ở từ xa mà nhìn em một cách thèm thuồng. Giữa hai người vẫn có một khoảng cách vời vợi. Không cùng.

Bài ca dao, do đó, mặc dù có một số chữ có vẻ tục, có vẻ sỗ sàng lại chứa đựng một ý nghĩa hết sức thâm trầm, thể hiện được đúng số phận của hàng triệu triệu cặp thanh niên nam nữ nghèo khó, lam lũ và bất hạnh trong cuộc đời, nhất là cuộc đời ngày xưa.

IP IP Logged
Cuibap
Newbie
Newbie


Gia nhập: 01 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 3
Trích dẫn Cuibap Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 8:36am
Vân Tiên ngồi dưới gốc môn
Chờ cho trăng lặn bóp l... Nguyệt Nga

Xin nói ngay: tôi không có ý định khen đây là bài ca dao hay.

Không hay, nhưng nó không hẳn chỉ là một cách nói tục tĩu, nhảm nhí, và chắc chắn không phải là những câu vần vè vô nghĩa như lâu nay chúng ta vẫn thường tưởng.

Chỉ cần đặt câu hỏi: tại sao người ta lại không nói Kim Trọng hay Từ Hải hay Sở Khanh hay Mã Giám Sinh ‘ngồi dưới gốc môn’? Trả lời câu hỏi ấy, chúng ta sẽ thấy ngay tác giả của câu ca dao này chính là những độc giả của Nguyễn Đình Chiểu. Thế nhưng, ở đây lại nảy ra một câu hỏi khác: tại sao, trong truyện Lục Vân Tiên, người ta không chọn nhân vật nào khác, như Bùi Kiệm, một nhân vật được Nguyễn Đình Chiểu mô tả bằng những lời lẽ rất nặng nề, rất thích hợp với vai trò của kẻ ‘ngồi dưới gốc môn’: “Còn thằng Bùi Kiệm máu dê / Ngồi chề bê mặt như sề thịt trâu”? Tại sao?

Tại sao người ta lại chọn ngay chính Lục Vân Tiên, một nhân vật được xem là nghiêm trang, nghiêm túc, thậm chí nghiêm khắc, có thể xem như một khuôn mẫu về đạo đức, để bắt làm cái chuyện phàm phu tục tử ấy? Tại sao người ta lại chọn cái nhân vật không dám nhìn cả phụ nữ “Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái, ta là phận trai”, không dám lần khân lâu bên phụ nữ “Vân Tiên ngó lại rằng: Ừ / Làm thơ cho kịp chừ chừ chớ lâu” lại làm cái việc ‘công xúc tu sỉ’ ấy?

Tại sao? Chắc chắn là có lý do. Và lý do cũng không có gì khó hiểu: Chúng ta dễ dàng thấy được câu ca dao trên là một cách phản ứng chống lại thái độ đạo đức khắt khe, có phần giả tạo của Lục Vân Tiên, và phần nào cũng là của Nguyễn Đình Chiểu. Chế diễu thái độ đạo đức cứng nhắc ấy, dân chúng đã cho Lục Vân Tiên làm cái việc nhảm nhí là ‘ngồi dưới gốc môn, chờ cho trăng lặn...’ Trong cách nhìn này, câu ca dao trên có cùng trường nghĩa với một câu ca dao khác, từ lâu vẫn được xem là có ‘lập trường tiến bộ’ và ‘đứng đắn’ hơn:

Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Nói cách khác, tôi nghĩ, chúng ta hoàn toàn có lý để xem câu ‘Vân Tiên ngồi dưới gốc môn...’ như một cách đọc truyện Lục Vân Tiên. Đó là một lời phê bình cuốn Lục Vân Tiên. Trong vô số những lời phê bình truyện Lục Vân Tiên, không chừng cách phê bình này của dân gian là một cách phê bình hay. Hay và sắc sảo. Nó nhắm vào một trong những vấn đề trung tâm của tác phẩm là quan niệm đạo đức cũng như cách thức xây dựng nhân vật của cụ Đồ Chiểu nói chung.

