Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Tư tưởng Hồ Chí Minh
 Diễn đàn :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh :Tư tưởng Hồ Chí Minh
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Tác giả Nội dung
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 12 Jun 2015 lúc 7:43am
Nghi Tàm


Cây lá ở Nghi Tàm

Thon những bàn tay Phật

Ta nhìn vào sương tan

Thấy lòng mình trong vắt.



Tiếng thời gian khoan nhặt

Bên thềm rêu gọi hè

Không gian như phủ chúa

Hoa cười vang cung mê.



Ai đang dẫn ta về

Thành Thăng Long mây khói

Nền xưa và dấu xe...

Phải tiếng em vừa gọi?



Màu hoa chừng rất vội

Hồn ta cứ la đà

Chắp tay làm chiếc lá

Ngỡ mặt mình đơm hoa.



Mai Văn Phấn



Lời bình của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi:



Đắm mình giữa nước, mây, cây, hoa của làng cây cảnh Nghi Tàm. Quận Tây Hồ, Mai Văn Phấn như mê đi giữa cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời:



Cây lá ở Nghi Tàm

Thon những bàn tay Phật

Ta nhìn vào sương tan

Thấy lòng mình trong vắt.



Những biệt thự, những khác sạn, những ngô nà mứi xây với kiến trúc đa dạng, với mái ngói hôgf àm cho Nghi Tàm có dáng của cung Vua, phủ Chúa. Nhà thơ tưởng tượng và nghe vằng nhịp đi của thời gian:



Tiếng thời gian khoan nhặt

Bên thềm rêu gọi hè

Không gian như phủ chúa

Hoa cười vang cung mê.



Bài thơ ái tạo được cái không khí cổ xưa của lịch sử:



Ai đang dẫn ta về

Thành Thăng Long mây khói



Nhưng chỉ mấy giây thôi, nhà thơ đã trở về cùng hiện tại khi nghe Phải tiếng em vừa gọi?

Và cảm giác cuối cùng là nửa mê nửa tỉnh trong sự thăng hoa cả tâm hồn:



Màu hoa chừng rất vội

Hồn ta cứ la đà

Chắp tay làm chiếc lá

Ngỡ mặt mình đơm hoa.



Bài thơ nhẹ nhàng mà rung động.



N.B.V

(Báo Người Hà Nội số 3, ra ngày 15/01/2000)
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 22 Jun 2015 lúc 9:04am
NGÔI NHÀ TÂM hồn trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường
( Nhân đọc tập thơ " Người hái phù dung" của Hoàng Phủ Ngọc Tường")
 

Tập thơ"Người hái phù dung", chủ yếu là nỗi buồn, nỗi buồn viết hoa được nâng lên thành triết lý, có sức ám ảnh lớn về những điều muôn thưở, liên quan đến sự" hiện sinh"của tác giả, rộng ra, đến khắp cả kiếp người: Tình yêu, sự sống, cái chết...Tất cả đều được nhà thơ tư duy bằng kinh nghiệm buồn của chính mình thông qua sự đối chiếu với các phạm trù như: thời gian, tình yêu, cuộc sống...
Mở đầu tập" Người hái phù dung", tác giả đã khái quát một cách triết học về sự mỏng manh, ngắn ngủi của thời gian đời người qua sự đổi màu của loài hoa phù dung cánh trắng:
Anh hái cành phù dung trắng
Cho em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu ánh nắng
Buổi chiều chợt tím không hay
Từ tứ thơ độc đáo này, bằng việc quan sát, so sánh với các sự vật, hiện tượng chung quanh và sức liên tưởng độc đáo, tác giả đã triển khai và chứng minh thành mệnh đề triết học đầy sức ám ảnh về sự"xuẩn ngốc" của thời gian sống một đời người. Từ đó, rút ra ý nghĩa và khát vọng vĩnh cửu về sự hiện diện của những người con biết sống:
Dù năm dù tháng em ơi
Tim anh chỉ đập một đời
Nhưng trái tim mang vĩnh cửu
Trong từng hạt máu đỏ tươi
(Dù năm dù tháng)
Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn có ám ảnh phù du. Nó ăn sâu trong tiềm thức và kinh nghiệm sống của anh. Ðời người cũng như con phù du kia, sinh ra để yêu, để khát vọng, bừng sáng rồi chết? Khác chăng là con người hay buồn và mơ mộng, bởi lẽ,"Nỗi khát vọng vô cùng" đã"ném vào tận đáy" vẫn còn dang dở nhưng lòng tin thì cứ mãi sáng trong "Dù năm dù tháng", "Nói với bóng mình in trên vách", "Nơi tôi gửi bóng", "Ðêm qua"...là những khám phá nghệ thuật bất ngờ về sự sống, cái chết được tư duy bằng quy luật của thời gian và"ngôi nhà tâm hồn" của chính tác giả. Vì vậy, vừa triết lý vừa nhân bản.
Chính trên hệ quy chiếu này mà trong tình yêu, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có cách trầm tư ảo diệu. Anh quan niệm, với tình yêu không thể giản đơn bởi đó là hành vi và tiếng nói vi tế, kỳ lạ nhất của trái tim. Cho nên người nào đau khổ trong tình yêu mới có thể rút ra những triết lý cho riêng mình. Với tác giả, Tình yêu là một kinh nghiệm buồn:
Thôi em cảm tạ chờ mong
Ngày anh đi hái phù dung chưa về
Ðêm qua hương đã tàn mê
Mày ai còn dấu trăng thề như in
(Ðêm qua)
CÂU THƠ ĐẸP NHƯ LỜI KINH SÁM HỐI. Ở MỘT NƠI XA NÀO ĐÓ, CÓ MỘT NGƯỜI CON GÁI CHỜ ĐỢI THỦY CHUNG, còn anh thì mãi mê với một loài hoa bất chợt đổi thay. Nhưng em có biết đâu, nơi này, trong những giấc mơ hồng, bóng em vẫn"chờn chợ" bên anh: này môi, này mắt, này trăng.
Chính bằng kinh nghiệm ấy mà thơ tình Hoàng Phủ Ngọc Tường tuy buồn nhưng vời vợi, mang vẻ đẹp lung linh, tình sử. Nỗi đau, hạnh phúc trên kỷ niệm giận hờn của anh cũng lạ và xúc động biết bao.
Trên kỷ niệm giận hờn
Có ngôi sao chiều tím
Là môi em cúi xuống
Trên mình anh vết thương
(Bài ca sao)
"Dạ khúc"là một tình sử buồn diễn tả bằng ngôn ngữ bi kịch. Khi nụ hôn nồng nàn vừa trao cũng là khi nỗi đau đọan trường."Ngọt ngào như trái nho tươi"bắt đầu từ đấy. Và còn đây những điệp khúc ngân vang, kéo dài như những lời tự vấn trong đêm.
Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh
Ðể có một buổi chiều, trong căn phòng đầy bóng tối- "Anh lặng thầm như là cái bóng- Hoa tàn một mình mà em không hay"
Nếu trước đây Tản Ðà tự nói về mình một cách trần trụi của một con người thích tận hưởng và xê dịch thì ngày nay Hòang Phủ Ngọc Tường lại nói về mình một cách tâm linh, quặn thắt qua nét vẽ bằng thơ.
Vẽ tôi một nửa mặt người
Nửa kia mê muội của thời hoang sơ
Vẽ tôi một tiếng mơ hồ
Bàn tay em vỗ bên bờ hư không
Vẽ tôi một đóa bông hồng
Tàn phai từ bữa em cầm trên tay
Vẽ tôi một nét môi cười
Một dòng nước mắt, một đời phù du.
( Vẽ tôi)
Ngay cả nơi ở của mình, anh cũng có cách liên tưởng bất ngờ độc đáo:" Nhà tôi ở phố Ðạm Tiên". Nơi đó, có mùi hương của cỏ hoa kết thành nỗi sầu huyền thoại. và có một chàng lãng tử lang thang mơ mộng, rồi nằm ngủ dưới trăng mơ thấy một nàng tiên nữ từ chốn vĩnh hằng nhìn mình nhưng không bao giờ hạnh ngộ. Giấc mơ ấy đã thành hiện thực cô đơn, chỉ còn lại thi nhân ,mang nỗi buồn thượng cổ qua hình ảnh hao gầy của ngọn nến hồng đang tan từng giọt giấc mơ.
Tôi còn ngọn nến hao gầy
Chảy như nước mắt từ ngày sơ sinh
Tôi xin em chút lòng thành
Cài lên một phiến u tình làm hoa.
( Ðịa chỉ buồn)
Với thơ, anh quan niệm: Mỗi người chỉ thực sự là chính mình trong căn nhà của mình. Thơ cũng vậy. Thơ cần phải trở về căn- nhà- ở-đời của nó là nỗi buồn. Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn.
Hoàng Phủ Ngọc Tường hay lo âu về cái chết ( thực chất cũng là nỗi buồn) trong tương quan với sự sống. Ðó cũng chính là kiểu tư duy triết học. Bằng vốn triết học, văn học, sử học của mình, anh đã triết luận về những vấn đề trên một cách sâu sắc.
Khi chia tay người yêu, mang nỗi buồn thân phận nên hoa của hồn thi sĩ cũng tàn trong phút chốc, không còn ai để khóc và "Anh chết một mình trong đêm qua".
" Nói với bóng mình trên vách" cũng là cách nghĩ suy về cái chết - sự kết thúc một vòng "luân hồi ", nhưng vẫn mang theo hơi ấm của sự sống, của khát vọng đời người.
Món quà tặng sau cùng đời dành cho anh
Là nắm đất ủ hơi bàn tay bè bạn
Sẽ gởi theo anh.
Trước cái vô thường của tạo hóa, sự sống vẫn cao hơn cái chết
Ôi! Cuộc sống đáng quý biết bao nhiêu!
Nhưng rồi, đời người ai cũng về với cỏ, điều đáng sợ nhất là khi từ giã cõi đời "Không còn lại gì trong những người khác". Ðó là thơ có ích, thơ cuộc đời.
Nỗi buồn trong thơ Hòang Phủ Ngọc Tường mang màu sắc Ðông Phương, gần gũi với con người hiện đại, được thể hiện bằng ngôn ngữ trữ tình, trang nhã. Vì vậy, sức bật của câu chữ, nét vang ngân, huyền ảo của âm nhạc, hội họa cứ hiện lên một cách quyến rũ.
Thiên nhiên trong thơ anh luôn xuất hiện như một niềm ân huệ.. Nỗi buồn không tìm đến thiên nhiên, để bằng ngôn ngữ của thiên nhiên mà thanh lọc và tiếp tục mơ mộng thì nỗi buồn sẽ không đủ sức đi tiếp cuộc hành trình đau khổ của nó. Hoàng Phủ Ngọc Tường ý thức sâu sắc về điều này. Anh biết ơn từ cánh phù dung đến sương mù, cỏ lau; từ cánh hồng, bông violet nhỏ đến hoa sầu đông là những niềm vui mong manh, bé nhỏ dễ bị bỏ rơi.Ðồng thời anh cũng biết ơn những cái vĩnh hằng cao rộng như bầu trời, vầng trăng, ngọn lửa, vì sao... là những vẻ đẹp hướng thượng bền vững, rạo rực có khả năng thanh lọc và làm cao sang nỗi buồn.
Thưa rằng người đã quên tôi
Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may
Khát vọng tự do của anh cũng khác. Ðó là khi đã đi kết cuộc kiếm tìm và thực hiện lời nguyền dâng hiến.
Tôi trở về tìm trong hương cỏ
Dịu dàng một chút bình yên
Tự do nhiều khi là im lặng
Ðể đừng nghe ai gọi tên
( Tôi biết nơi kia có một chỗ ngồi)
Hòang Phủ Ngọc Tường luôn quan niệm cái hiện sinh của con người là chính ở vốn ký ức trong tâm hồn mình qua từng niềm vui, nỗi buồn gắn với những hoàn cảnh và quan hệ cụ thể; trong đó có sự tự do lực chọn của chính mình. Cho nên triết lý về nỗi buồn trong thơ anh mang nỗi đau và khát vọng đời thường, đánh thức ở người đọc những đồng cảm, suy tư thâm trầm sâu sắc. Với Hòang Phủ Ngọc Tường, tự do của thơ, cũng chính là của bản thân anh là nỗi buồn. Thơ anh, vì vậy đầy tính triết lý, hấp dẫn người đọc ở bề sâu, ở sự trang trọng, quý phái. Thể thơ lục bát, năm chữ, sáu chữ, tám chữ... mà anh ưu tiên thể hiện là một sự chọn lựa. Nó phù hợp với nội tâm và ý tưởng mà anh cần diễn đạt. Chất trữ tình truyền thống, chất hoài niệm, chất thâm trầm, cũng như chất hoành tráng trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là đặc điểm của các thể thơ trên. Riêng lục bát, anh đã đem lại sự hấp dẫn mới ở chất quý phái mà hiện đại của nó. Trong thơ anh đã phát huy tính nhạc một cách triệt để qua việc sử dụng thể loại, để từ đó , anh thể hiện tài gieo vần và tạo tiết tấu, phù hợp với chát thơ buồn của anh.
Với tập Người hái phù dung, Hoàng Phủ Ngọc Tường tự tạo cho mình một danh hiệu mới: Nhà thơ của Nỗi buồn.
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 10 Jul 2015 lúc 8:35am
NGUYỄN QUANG SÁNG