Cũng vậy, chúng ta có thể đọc những câu:

Vân Tiên cõng mẹ chạy ra,
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ chạy vô.
Vân Tiên cõng mẹ chạy vô,
Đụng phải cái bồ, cõng mẹ chạy ra.
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra...

như một sự phê phán quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu: ông một mực đề cao những chuẩn mực đạo đức cổ điển và cổ kính như trung, hiếu, tiết, nghĩa với hy vọng là chúng sẽ giúp duy trì sự ổn định trong xã hội, tuy nhiên, một là, xã hội Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 19, trong sự cọ xát dữ dội với văn minh Tây phương và thế lực thực dân, cứ ngày một rạn nứt, vô phương hàn gắn; hai là, bản thân những chuẩn mực đạo đức tưởng đâu là chân lý vĩnh cửu ấy thật ra rất đáng ngờ, và với sự lung lay của Nho học, càng ngày càng đáng ngờ thêm. Con thuyền ‘chở đạo’ của Nguyễn Đình Chiểu, do đó, không phải chỉ trôi trên một dòng nước ngược mà còn, hơn nữa, trên thực tế, chỉ loay hoay mãi trong một vũng nước tù, không có lối thoát, hết ‘đụng’ cái này thì ‘đụng’ cái kia, cứ quanh quanh quẩn quẩn mãi trong sự tuyệt vọng và bế tắc. Nói cách khác, đó là những lý tưởng ở đường cùng. Biện pháp dựa trên nguyên tắc đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu đề xuất, hay đúng hơn, cổ vũ, đã không giải được bài toán của thời đại.

Theo tôi, chỉ với cách hiểu như thế, chúng ta mới giải thích được tại sao một nhân vật chính diện trong một tác phẩm nặng dụng tâm giáo huấn của một tác giả được xem là tiêu biểu nhất của dòng văn học giáo huấn lại biến thành - không phải một lần mà là nhiều lần, ít nhất là hai lần như vừa nêu - một nhân vật hài trong nền văn học dân gian.

Một ngày nào đó, nếu tôi đủ hứng thú và can đảm làm một tuyển tập phê bình về Nguyễn Đình Chiểu, có khi tôi sẽ chọn in những câu ca dao trên ngay ở trang đầu. Ở đâu đó, bên kia thế giới, đã xa lắm lắm những lời dạy lẩm cẩm kiểu ‘trai thời trung hiếu làm đầu / gái thời tiết hạnh làm câu trau mình’, đọc những lời phê bình thông minh và hóm hỉnh ấy, không chừng cụ Đồ sẽ cả cười.

(Sưu tầm)
Em chão cả nhà
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 9:49am

CÒN NHỚ KHÔNG EM

Em ơi!
Hoa cúc đã rực vàng trước ngõ
Lá lìa cành ngập đầy lối cỏ
Tẫm sương đêm làm nhòe nhoẹt bước chân trần
Anh chợt buồn
Chợt mong nhớ bâng khuâng
Lời hẹn ước em có còn ghi nhớ

Sương buổi sáng phả bên tai như hơi thở
Chợt ấm lòng như nghe bước chân em
Cũng như trong từng giấc ngủ hằng đêm
Tay ôm gối ngỡ hình hài yêu dấu
Anh nhớ em, hỏi lòng em có thấu
Biết bao giờ em trở lại em ơi!

Trọng thu rồi, lá càng lúc càng rơi
Ngày rất ngắn, đêm rất dài… khó ngủ
Gối chăn ơ hờ làm sao ấm đủ
Tiếng côn trùng cứ rả rích ngoài hiên
Anh vùi đầu cố dỗ giấc cô miên
Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ

14112006

------------------------------------------------

Bài thơ của anh Yên Sơn vẫn là điệp khúc nhớ mong muôn thuở, khởi đầu và kết thúc, theo phong cách riêng của anh, thường một ý, để trân trọng và quấn quýt cảm giác nằm trọn trong tựa đề. Anh không mở ra ở câu kết, hoặc đảo cả ngôn từ, thậm chí cả ý, như thơ Trần Lộc, nên thơ anh thật thà cảm giác, không nổi loạn hoặc điên cuồng tới mức như thơ của thi sĩ họ Trần. Anh chỉ kết nhè nhẹ: “Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “, chứ không mạnh một tí như: “Trong mộng mị lại cuồng điên mộng mị”. Đông Đức tiên sinh nghĩ cảm giác của anh Yên Sơn dao động từ bâng khuâng đến điên cuồng có lẽ dựa vào câu: “Chợt mong nhớ bâng khuâng” ở đoạn đầu, và câu kết: “Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “ này chăng? Trong thơ, theo cảm nhận riêng của tôi, không phải dùng từ ngữ “điên cuồng” là diễn tả được sự điên cuồng đâu, mà còn phải kết hợp nhiều yếu tố khác nữa. Giá mà anh Yên Sơn kết bằng câu đại khái như: “Trong mộng mị lại cuồng điên mộng mị”, chứ không dùng nhóm chữ: “điên cuồng nỗi nhớ “ thì may ra cảm nhận người đọc mạnh thêm hơn, bộc lộ được tâm trạng điên cuồng. Anh nhẹ nhàng nên cảm nhận của người đọc khi đọc câu cuối của bài thơ lại trở về với bâng khuâng, luyến tiếc và trân trọng của đoạn đầu. Thử bình qua bài thơ của anh Yên Sơn xem sao hỉ!