Rượu



Trong mâm rượu

Nếu nói xấu người vắng mặt

Rượu sẽ thành thuốc độc.



Trong mâm rượu

Nhắc nhớ người vắng mặt

Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh

Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương.



Lời bình của Nguyễn Vũ Tiềm:



Chỉ biết Nguyễn Quang Sáng qua văn xuôi, tôi ngạc nhiên thấy ông viết bài thơ trên trong tập thơ giấy dó bán đấu giá trong ngày thơ Việt Nam lần thứ 5 của Ban Thơ Đương đại Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh (thu được 286 triệu đồng làm quà tặng trẻ em nhiễm chất độc da cam). Tôi hỏi ông về bài thơ này, ông nói:

- Tôi làm thơ từ lâu, và vẫn thường làm, nhưng thơ tôi dở, không dám đưa đăng báo. Rượu là một trong những bài thơ dở đó của tôi. Tôi cho là từ chất liệu đời sống trở thành văn chương giống như gạo nấu thành cơm và rượu. Văn xuôi của chúng tôi là cơm, thơ là rượu. Thơ là tinh chất của cuộc đời.

Thơ và rượu, cổ kim đông tây đã đề cập đến nhiều nhưng so sánh như trên vẫn là những ý mới mẻ lý thú.

Trong bài Rượu, Nguyễn Quang Sáng đặt vấn đề về giao tiếp ứng xử bên mâm rượu, qua đó mỗi người tự thể hiện mình một cách rõ ràng nhất: hay dở, đúng sai, cao thượng hay thấp hèn… bộc lộ hết mình khó có gì che đậy.

Trong mâm rượu

Nếu nói xấu người vắng mặt

Rượu sẽ thành thuốc độc.

Chữ “thuốc độc” có nặng quá không? Hơi bị cực đoan chăng? Để dễ chấp nhận, thử thay bằng chữ nào đó nhẹ hơn một chút, chẳng hạn như “cay đắng”? Thì chính rượu đã phảng phất vị đó rồi. Suy ngẫm kỹ thì thấy đây là câu nhắc nhở nghiêm khắc cần thiết đối với tất cả mọi người. “Rượu vào lời ra”, lời hay và lời dở, nói xấu người vắng mặt, nói sau lưng là tự bộc lộ cái chất tiểu nhân hèn mọn của bản thân mình. Từ đó rượu lại dễ dẫn dắt ta tới những động thái bất thường khác, dễ đưa ta vượt qua cái ngưỡng từ tốt qua xấu từ sang ra hèn, mất nhân cách thậm chí thành thú tính chỉ trong một thoáng chốc! Trong thực tế thiếu gì những chuyện đau lòng do rượu gây nên. Như thế không nguy hiểm chết người sao? Chữ “thuốc độc” có tác dụng như ly rượu mạnh, trở thành từ rất đắc địa. Văn chương giống như rượu vậy, không chấp nhận sự nửa vời, trung tính, pha loãng.

Trong mâm rượu

Nhắc nhớ người vắng mặt…

Chưa phải là ngợi khen hay nói tốt, chỉ cần nhắc nhớ thôi cũng đã quý lắm rồi. Chữ “nhắc nhớ” rất gợi, dễ rung lên những sợi ân tình từ thẳm sâu tiềm thức.

Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh

Cũng một ly rượu mà sự khác biệt ghê gớm quá: thuốc độc giết người với nước thánh cứu người. Đoạn trên nghiêm khắc nhắc nhở, đoạn dưới thủ thỉ ân tình chứa chan nhân ái:

Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương.

Là “nước thánh”, trong đó nỗi nhớ thương hòa vào ly rượu thấm đẫm tâm hồn ta. Nguyễn Quang Sáng trải nghiệm nhiều, ông đúc kết tình người, lẽ đời trong một bài thơ ngắn: từ đây lại đặt ra vấn đề không nhỏ trong cuộc sống, có thể khái quát thành một phạm trù văn hóa, đó là văn hóa trong tiệc rượu, gọi một cách dân dã kiểu Nam Bộ là văn hóa nhậu.

Giống như bản tính thẳng thắn bộc trực của tác giả, bài thơ không hoa lá màu mè đi thẳng vào cốt lõi nhân văn, đụng đến điều gan ruột trong giao tiếp ứng xử, giản dị mà thấm thía.
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 10 Jul 2015 lúc 8:36am
TRẦN QUANG QUÝ



Lời



Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác

Chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ vựng

chiếc lưỡi trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp

chiếc lưỡi bị hành hình trong một tuyên ngôn.



Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác

cám dỗ xui nhiều điều dại dột

đời cũng dạy ta không thể uốn cong

dù phần thắng nhiều khi thuộc những bầy cơ hội

Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên

Trên chiếc lưỡi có vị đắng sự thật

Trên chiễc lưỡi có vị ngọt môi em

Trên chiếc lưỡi có lời thề nước mắt



Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác

dẫu những lời em làm ta mềm lòng

dẫu tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi.

Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác

một chiếc lưỡi mang điều bí mật

và điều này chỉ người biết mà thôi.



Lời bình của Nguyễn Vũ Tiềm:



Mới đọc câu mở đầu đã ngỡ ngàng, “Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Ai mà chả nói bằng chính chiếc lưỡi của mình? Nhà thơ đưa ra một câu rất hiển nhiên, có vẻ như “ai mà chả biết”! Câu này thừa chăng? Trong bài thơ có một câu thừa thì chỉ có mà vứt cả bài đi thôi! Nhưng sao đọc câu thơ này ta lại giật mình? Có cái gì bí ẩn ở đây? Ngẫm lại xem, có khi nào ta nói, mà lời phát ra, có khi cả giọng nói không phải thật sự của ta mà là của người nảo người nào ấy? Quả có không ít lần như thế! Cái người nào ấy sai khiến ta, xúi giục ta, làm cho ta không còn là ta nữa qua lời nói. Thì ra nhà thơ viết cái điều “hiển nhiên” để kích thích, để gợi ra cái điều không bình thường kia ở trong mỗi chúng ta. Và cái điều “mượn lưỡi của người khác” ấy có lẽ chả hay ho gì.

Và để làm cái việc nói bằng chiếc lưỡi của chính mình, tưởng như nhẹ nhàng thôi lại hóa ra không phải đơn giản: “Chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ vựng/ chiếc lưỡi trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp/ chiếc lưỡi bị hành hình trong một tuyên ngôn”. Trời ơi, khó khăn nguy hiểm đến thế kia ư? Lại còn bị hành hình nữa! Ôi thương cho cái lưỡi quá!

“Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Tác giả nhắc lại và phát triển thêm, cái lưỡi từng bị “cám dỗ xui nhiều điều dại dột”. Nói bằng chiếc lưỡi của người khác thì tệ hại thế đấy, nó có thể đổi trắng thay đen, từ ngay thành gian, từ tốt thành xấu, từ thiện thành ác… chỉ còn là khoảng cách rất nhỏ, rất mong manh! Nhưng may mắn thay, có ông thày là cuộc đời từng dạy cho: “không thể uốn cong” Và vì thế mình có thể bị thất bại, bị đau đớn ê chề: “dù phần thắng nhiều khi thuộc những bầy cơ hội”. Phải, ta từng chứng kiến không ít cái cảnh “tiểu nhân đắc trí”.

Nhà thơ nhắc:“Trên chiếc lưỡi có lời tổ tiên”, nên nó thiêng liêng lắm! Và “có vị đắng của sự thật, có vị ngọt môi em, có lời thề nước mắt” nên nó mến thương, cao quý lắm!

Cho nên phải giữ cho lưỡi của mình lúc nào cũng thật sự là của mình, không uốn lưỡi vì người khác cả khi “dẫu những lời em làm ta mềm lòng/ dẫu tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi”.

Ôi, cái lưỡi, tưởng đơn giản mà thực ra vô cùng bí ẩn, “lưỡi không xương lắm điều lắt léo” câu này để nói về mình hay về người khác đều được cả, nhưng trước hết phải cảnh giác với chính mình “một chiếc lưỡi mang điều bí mật…”

“Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác”! Mới đọc tưởng câu thơ thừa, vô dụng, nhưng chạm vào sâu thẳm làm ta giật mình, mới thấy là vô cùng hệ trọng. Có phải vì thế mà tác giả nhắc đến bốn lần, đủ biết cái điều tưởng hiển nhiên đơn giản mà khó nhọc, mà hệ trọng biết chừng nào.

“dẫu tình yêu em từng làm ta cứng lưỡi” là câu thơ hay nhất trong bài.

Dùng cái phi lý hình thức để đạt cái hợp lý nội dung, bài thơ làm ta suy ngẫm về nhiều lẽ ở đời đặc biệt là mỗi khi ta sử dụng đến cái lưỡi của mình để phát ngôn.
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 10 Jul 2015 lúc 8:37am
LY HOÀNG LY          



Mở nút áo



Chầm chậm, mở một chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm, mở hai chiếc nút áo

Chầm chậm, mở ba chiếc nút áo
Soi vào gương, chầm chậm, mở chiếc
nút thứ tư

Chầm chậm, mở năm chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm, mở nút thứ sáu...

Tìm hoài không thấy nút thứ sáu
Soi vào gương, cố tìm nút thứ sáu,
nút thứ bảy, thứ tám, thứ chín...

Mở mãi, muốn mở mãi
Mở bầu trời đêm trong l**g ngực

Nhưng áo chỉ năm nút
Nhưng đêm là vô tận

Mở mãi, muốn mở mãi
Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm

Mở mãi, muốn mở mãi
Bầu ngực này căng đêm
Soi vào gương
Bất lực và khóc

Trong vô vàn những giọt nước mắt
Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng.

                                             

Lời bình Nguyễn Vũ Tiềm:



Thiếu nữ đứng soi gương, lần lượt mở nút áo của mình. Một-hai-ba-bốn-năm… những thao tác bình thường quen thuộc ai ai cũng từng làm hàng ngày, không có gì đặc biệt, đến mức chả có gì đáng nói. Ở khúc 1-2-3, tác giả lại dềnh dàng, rời rạc. Nhưng mở hết năm chiếc nút rồi, sao lại đòi mở nút thứ sáu, nút này không có. Mấu chốt của vấn đề bắt đầu từ cái nút tưởng tượng này.

Đã biết chắc nút thứ sáu không có, sao lại đòi mở nút bảy-tám-chín? “Mở mãi, muốn mở mãi/ Mở bầu trời đêm trong l**g ngực”. À, tác giả muốn mở cái vùng tối bí ẩn của bản thể mình. Nếu vậy thì không phải bảy-tám-chín nút đâu, mà còn nhiều nữa, thăm thẳm vô cùng, mênh mang vô định… Có tâm hồn, tư tưởng, có ý thức, tiềm thức, linh cảm, có nỗi niềm, có khát vọng, buồn vui, hạnh phúc, khổ đau, có thiện, có ác… Tác giả không nói ra những điều này, nhưng tình huống, hoàn cảnh gợi ra khiến người đọc suy ngẫm mà hiển hiện bao nhiêu điều cụ thể và mơ hồ.

Trở lại những cái nút áo vật thể, vẫn chỉ có năm nút, làm sao đây? “Áo chỉ năm nút/ Nhưng đêm là vô tận” tương phản giữa hữu hạn và vô cùng, tình cảnh chơi vơi chới với trước cái vô cùng thật đáng thương.