Đoạn thơ đầu của bài: “Còn nhớ không em”:
“Em ơi!
Hoa cúc đã rực vàng trước ngõ
Lá lìa cành ngập đầy lối cỏ
Tẫm sương đêm làm nhòe nhoẹt bước chân trần
Anh chợt buồn
Chợt mong nhớ bâng khuâng
Lời hẹn ước em có còn ghi nhớ”

Anh gieo liền hai câu cước vận trắc:
“Hoa cúc đã rực vàng trước ngõ
Lá lìa cành ngập đầy lối cỏ”

nghe man mác làm sao. Đoạn đầu bài thơ đã đưa người đọc vào cảm nhận của nỗi nhớ trong anh, pha lẫn niềm tiếc thương ray rức của lời hẹn ước ban đầu. Đoạn thơ nhẹ nhàng như một áng văn xuôi, pha cảnh, trộn tình, làm bồi hồi người đọc. Thật vậy, thử viết lại đoạn thơ này thành văn xuôi, chấm phết rành mạch, sẽ thấy ngay.

Đoạn kế tiếp:
“Sương buổi sáng phã bên tai như hơi thở
Chợt ấm lòng như nghe bước chân em
Cũng như trong từng giấc ngủ hằng đêm
Tay ôm gối ngỡ hình hài yêu dấu
Anh nhớ em, hỏi lòng em có thấu
Biết bao giờ em trở lại em ơi!”

cường độ nhớ nhung ray rức trong anh tăng dần với những hồi tưởng thật đẹp thật lưu luyến như “nghe bước chân em”, như “Tay ôm gối ngỡ hình hài yêu dấu”. Cảm giác dệt bằng hình ảnh và kỷ niệm tới mức ôm em vào lòng đến đê mê ngây ngất, rồi thảng thốt kêu lên:

“Anh nhớ em, hỏi lòng em có thấu
Biết bao giờ em trở lại em ơi!”

vừa biểu lộ sự điên cuồng, vừa ray rức, đau thương.

Chữ “phả” trong câu “Sương buổi sáng phả bên tai như hơi thở”, với nghĩa hà mạnh hơi ra từ miệng, miêu tả khí lạnh từ bên ngoài để nghe liêu trai hơn, và kết hợp hợp lý với hình ảnh sương lạnh buổi sáng hơn.

Rồi đoạn cuối:
“Trọng thu rồi, lá càng lúc càng rơi
Ngày rất ngắn, đêm rất dài …. khó ngủ
Gối chăn ơ hờ làm sao ấm đủ
Tiếng côn trùng cứ rả rích ngoài hiên
Anh vùi đầu cố dỗ giấc cô miên
Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “

Dẫn người đọc trở về với hình ảnh mùa Thu, lá càng lúc càng rơi, ngày ngắn, đêm dài, người mang tâm sự, thao thức khó ngủ. Câu thơ: “Trọng thu rồi, lá càng lúc càng rơi” đẹp từ hình ảnh đến ngôn từ và âm điệu. Chữ “trọng” kết hợp với chữ “Thu” để diễn tả mùa Thu đang chuyển mình vào giai đoạn cuối mùa, nghe thật mới lạ. Câu này liên kết với câu: “Ngày rất ngắn, đêm rất dài …. khó ngủ”, càng đẹp thêm hình ảnh và ảm đạm thêm cõi lòng. Rồi gối chân ơ hờ không đủ ấm, rồi tiếng côn trùng rả rích ngoài hiên, khiến anh như người quả phụ cố dỗ giấc ngủ cô đơn một mình được diễn tả trọn vẹn trong ba câu tiếp, trước khi anh kế tthúc bài thơ bằng câu: “Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “ với tình và cảnh được phân định rõ ràng. Không biết anh có ngủ được không, hay mộng mị đây chỉ là mộng mị của người đang trăn trở thao thức. Cho nên điên cuồng nỗi nhớ, theo tôi, không thể hiện hữu ở cái không gian như vậy với ý nghĩa biểu thị bởi từ ngữ như vậy, mặc dầu nỗi nhớ của nhà thơ vẫn canh cánh bên lòng. Điều này không phải cho rằng “điên cuồng nổi nhớ “ không hợp lý khi đứng với nhóm từ “Trong mộng mị”, mà tôi chỉ muốn nói: dù có đứng cạnh, mà thực ra rất hợp với lời thơ, thêm khí cho lời thơ, vẫn đưa nhà thơ trở về ôm ấp ve vuốt với ý chính trong tâm hồn mình đã đặt cả vào tựa bài: Còn nhớ không Em?