“Mở mãi, muốn mở mãi/ Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm”. Phần trắng hiện thực thì quá ư là hạn chế, cô bé hy vọng ở cái phần đêm siêu thực cơ. Phần siêu thực mới có thể giải đáp được những câu hỏi rất thực tế và phức tạp của cuộc đời. Nhưng không được!

Hai khúc cuối: Vẫn tiếp tục“Mở mãi, muốn mở mãi/ Bầu ngực này căng đêm”. Bản thể chứa đựng nhiều lắm, bí mật lắm, vẫn là thân thể thịt da mình sao mà mênh mang, xa lạ? Khao khát muốn tìm hiểu khám phá mà đành bó tay. “Bất lực và khóc”.

Khóc thật sự, khóc như mưa: “trong vô vàn những giọt nước mắt”… Đau khổ chăng? Ân hận điều gì chăng? Xót xa vì mình không hiểu được mình chăng? Muốn phơi bày tâm can nỗi niềm gì chăng? Tình cảm tha thiết chân thành. Cũng may, mãi đến phút cuối này, bầu trời đêm trong ngực mới cảm thông: “Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng”. Giọt đêm tưởng tượng thôi, nhưng hiển hiện trước mắt ta lại rất thật. Rất thật nhưng ta cũng không thể nói đó là giọt gì. Thôi thì giọt gì cũng được, mỗi người cảm nhận một cách. Bài thơ đầy tâm trạng nhưng không rõ tâm trạng gì, lý do gì, khát khao gì, hay đang bế tắc điều gì?…

Hình tượng thiếu nữ trước gương mở dần từng chiếc nút áo rất đẹp và ấn tượng. Nhưng không phải để chiêm ngưỡng vẻ đẹp tòa thiên nhiên tuyệt tác ấy, mà tác giả gợi cho ta một cuộc thăm dò, khám phá bản thể rất lý thú và kỳ bí. Năm chiếc nút áo gợi cho người đọc nghĩ đến cái cơ chế đóng kín mà tác giả muốn cởi bỏ, nhưng chỉ cởi được phần hữu hình, còn phần vô hình vô hạn thì bất lực.

Muốn giải thoát, con người chỉ gặp đớn đau.

Tứ thơ được thiết kế chặt chẽ, mượn cái thật (năm nút áo) để nói cái không thật (bầu trời đêm trong ngực); mượn cái không thật (bầu trời đêm…) để nói cái rất thật (tâm trạng, tự vấn, cuộc tìm tòi khám phá chính mình, muốn giãi bày, giải thoát…). Cả bài thơ không có chữ nào mới nhưng cách diễn đạt tự nhiên mới mẻ, bao hàm ý mới lạ và sâu sắc...


IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 29 Aug 2015 lúc 5:18am


Dạ khúc
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời người

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối dâng đầy
Anh lặng thầm như là chiếc bóng
Hoa tàn một mình em không hay

(Theo bản in trong tập thơ Người hái phù dung-NXB Hội Nhà văn- 1992)

Bình thơ: Có lẽ những ai đã từng đọc những trang tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng sẽ không thất vọng khi đọc thơ tình của ông. Rất trong sáng, dịu nhẹ, bâng khuâng...

Dạ khúc là một câu chuyện tình được kể bằng những vần thơ. Câu chuyện có anh, có em, có khởi đầu, và có kết thúc. Lần đầu tiên đọc bài thơ này, tôi đã ngạc nhiên, không hiểu vì đâu một bài thơ đầy ắp những buổi chiều như thế, lại có tên là Dạ khúc.

Cái tên của một bài thơ bao giờ cũng thâu tóm cái thần, cái cốt lõi nhất của bài thơ đó. Với tôi, Dạ khúc là khúc đêm, là một khoảng lặng tĩnh tại, hoang vắng. Thế mà một bài thơ với sáu khổ thơ, sáu buổi chiều, sáu khúc ca hoài niệm lại có tên Dạ khúc !

Nhưng khi đọc trở lại bài thơ tôi đã nhận ra rằng quả thực nhà thơ đã vô cùng hữu ý khi đặt cho bài thơ cái tên đó. Sáu khổ thơ bắt đầu bằng sáu sự tìm kiếm “có buổi chiều nào như chiều …”, với thời gian kéo dần từ quá khứ xa đến hiện tại. Sự lặp lại đó đã tạo cho âm hưởng chung của bài thơ, đó là sự - lần - tìm - kỉ - niệm. Cũng vì sự lần tìm kỉ niệm ấy mà người đọc biết, câu chuyện tình đó đang qua hoặc đã qua rồi.

Sự vận động mãnh liệt của dòng thời gian qua các khổ thơ cũng là sự vận động mãnh liệt của cảm giác con người trong tình yêu, từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc. Anh và em đã cùng đi qua những buổi chiều, từ buổi chiều xưa, đến buổi chiều qua, và những buổi chiều chỉ có thể gọi tên bằng kỉ niệm “buổi chiều người bỏ vui chơi” “buổi chiều mộng mị vây quanh” “buổi chiều hình như chưa nguôi” , những buổi chiều hạnh phúc, chỉ cho đến một buổi chiều nay, buổi chiều mà lần đầu tiên bóng tối đã đến.

Câu thơ “căn phòng anh bóng tối dâng đầy” là một câu thơ vô cùng tinh tế. Không phải là bóng tối phủ ngập căn phòng mà là bóng tối đang dâng lên, đang xâm lấn dần những khoảng không ánh sáng, thứ ánh sáng của hạnh phúc tình yêu mà con người vẫn chìm đắm. Trong căn phòng ấy , vẫn có anh và em, nhưng hai người dường như đã bị đẩy lùi về hai đầu thế giới mà sợi dây kết nối duy nhất là tình yêu đã không còn.

Hình ảnh “hoa tàn” vô cùng gợi cảm, bởi lẽ chỉ cần hình ảnh đó mà người đọc cảm nhận có một tình yêu vừa đã qua đi, vừa đã tàn lụi. Bông hoa tàn lụi trong bóng tối, như sự kết thúc lặng lẽ của một mối tình. Và người đọc biết rằng sẽ không còn có thể tìm thấy một buổi chiều nào nữa, chỉ còn là bóng tối miên viễn, buồn rầu…. Phải chăng vì lẽ đó, bài thơ có tên “dạ khúc”?

Từ trước đến nay, nhớ đến thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi hay nhớ đến những nàng tiên “quì ôm cát bụi khóc òa như mưa”, nhớ tới những miền không gian giao thoa giữa trần gian và tiên giới… Nhưng Dạ khúc lại là một tình yêu rất đời, rất trẻ, và cũng đầy cảm thông da diết. Nét tài hoa quen thuộc của Hoàng phủ Ngọc Tường, ta vẫn tìm thấy trong những hình ảnh trong sáng, hoặc mơ màng một vẻ đẹp liêu trai. Đó là một bông hoa xuân thì, là vành mi cong hờn dỗi, là mớ tơ xanh, vầng trăng nhân chứng,hay cả lời thề dâng hiến …

Bài thơ là một mối tình đã vỡ, với những dự cảm ngay từ ban đầu, khi chàng trai say đắm trong nụ hôn, anh đã biết “nỗi đau bắt đầu từ đấy” đã biết tình yêu luôn là nơi phát khởi của những nỗi đau. Nhưng đó là nỗi đau đớn ngọt ngào mà ít người chối từ được nó. Và vì lẽ đó, khi bài thơ kết thúc, nó không quá cay đắng, không quá xót xa, mà chỉ là một cảm giác luyến tiếc xa vắng, lặng lẽ….

Rất nhiều bạn trẻ đã chép trong những trang thơ của mình bài thơ Dạ Khúc, và tìm thấy ở đó sự đồng cảm, sẻ chia. Với một bài thơ, một nhà thơ, có còn cần gì hơn thế?

NGUYỄN THU THỦY Việt Báo (Theo_Tuổi Trẻ )
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 07 Nov 2015 lúc 12:18pm
Gắn hình xếp chữ

Lê Văn Lộc – Hội VHNT Yên Bái

Cô vẽ bầu trời xanh
Em gắn con chuồn ớt
Vuốt cong đôi cánh mỏng
Trời trong thêm mênh mông…

Cô vẽ thêm dòng sông
Em gắn con thuyền giấy
Thuyền êm êm gối bãi
Đôi bờ canh giấc say.

Nào cô vẽ đám mây
Em gắn ngay cò trắng
Đang rẽ mây tìm nắng
Thả ánh vàng bay bay…

Kìa cô vẽ ban mai
Chân trời hình rẻ quạt
Em gắn luôn chú vạc
Trở về đón bình minh.

Lung linh cờ Tổ quốc
Em xếp chữ Bác Hồ
Trời cao xanh muôn thuở
Giữ sắc cờ thắm tươi!

(Rút trong tập: “Bầu trời qua đôi cánh chuồn,
NXB Hội nhà văn, năm 2007)



Đôi lời của Trần Vân Hạc:

Bài thơ như một bức tranh với gam màu sáng tươi vui, trong đó cô vẽ “bầu trời xanh”, “dòng sông”, “Đám mây”, “ban mai”, “cờ Tổ quốc”, gợi mở cả một chân trời mới về quê hương, đất nước. Còn em học sinh nhỏ lại “gắn” vào đó những ước mơ của tuổi thần tiên. Đây không chỉ là những trò chơi “Gắn hình xếp chữ” mà còn là một trong những bài học làm người đầu tiên cô giáo đã trao cho em bằng tất cả tấm lòng để em có thể cảm nhận được thế giới quanh em ngọt ngào và vô cùng đáng yêu.

Những cặp từ: “Cô vẽ” – “em gắn” được sử dụng nhịp nhàng, làm cho cô và trò trở thành một cặp đôi rất tự nhiên, ăn ý, mỗi lần cô “vẽ” là một lần gợi mở và mỗi lần em “gắn” là một lần reo vui trong sự tìm tòi khám phá cuộc sống. Cô luôn dịu dàng hướng dẫn cho em trên con đường đời, sự tăng tiến từ những hình ảnh của thiên nhiên vô tư, trò chơi đã dẫn trẻ thơ đến với lá quốc kỳ thiêng liêng và hình ảnh vị lãnh tụ kính yêu. Tình yêu quê hương đất nước, những ước mơ khát vọng bay bổng hòa quyện với những tình cảm công dân trong sáng, mẫu mực được tác giả thể hiện một cách nhuần nhị, tự nhiên. Bài học giáo dục lớn lao thấm vào lòng trẻ thơ một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, đồng hành trong suốt cuộc đời, ăm ắp những sắc màu và những âm thanh trong trẻo của sự khám phá. Bài thơ khép lại mà hình ảnh bầu trời hòa bình cao xanh muôn thuở và sắc đỏ thắm của lá quốc kỳ để lại những ấn tượng thật là đẹp.

Tác giả đã thực sự sống với đời sống tình cảm và nhận thức của trẻ thơ, bởi vậy bài thơ chuyển tải những điều lớn lao của mục đích dạy và học nhưng không hề nặng nề khiên cưỡng. Nhà thơ Lê Văn Lộc là một nhà giáo yêu nghề mến trẻ đã xuất bản nhiều tập thơ dành cho thiếu nhi và “Gắn hình xếp chữ” là một trong nhiều bài thơ hay viết cho thiếu nhi của anh.

Trần Vân Hạc
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 26 Mar 2016 lúc 10:12am
MẶT TRỜI VÀ HẠT SƯƠNG

Mặt trời quá vĩ đại
Hạt sương quá nhỏ nhoi

Mặt trời không mang nổi
Dù một hạt sương rơi

Nhưng trong hạt sương ấy
Có bao nhiêu mặt trời ?

(Thơ Trần Mạnh Hảo)



Lời bình Bùi Kim Anh

Bài thơ ngắn tưởng như khó có thể ngắn hơn, dẫu thơ có nhiều bài 2 câu. Hình tượng thơ đơn giản, chỉ có hai thôi – mặt trời và giọt sương. Nghệ thuật thơ gần gũi, quen thuộc – so sánh và đối lập. Ngôn từ - giản dị và dễ hiểu
Hai câu thơ đầu đưa ra hai hình ảnh thường gặp và trong thơ hình như quá mòn. Chỉ có điều chẳng bao giờ trong ý nghĩ chúng ta để nó sóng đôi với nhau mà thấy được sự tương phản. Trần Mạnh Hảo đã có ý tưởng độc đáo đó. Có thể rõ khi đọc thơ phải nhấn ở chữ quá. Từ quá dùng để miêu tả cũng là tỏ thái độ khi miêu tả. Quá là từ chỉ mức đo trên mức thường. Quá – không có giới hạn. Quá là chỉ số vô cùng. Ca ngợi ư? Thán phục ư? Xuýt xoa ư? Hay chỉ đơn thuần nhận xét?
Tứ thơ nằm ở đây, ở hai cặp câu thơ tiếp nối.

Mặt trời không mang nổi
Dù một hạt sương rơi

Nhưng trong hạt sương ấy
Có bao nhiêu mặt trời ?

Nhận xét được nâng lên tinh tế hơn và cũng bất ngờ. Đọc bài thơ này không phải đi đến với cái hay, cái lấp lánh hay cái sáng tạo của ngôn từ. Từ ngữ có cần vận dụng biện pháp tu từ nghệ thuật gì đâu. Chữ nghĩa có gì khó hiểu đâu. Bài thơ để cảm nhận. Bài thơ hay ở các tầng ý nghĩa khiến cho nhận ra rồi lại tiếp nghĩ suy Bài thơ dội vào suy tư, lắng trong suy tư. Một nghĩa cụ thể nhận thấy ngay từ hình ảnh mà chẳng cần phân tách. Một nghĩa suy ra rộng hơn chút về sức mang, sức chứa và hiểu thế nào là sự vĩ đại. Nghĩa của vĩ đại – nhỏ nhoi trong trường hợp này thay đổi. Vĩ đại – nhỏ nhoi nhiều khi chỉ đơn thuần là lớn - bé của hình thể. Trần Mạnh Hảo nhìn sự vĩ đại ở góc độ khác. Diễn tả kiểu thơ mà tầm nghĩ của triết học, của chiêm nghiệm nhiều trong cuộc sống. Đâu chỉ là cách nhìn, cách nghĩ mà còn cả cách đánh giá sự việc, con người. Đâu chỉ là cách nhìn của ta mà còn là của chính mặt trời, của giọt sương về vĩ đại và nhỏ nhoi ấy của bản thân. Tưởng như so sánh giản đơn mà thực là sâu sắc. Văn chương là vậy, thơ là vậy. Không thể hời hợt trên bề mặt con chữ. Nghĩa của từ ngữ nằm trong tầng đất sâu xa. Cứ vặn vẹo, cứ lắp giáp ngôn từ mà quên mất tâm linh. Định nghĩa nhiều về thơ mà hiểu cho đúng về thơ không dễ
Người đọc chợt ngâm ngợi trước một phát hiện, khác đi là một đúc rút từ thực tế. Hai vật thể để tách rời thì là vậy, để cạnh nhau thì tưởng vậy mà không vậy. Nghĩa của từ quá trong hai câu đầu đến cuối bài như được giải mã. Quá vĩ đại theo nghĩa cao quý hay đơn thuần chỉ là to lớn? Quá nhỏ nhoi có phải chỉ dừng ở kích cỡ bé nhỏ hay không? Hình ảnh tự nhiên, cứ như quan sát rồi miêu tả thôi mà đâu dừng ở đó. Làm sao có thể cho mình là quá khi đời này rộng lớn biết bao nhiêu.

Có những bài thơ thế đấy – chỉ đọc để cảm mà không cần nhiều lời. Bài thơ ngắn như một định nghĩa mà khiến ta phải suy nghĩ bao điều. Nghĩ gì trong cuộc đời này? Hai hình ảnh đối lập của tự nhiên mặt trời và giọt sương đưa đến những suy ngẫm cho mỗi người dù ở ví trí nào, công việc nào trong xã hội. Mỗi ngày có bao tấm gương trong sáng, đẹp đẽ, có bao mảnh đời vất vả, khó nhọc chưa được nâng đỡ, không được cưu mang . Mặt trời không biết nhưng con người hiểu trong hạt sương ấy/ Có bao nhiêu mặt trời. Mặt trời không biết nhưng con người biết nơi mình sinh ra, những gì mình có và chưa có, những gì mình cần chịu ơn và biết ơn. Giọt sương không biết nhưng con người hiểu không phải cái gì cũng dành cho mình, không thể trông chờ bởi lẽ cái quá vĩ đại ấy không mang nổi/ Dù một hạt sương rơi. Thờ ơ ư? Không thể thờ ơ. Chua xót ư? Cũng thật là chua xót. Bài thơ kiệm lời mà ý tứ sâu xa, hình ảnh bày ra đấy phải có lòng mới thấu.