Rua anh Yên Sơn! Bài thơ hay lắm! Lâu quá không bình, chữ nghĩa, ý tưởng cũng… lình bình cả. Không lột tả hết nỗi lòng của anh, hoặc cảm nhận không đúng như cảm nhận của anh thì mong anh bỏ qua cho nhé! Mua vui vậy mà!

Thân
Nguyễn Xuân Đấu

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 9:59am
 

Lá Diêu Bông-Hoàng Cầm

 
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá
Chị chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãn bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
... ới Diêu Bông!...
 
Lá Diêu bông- hành trình kiếm tìm hạnh phúc


Trong tài sản thơ phú giầu có của ông, Hoàng Cầm có rất nhiều tác phẩm, ngay cả khi chưa công bố, đã được "ngôn truyền" trong công chúng. Và khi cất tiếng hoan ca, nó đủ sức lay động tới con tim mọi giai tầng. Lá Diêu bông là một bài thơ có số phận "hạnh phúc" như thế, cho dù nó nói về nỗi bất hạnh- hay hạnh phúc "ảo" của kiếp người.


Bài thơ dạng kể chuyện, ngắn gọn đến mức tiêu biểu cho sự hàm súc, hàm súc từ hình ảnh đến ngôn từ, khó có thể lược bớt đi một từ nào trong bài thơ.


Câu chuyện có hai nhân vật: Em - tác giả và Chị - đối tượng mối tình thơ ấu của ông. Người ta thường cho rằng bài thơ nói về mối tình đầu đơn phương mộng ảo của người nghệ sỹ tài ba. Nhiều người đã kiếm tìm để biết thêm về cuộc sống tình duyên của hai nguyên mẫu - tác giả và chị Vinh, khai thác sâu các tầng bậc chất lãng mạn trong con người và thơ Hoàng Cầm.


Nhưng thực ra, ngoài phần nổi của bài thơ đã là khá đẹp và hấp dẫn, còn có phần chìm, phần hồn- đó cũng chính là thông điệp của của bài thơ nữa. Cũng giống như người đi tìm trầm hương, cái lõi trầm bên trong mới thực sự quý giá.

Ta hãy quay lại bài thơ và cùng thưởng thức nó.


"Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều - cuống rạ"


Chỉ với ba câu, tác giả giới thiệu ngay với chúng ta nhân vật chính: Cô thiếu nữ dậy thì mặc váy (con gái Đình Bảng từ tuổi nào đó mới mặc váy), đang vu vơ đi tìm một cái gì đó phi vật thể giữa cuống rạ đồng chiều (có phiên bản chép là thẫn thờ, đúng ra phải là thẩn thơ, chữ thẫn thờ không hợp với tuổi thơ).


Đồng thời tác giả cũng đã tự giới thiệu về mình: Một chú nhi đồng. Một người trai mười tám chắc đã tả "em" nào là hai mắt lá răm, nào đôi môi hồng, nào làn thu thuỷ nét xuân sơn v.v. Còn chú bé nhi đồng chắc chắn chưa hề biết về những cái đó, chú chỉ nhìn thấy có mỗi cái váy (chắc vì ngang tầm mắt của chú!).


Tuổi Trẻ ngày nay ít người biết cửa võng là gì. Cửa võng- một thứ cửa làm bằng gỗ hoặc vải thêu, nhà giàu thì sơn son thếp vàng, hình chữ ∏, ba bên chạm trổ nhiều hoạ tiết, hoặc ghép thêm những chi tiết phụ nhằm tăng thêm sự cầu kỳ của cửa.


Váy buông chùng cửa võng nghĩa là hai thân váy thu sang hai bên rồi buông chùng xuống. Có thể Chị chưa hết tuổi lớn nên váy mặc còn tém sang hai bên như cửa võng.


"Chị bảo đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng"


Chắc hẳn có mấy chú bé nhằng nhẵng bám theo nên chị nói cho qua chuyện. Xin lưu ý chữ "bảo", không phải Chị nói mà là bảo, bảo là khi người trên nói với người dưới. Hơn nữa, Chị chỉ gọi là chồng, như một trò chơi đóng giả vợ chồng con cái của trẻ con chứ không như Trần Tiến "Em đố ai tìm được lá diêu bông, xin lấy làm chồng"


"Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày đâu phải lá diêu bông"


"Chau mày" không phải vì thằng bé dốt quá, làm gì có lá Diêu bông (lá Diêu bông là do nhà thơ sáng tạo ra, có thể hiểu là lá của một loài hoa phiêu diêu, không có thực, giống như hạnh phúc ở trên đời này vậy, cũng là một cái gì đó hư ảo). Hãy phân tích tiếp xem vì cái gì.


"Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông"


"Lắc đầu' là một động tác mạnh hơn "chau mày", cộng thêm động tác nhìn về phía xa xa, như trông đợi một cái gì đó.


"Ngày cưới chị, em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim"


Chữ "cười" ở đây cho ta lời giải thích vì sao chị "chau mày" và "lắc đầu" ở hai thời điểm trước đó. Nghiã là chị đã đi tìm, đã mong mỏi hạnh phúc lứa đôi. Khi làm đám cưới, chị cảm thấy hạnh phúc, mãn nguyện (có bản chép xe chỉ cắm trôn kim hay ấn trôn kim, nghe thô lỗ quá, ấm trôn kim mới đúng, nó nói lên người con gái đã sẵn sàng cho vai trò làm vợ, may vá thêu thùa, giữ gìn mái ấm gia đình).


"Chị ba con em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn"


Khi đã có ba con, lúc nghe nhắc lại lá Diêu bông, Chị có thái độ hoàn toàn thất vọng, không còn muốn nhìn thấy một sự thật phũ phàng: Làm gì có hạnh phúc lứa đôi trong cuộc đời Chị, cái hạnh phúc mà Chị mong mỏi khi nhẩn nhơ đi tìm trong đồng chiều cuống rạ trước đây?


Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
ới Diêu Bông!


Khổ cuối của bài thơ như một lời kết cho câu chuyện, như láy lại sự kiên trì ngây thơ suốt cả cuộc đời "Em" trong mối tình vô vọng với "Chị", như một lời than cho số phận bất hạnh của người đàn bà nói riêng và kiếp người nói chung.


Bài thơ thoạt tưởng chỉ là kể về câu chuyện tình liêu trai bất thành, mà thực ra nó là khúc ca xót xa, khóc cho người mình yêu chứ không phải là than thân trách phận. Nó triết lý về hành trình tìm kiếm hạnh phúc đời người. Và nó nói hộ nỗi lòng khát khao. Ai đọc, cũng thấy mình trong đó...


Hạnh phúc chỉ là ảo. Nhưng người ta vẫn không ngừng kiếm tìm...


Vì khát vọng vẫn mạnh hơn ảo vọng. Đó là cái lẽ, bài thơ Lá Diêu bông luôn được mọi lớp người yêu thích, nhập tâm suốt hơn nửa thế kỷ qua
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 10:10am
Thêm một
          thơ Trần Hoà Bình
 
Thêm một chiếc lá rụng
Thế là thành mùa thu
Thêm một tiếng chim gù
Thành ban mai tinh khiết...
Dĩ nhiên là tôi biết
Thêm một - lắm điều hay
Nhưng mà tôi vẫn biết
Thêm một- phiền toái thay!