B.K.A
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 26 Mar 2016 lúc 10:17am

"Tôi yêu em”- tuyệt tác thơ tình của Puskin nhìn từ nguyên bản - Nguyễn Đình Minh


Puskin là nhà thơ Nga vĩ đại, trong di sản đồ sộ của ông để lại, người đọc Việt Nam, nhất là tuổi học trò đều biết bài thơ “Tôi yêu Em” qua bản dịch của Thuý Toàn và bản dịch này được dạy trong chương trình ngữ văn 11 trung học phổ thông. Tuy nhiên, không có bản dịch nào là hoàn thiện tuyệt đối và vì thế, người dạy đôi khi gán cho tác phẩm những điều mà nó vốn không có.

Để góp phần điều chỉnh lại cho chính xác hơn (trong thời gian chờ đợi có một nghiên cứu chính xác tuyệt đối) , chúng tôi (NĐM) xin đề cập quan điểm và cách nhìn riêng về văn bản này .

1- Nguyên bản tiếng Nga và một số bản dịch

Nguyên bản tiếng Nga

Я вас любил

Александр Сергеевич Пушкин

Я вас любил: любовь еще, быть может,
В душе моей угасла не совсем;
Но пусть она вас больше не тревожит;
Я не хочу печалить вас ничем.
Я вас любил безмолвно, безнадежно,
То робостью, то ревностью томим;
Я вас любил так искренно, так нежно,
Как дай вам Бог любимой быть другим.

Dịch nghĩa:

Tôi yêu Em: tình yêu, có lẽ,
Trong lòng tôi vẫn chưa tắt hẳn;
Nhưng thôi, chớ để nó quấy rầy Em thêm nữa.
Tôi không muốn làm em buồn vì bất cứ điều gì.
Tôi yêu Em lặng thầm, vô vọng,
Bị giày vò khi vì rụt rè, khi bởi ghen tuông.
Tôi yêu em chân thành đến mức, dịu dàng đến mức,
Lạy Trời mà Em mà được ai khác yêu như vậy.

Bản dịch của Thúy Toàn:

TÔI YÊU EM

A.S.Pushkin



Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai
Nhưng không để em bận lòng thêm nữa
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài

Tôi yêu em âm thầm, không hy vọng
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen
Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em



Bản dịch của NGUYỄN ĐỨC QUYẾT-Truởng khoa Nga

trường ĐHSP TPHCM-( dịch năm 1977)



Я вac любил - Tôi đã yêu em



Yêu nàng một thủa nàng ơi
Tiếng lòng chưa tắt trong tôi - yêu nàng....
Vô duyên, mỏng phận - tôi đành,
Nguyện không làm tội làm tình nàng đâu.
Âm thầm vô vọng bấy lâu,
Rụt rè đã khổ lại đau ghen hờn,
Tôi yêu, êm dịu, tận lòng
Cầu mong nàng được tấm chồng như tôi....



Bản dịch của HOÀNG SỸ BỐI

- giảng viên khoa Nga, ĐHSP TPHCM



Tôi đã yêu em

Tôi đã yêu em tình yêu có lẽ
Mãi vẫn còn chưa tắt trong tim,
Nhưng chẳng muốn em buồn thoáng nhẹ
Mong tình tôi đừng bận mãi lòng em.

Tôi đã yêu em âm thầm tuyệt vọng
Lúc ngượng ngùng khi ghen tức buồn đau
Tôi đã yêu em thiêt tha chân thành và cầu mong hi vọng
Người yêu em cũng thế mai sau.



2- Một số suy nghĩ về nội dung và nghệ thuật của thi phẩm.



A.S.Pushkin là “mặt trời của thi ca Nga”- (Lecmantop). Tượng đài của Pushkin đặt ở nhiều nơi trên đất nước Nga hùng vĩ, nhưng tượng đài thi ca của ông chói sáng trong lòng các dân tộc trên thế giới. Sinh năm 1799 và mất năm 1837 với 37 năm sinh tồn trên cõi đời nhưng vầng “Mặt trời” ấy đã để lại cho dân tộc Nga nói riêng và các dân tộc trên thế giới nói chung số lượng tác phẩm khổng lồ : Rutxtan và Lutmina, Con đầm phích, Người tù Káp ca... và trên 800 bài thơ tình khác. Trong sổ tay của thế hệ thanh niên Việt vào những thập kỷ 60-80 của thế kỷ trước ai cũng có bài thơ nổi tiếng của ông “Я вас любил” -Tôi yêu em.

Thời ấy, thi phẩm của Pushkin được đọc và hiểu qua bản dịch tiếng Việt của Thuý Toàn. Cần phải đánh giá công tâm rằng đó là bản dịch hay. Bởi dịch văn đã khó, dịch thơ còn khó gấp trăm lần. Và rằng, bản dịch luôn được coi như một “đồng sáng tác”. Bây giờ nhìn nhận lại từ nguyên bản, chúng ta cần có cách đánh giá khác, những định hướng hiểu và cảm nhận khác theo văn bản “Chính chủ” của nó để “Trả lại tên” cho những thông tin của con tim nhà thơ, tránh sự lầm lẫn giữa Thuý Toàn và Pushkin.

Dưới đây, bài viết xin đề cập tới một số ý nhỏ cảm nhận được.

Về tiêu đề của bài thơ (Tôi yêu em), ở đây tác giả dùng động từ “yêu” ở thì quá khứ (Tôi đã yêu em), do vậy, nếu hiểu là tôi yêu em (Thì hiện tại), có nghĩa là đang yêu, thì nội dung lại có sự biến chuyển khác. Đây là câu chuyện đã xảy ra, tưởng mờ chìm, tưởng bị vùi lấp tận đáy sâu nhưng nó vẫn hiện hữu. Hiểu như vậy mới biết sức sống của cuộc tình trong trái tim nhà thơ luôn thường trực hiện diện. Và nó gào réo miên man như sóng vỗ bờ, như ngọn lửa âm ỉ cháy. Nó biến tấu trong mọi cảm xúc nghĩ về em để hành hạ thể xác và tâm hồn thi sỹ.

Có tám câu thơ nhưng 3 lần điệp ngữ “tôi yêu em” được nhắc tới, 3 lần từ em xuất hiện trong những câu không chứa ngữ “Tôi yêu em”, trở thành một giai điệu vang lên day dứt khôn nguôi. Sáu trong tám câu thơ chứa từ “Em”, như một thủ pháp miêu tả hình ảnh em choáng ngợp hiện hữu trong mọi miền không gian thời gian của trái tim nhà thơ. Đây cũng chính là cách nói, thủ pháp nghệ thuật của một số nhà thơ nước ngoài nổi tiếng như Ta-Go, Lecmantop, V.Huygo... Nó khác với thơ Việt và thơ Trung Quốc phải làm sao cố gắng tránh lặp từ. Những từ ngữ được lặp lại như vô thức ấy để nói một sự thật : “Em” ở khắp cả mọi nơi trong cái thế giới mà anh sống và anh chỉ nhìn thấy có em trong ngọn lửa tình không nguôi tắt của trái tim anh.

Một điều khác lạ là bài thơ tuyệt nhiên không có hình ảnh thơ nào được dùng. Hình ảnh “Ngọn lửa” là hình ảnh của dịch giả dùng khi ông liên tưởng tới động từ “Tắt” trong tiếng Nga. Nhưng thực tế động từ “tắt” ở bài thơ là biẻu thị sự chấm dứt. Như vậy, liên tưởng trước đó có lửa và giờ lụi tàn là không logic.

Toàn bộ bài thơ có 47 từ (Tiếng Nga), trong đó có tới 14 đại từ, 10 động từ và 5 danh từ trừu tượng dược dùng. Cắt nghĩa về sự “khô khan” này ở một nhà thơ vốn xuất thân từ quý tộc, và là người làm giàu ngôn ngữ Nga, người có hàng trăm bài thơ tình lung linh hình ảnh sắc màu khác, theo cách nào? Chỉ có thể hiểu đó là một dụng ý nghệ thuật; Hay chính cái tình yêu chân thành của ông đạt đến đỉnh, nên quay về cái “nhân bản” nhất để dùng lời bình dị, lời của đời sống không cầu kỳ hoa mỹ để nói cái thật nhất của lòng mình. Ở đây dường như tâm hồn ông đã viết và bàn tay nhà thơ chỉ làm công việc thư ký chép lại mà thôi.