Thêm một lời dại dột
Tức thì em bỏ đi
Nhưng thêm chút lầm lì
Thể nào em cũng khóc
Thêm một người thứ ba
Chuyện tình đâm dang dở
Cứ thêm một lời hứa
Lại một lần khả nghi!
Nhận thêm một thiệp cưới
Thấy mình lẻ loi hơn
Thêm một đêm trăng tròn
Lại thấy mình đang khuyết...
Dĩ nhiên là tôi biết
Thêm một - lăm điều hay...
( Thu 1985)


Lời bình: Thêm một : Tương sinh và tương khắc
“ Một chiếc lá vàng thật vàng thật đẹp rơi trúng đầu trên con đường quen thuộc...” đã làm cảm xúc của thi sĩ Trần Hoà Bình thăng hoa và cất thành lời thơ. Bài thơ “Thêm một” đã ra đời như thế đấy!
Cứ nhẹ nhàng thủ thỉ, Trần Hoà Bình đã gửi vào “Thêm một" những chiêm nghiệm giàu tính triết lý về đời sống. Ngay từ đầu, bài thơ đã mở ra những tiểu đối đặt cạnh nhau tạo nên những quan hệ tương sinh, tương khắc.
“Thêm một” tạo ra quan hệ tương sinh:
Thêm một chiếc lá rụng
Thế là thành mùa thu
Thêm một tiếng chim gù
Thành ban mai tinh khiết...
Chỉ “thêm một” chiếc lá rụng, thế là mùa thu đã ùa về, chỉ “thêm một” tiếng chim đầy ắp sự sống, một ban mai tinh khiết đã hiện ra. Thêm cái này thì sẽ xuất hiện cái kia, cái này làm mới cái kia, tạo ra điều tốt lành để cuộc sống đẹp hơn, ý nghĩa hơn, tuyệt vời hơn. Quả là: “Thêm một -lắm điều hay”
“Thêm một” tạo ra quan hệ tương khắc:
Thêm một người thứ ba
Chuyện tình đâm dang dở
Cứ thêm một lời hứa
Lại một lần khả nghi!
Nhận thêm một thiệp cưới
Thấy mình lẻ loi hơn
Thêm một đêm trăng tròn
Lại thấy mình đang khuyết...
“Thêm một” làm đầy cái này thì lại làm khuyết cái kia, làm thừa cái này thì lại làm thiếu cái khác. “Thêm một” tạo nên sự đối lập, đem lại bao điều trăn trở, day dứt, nghĩ suy. Quả là: “ Thêm một - phiền toái thay”.
“ Thơ là điệu hồn đi tìm hồn đồng điệu”. Điệu hồn của Trần Hoà Bình đã chạm tới muôn điệu hồn của bạn đọc ngay từ khi “Thêm môt” mới ra mắt bạn đọc lần đầu.
( Nguyễn Thị Mai)
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 10:15am
Biển - Lâm Thị Mĩ Dạ
 

Biển trời soi mắt nhau
Cho sao về với sóng
Biển có trời thêm rộng
Trời xanh cho biển xanh

Mặt trời lên đến đâu
Cũng lên từ phía biển
Nơi ánh sáng bắt đầu
Tỏa triệu vòng yêu mến

Biển ơi! Biển thẳm sâu
Dạt dào mà không nói
Biển ơi cho ta hỏi
Biển mặn từ bao giờ

Nhặt chi con ốc vàng
Sóng xô vào tận bãi
Những cái gì dễ dãi
Có bao giờ bền lâu

Biển chìm trong đêm thâu
Ðể chân trời lại rạng
Khát khao điều mới lạ
Ta đẩy thuyền ra khơi
Dù bão giông vất vả
Không quản gì biển ơi!


CẶP SONG HÀNH BIỂN TRỜI

Nhẹ nhàng mà thấm thía, cao rộng nhưng không xa vời, bài thơ Biển của Lâm Thị Mỹ Dạ đã gợi lên nhiều ý nghĩa triết lí sâu xa về cuộc đời. Nếu như Xuân Quỳnh mượn hình ảnh những con sóng nhỏ để nói lên cung bậc tình yêu thì dường như với Lâm Thị Mỹ Dạ không gian ấy mở rộng hơn với hai cặp hình ảnh biển trời. Nhà thơ đã khéo léo để hai hình ảnh này song song bên nhau, tôn thêm vẻ đẹp cho nhau: Biển có trời thêm rộng/ Trời xanh cho biển xanh. Biển cả luôn là đích đến , là nơi lưu giữ những điều bí mật để chúng ta khám phá tìm hiểu. Phải chăng, với tác giả biển cả chính là cuộc đời rộng lớn, là tấm gương lớn để mỗi người soi vào đấy và khao khát tìm hiểu. Hình ảnh thơ không mới nhưng ý tưởng mà tác giả đề cập đến thật thâm thúy và gần gũi với mỗi người.

(ST)
IP IP Logged
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.145 giây.