Làm điều này, Pushkin đã tự bước qua cái ranh giới coi “Nghệ thuật như là một thủ pháp” (Shklovsky), để phản ánh được thực tế: cuộc sống đã là nghệ thuật. Chúng ta đã thấy rõ, những gì giản đơn nhất trong ngôn ngữ nghệ thật là nghệ thuật cao nhất mà Ca dao Việt là một ví dụ điển hình.

Nghệ thật nổi lên rõ nét nhất và được sử dụng đắc địa trong thi phẩm là hệ thống tu từ về dấu câu và cú pháp. Pushkin đã dùng hệ thống dấu để tạo nên những câu thơ ngập ngừng, khác biệt với mạch trôi chảy trong bản dịch. Đó chính là cách diễn đạt bước đi của tâm trạng thi nhân ở mọi cung bậc : khi hồi tưởng, lúc bày tỏ, có lúc tự soi lòng mình... tuy nhiên dù ở cung bậc nào thì đối tượng hội tụ lại để khơi gợi thành tâm trạng ấy vẫn là “Em”.

Yêu đến vậy, nhưng vẫn chỉ là tình yêu một phía, để cuối cùng cũng đành hạ bút thốt lên :

Lạy Trời mà Em mà được ai khác yêu như vậy.

Câu thơ kết trong bản dịch là:

Cầu em được người tình như tôi đã yêu em

Bản thân câu kết này đã làm tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực của người Việt. Chúng ta đã bình luận (chỉ nhờ vào câu kết này) rằng: đây là một tình yêu cao thượng. Yêu đấy và thất bại cay đắng đấy, nhưng thi sĩ vẫn cầu mong một hạnh phúc vô bờ đến với người tình. Có nhiều người còn nói quá lên đó là viêc làm có một không hai ở thế giới loài người. Thày Thành Thế Thái Bình (Nguyên Hiệu trưởng ĐHSP Hà Nội 2), người đã làm luận văn tại Liên Xô cũ với đề tài “Pushkin, người lấy của đời it trả cho đời nhiều”. Đã kể câu chuyện khi thày so sánh câu trong bản dịch với ca dao cổ sau này được nghệ nhân dân gian phổ vào trổ hát quan họ:

Người đi em dặn người rằng

Đâu hơn người kết , đâu bằng người đợi em.

Một giáo sư Nga đã sửng sốt mà rằng: cha ông các bạn từ ngàn xưa đã có một tình yêu cao thượng hơn cả người Nga. Bởi nếu lấy ý của bản dịch mà so với ca dao thì đã thấy sự khác biệt. Nhân vật ở lại nhắn người đi hai thông tin, : Nếu “hơn” thì “kết” và “bằng” thì “đợi”. Rõ ràng là một tình yêu cao thượng, không níu kéo, không yếu đuối, không thù hận, mà luôn để cho người tình tự do lựa chọn lấy điều tốt đẹp hơn và mình chấp nhận hy sinh thua thiệt. Nội dung thông tin này lại nói ở thì “Tương lai”, nó chưa xảy ra, nhưng vẫn được bộc lộ trước rõ ràng như vậy.

Tuy nhiên, đó là vấn đề của bản dịch.Và phân tích bình luận như vậy về bài thơ so với nội dung tự có ở nguyên bản là một sai lầm.

Câu cuối của bài thơ được hiểu theo đúng ý nguyên tác là là "Có lạy Trời em [mới lại] được ai khác yêu chân thành, nâng niu đến thế". Đây dường như là một câu chốt lại vừa để khẳng định tình yêu của mình , vừa là thông điệp gửi đến người tình rằng, trên thế gian này anh là ngtười duy nhất yêu em đến vậy và đang hiện hữu.

Như vậy khi đánh giá “Tôi yêu em” điểm thống nhất “sum tụ” được ở chỗ đây là một tuyệt tác thơ tình. Sự tuyệt tác của nó ở chỗ nào, thì mỗi người lý giải một nhẽ. Đương nhiên như phân tích trên chúng ta thấy rất rõ vẻ đẹp của thi phẩm thể hiện ở những yếu tố nghệ thuật độc đáo. Bài thơ không hình ảnh, ngôn từ trong suốt như tấm tình trong suốt của nhà thơ vậy.

Nhưng không chỉ thế, việc sử dụng tu từ cú pháp ở trình độ bậc thày và cách dùng từ “Em”, điệp ngữ “Tôi yêu em” như một giai điệu ngân day dứt suốt thi phẩm đã diễn tả được những cung bậc tình yêu của thi sỹ. Nhà thơ yêu thật và nói thật xúc cảm của trái tim yêu, bằng một thứ nghệ thuật ngôn ngữ sáng trong và mộc mạc chân tình như cuộc sống vậy. Sự thành công và cái cao thượng của Pushkin không phải ở câu thơ cuối cùng mà chính là ở chỗ ông dám nói và diễn tả bằng hình thức độc đáo cái tình yêu đẹp theo đúng nghĩa dù nó chỉ tồn tại ở một phía bằng một trái tim nhân bản./.

NĐM
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 26 Mar 2016 lúc 10:28am
Nguyễn Trãi


Cây Chuối

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu? Gượng mở xem.



Rút trong “Quốc âm thi tập”



Một bài thơ của Nguyễn Trãi: "Ba tiêu" - Lời bình của Xuân Diệu


Trong 254 bài thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có một bài thơ chỉ 4 câu thôi mà tôi trải qua 24 năm, mới dám tự bảo mình rằng gọi là hiểu. Đó là bài Ba tiêu.

"Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem".

Từ 1956, lúc bắt đầu phát hiện được trở lại Quốc âm thi tập, đọc bài ức Trai tiên sinh viết về cây chuối này, tôi đã rất yêu thích. Tuy nhiên, sức đọc, trình độ của tôi cũng chỉ mới thấy được cái hay của hai câu 3, 4.

Người đời trước viết trên lụa: tàu lá chuối non kia màu xanh ngọc thạch, còn cuộn lại như lụa cuốn, như bức thư quý báu trang nhã viết trên lụa bạch, đó là một bức thư tình e ấp, vậy mời trang phong lưu là gió, hãy mở thư xem... Dẫn trong bài bình luận, hoặc đọc lên trong các cuộc nói chuyện, tôi đều chỉ nhấn mạnh vào hai câu dưới, coi hai câu trên hầu như là không có. Bởi theo tôi nhận thấy, hai câu dưới có hình tượng sáng tạo hơn cả, đập mạnh vào tâm trí hơn cả. Và bởi, tôi không hiểu hai câu trên, coi là những câu thơ thường. Mà thường tình, người ta không hiểu một điều gì, thì cứ lờ đi, là tiện nhất.

Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng "diệu" hơn cả. Bản Trần Văn Giáp phiên âm là mầu và chú thích: - "Cứ theo chữ Nôm viết ở nguyên bản, cho nên phiên âm là Mầu, nhưng đáng lẽ là mùi mới đúng. Mùi thâu đêm là mùi hương suốt đêm, chú như vậy, thì "buồng lạ" tức là buồng chuối chín thơm ngào ngạt. Bản Đào Duy Anh chú: - "Buồng lạ": chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: chuối chín thơm ngát suốt cả đêm". Hai lời chú thích đều hiểu buồng là buồng chuối. Và tôi cũng hiểu như thế, chứ không có cách nào khác.

Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, và bỗng nhận thấy một điều, nhưng tôi thấy không tiện nói ra. Vì không tiện nói ra, cho nên tôi không dám dây dưa đưa dẫn hai câu đầu. Bởi, nếu giới thiệu cả 4 câu, thì tôi bắt buộc phải góp ý kiến rằng: đây là hai bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải một bài, bởi hai câu đầu nói tới "buồng lạ", buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non. Mà khi cây chuối đã trổ ra buồng, thậm chí buồng chuối chín, thì nó không còn có thể ra lá non, thậm chí lá non cuốn lại, được nữa. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu, chứ không phải một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi. Như vậy thì ức Trai làm thơ như thế hay sao? Và tôi không dám "phát hiện" sự này, bởi tôi thấy sự này vượt quá sức suy nghĩ, quá khả năng hiểu của tôi, cho nên tôi đã không dẫn, không nói hết về hai câu thơ trên.

Đến hôm nay, tôi rất cảm ơn người bạn của tôi, vắng nhau mấy năm, mới đến chơi nhà tôi, và nhân trò chuyện về thơ Nguyễn Trãi, anh ấy bảo với tôi: Buồng chuối đâu. Anh lại mách cho tôi: Trong thơ chữ Hán của ức Trai, có bài Lãnh noãn tịch, nghĩa là "Chiếu lạnh ấm" (được in trong phần "tồn nghi" của quyển Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nhà xuất bản Văn hóa, 1962, anh không tán thành quyển Nguyễn Trãi toàn tập in lần thứ II đã bỏ hẳn bài này), bài thơ nói về chiếu, về nệm, có hai câu 3, 4 (dịch nghĩa): Lông mềm, nệm êm, mùi thơm lọt vào xương - Da nhuyễn chiếu lạnh, hơi mát ngấm vào da thịt, tác giả của những câu này có chí khí anh hùng, có tài năng kinh bang tế thế, có tâm huyết, và còn có xương, có thịt, có da, có một sự xúc cảm rất da thịt, biết hưởng rất tinh vi bằng cái thân thể của mình, mùa đông khi nằm trên một tấm nệm lông êm thì "như hương thấm tận vô xương tủy", mùa hè chỉ lăn mình trên một chiếc chiếu cói mát rượi, thì khoan khoái như tắm trong hồ ngọc ở cung tiên, sau khi câu 5 của bài thơ đã đến nói "Viện trúc ngày dài khi nắng đã lui", thì tiếp đến câu 6:

"Hồng lâu dạ vĩnh giác xuân tư"

nghĩa là: "Lầu hồng đêm thâu cảm thấy có một mùa xuân riêng mình", tức là thơ chữ Hán cùng với một tứ với thơ chữ nôm "Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm" đó.

Anh bạn tôi mách cho tôi như vậy, thì tôi bỗng "ồ" lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải "phát hiện" hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán, của Nguyễn Trãi làm, tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc. Trước hết, trong câu mở đầu:

"Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm".

ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết "lại tốt thêm"? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng đối với chủ từ của câu chẳng qua theo đà, theo thế, theo thời, mà thêm tốt, còn "tốt lại thêm" tức là: Vốn cái tốt đã là bản chất rồi. Nay từ lúc bén hơi xuân thì tốt thêm. Sau khi tôi hiểu được toàn diện, đúng đắn rồi, thì hóa ra cái thần của bài thơ không ở hai câu 3, 4, một hình tượng, mà ở câu 2, một xúc cảm:

"Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm"

Đầy phòng, đầy buồng khuê, là một sự "lạ", mầu đây, theo ý tôi, là nhiệm mầu, mầu nhiệm thâu đêm, đồng thời và cũng cần hiểu mầu như ở trong "đất mầu". Ôi! Nếu là thơ ức Trai nói về sự rung động đầu tiên của giai nhân vào buổi đương thời thì việc ấy có giảm gì uy tín của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi? Bao nhiêu nhà thơ lớn trước Nguyễn Trãi ở á Đông, ở trên thế giới đã nói và nói một cách trang nhã, sao lại muốn rằng Nguyễn Trãi đừng nói, dù là nói một cách trang nhã? Sự thật, là Nguyễn Trãi đã nói rồi, câu thơ chữ Hãn dạ vĩnh giác xuân tư, "đêm thâu cảm thấy một xuân riêng" bênh vực cho câu thơ chữ nôm "đầy buồng lạ mầu thâu đêm", và chữ "lạ" với chữ "mầu" làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng. Hơn năm trăm năm sau, hàng cháu chắt của nhà thơ ức Trai là nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) cũng có một tứ thơ gần với ức Trai, và đã gộp cả chữ "lạ" trong thơ chữ Nôm và chữ "xuân" trong thơ chữ Hán của ức Trai: "Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua - Mùa xuân tới, mà không ai biết cả".

Nếu hiểu buồng là buồng chuối như tôi đã hiểu, và như hai nhà phiên âm Trần Văn Giáp và Đào Duy Anh đã hiểu, thì bài thơ lại tách ra làm hai bài mâu thuẫn nhau một cách vô lý - điều mà nhà thơ ức Trai quyết không làm.

Và khi đã vào được chữ "diệu" của bài thơ, khi đã hiểu đây là mùa xuân riêng xuất hiện, thì hai câu cuối đến dính liền một cách thoải mái vào hai câu trên. Hiểu là một ngôi thứ ba, một "nhà văn" nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân, và mời hộ gió mở bức thư lá chuối non thì cũng được, tuy nhiên, tưởng tượng một người thứ ba ở bên ngoài đến làm mối lái trung gian mời hộ gió mở thư tình của lá, thì vai trò của người mời hộ này cũng khá vô duyên, đã là thư tình thì chính người viết, người cuộn người gửi lấy bằng cách này hay cách khác cho đối tượng của mình đọc, cho nên tôi muốn hiểu cả bài tứ tuyệt là một ngôi thứ nhất, phía sau cây ba tiêu là một giai nhân tự nói lấy cho mình, đầy phòng ngào ngạt thâu đêm, chẳng lẽ lại người nào cũng ngoài phòng nói điều ấy, phải là người ở trong phòng tự nói:

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín.

bức thư tình của lá: em còn e ấp cuộn lại, còn kín, một cái ghen tuông phóng nhụy, ngôi thứ hai là "gió", là đối tượng: anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu? Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng:

Gió nơi đâu gượng mở xem

Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, một bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình mình cho người bạn đọc.



(trích "Kỷ niệm sáu trăm năm ngày sinh Nguyễn Trãi")
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 28 Mar 2016 lúc 9:09am

Lời bình "Thơ tình sinh viên" của Phạm Ngọc Thái

          

Vào dịp cuối năm 2015 vừa qua - Nhà thơ Phạm Ngọc Thái đã được "Công ty trí thức Việt" cùng với Nhà xuất bản Hồng Đức kết hợp cho xuất bản một tác phẩm văn học "thơ và bình".
Tập sách có tên đề: THƠ TÌNH SINH VIÊN - Gồm trên 100 bài thơ tình với 12 bài bình thơ hay Phạm Ngọc Thái của nhiều tác giả. Sách dầy 200 trang, là các thi phẩm hấp dẫn được chọn lọc ra từ trong đời thi ca của nhà thơ. Sau đây là lời bình bài thơ Em về biển

EM VỀ BIỂN


                   Bờ bãi đời người - Cuộc sống tình yêu
                  Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân phật tổ!
                  Ta cũng thể loài cua còng trong bể cả
                  Yêu thương nhiều hưởng đã bao nhiêu.
                                        Kỉ niệm K.A -  Người nữ sinh trường SPNN năm xưa.
                                                           Quê hương thành phố biển

Em về biển để vùi vào trong cát
Nỗi buồn nước mắt
Những nát tan vòm ngực đã thương đau.

Biển cứ vỗ tan... nát tình biển cả...
Xô mãi bờ với lá thông reo
Người thiếu nữ ấy dần thành cát trắng
Mang nỗi niềm không biết đã đi đâu?

Tháng năm trôi…tình cũ cháy như khêu
Dòng suối thần tiên nuôi đời ta mục ải
Đôi gót đỏ ánh mắt nhìn thơ dại
Đã thổi thành bão tố ở trong anh.

Hàng bạch đàn năm xưa còn đó
Anh còn đây. Em hỡi, anh còn đây!
Nhớ những buổi đón em bên cổng trường sinh ngữ
Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...

Tóc nửa bạc rồi. Tình vẫn đó, em ơi!
                                                                                       Thơ Phạm Ngọc Thái
 
Lời bình: MỘT MỐI TÌNH ĐẦY LỆ
 
Đây là mối tình của nhà thơ với cô nữ sinh trường Sư phạm Ngoại ngữ. Nỗi thơ đầy lệ:
                        Em về biển để vùi vào trong cát
                        Nỗi buồn nước mắt
                        Những nát tan vòm ngực đã thương đau.
"biển" ở đây là thành phố quê hương của người con gái (như trong tựa đề bài thơ đã viết), nhưng hình ảnh biển còn là biểu tượng của bãi-biển-đời-người hay là tình-em-biển-cả:
                        Biển cứ vỗ tan... nát tình biển cả...
                        Xô mãi bờ với lá thông reo
Cái hàng thông năm tháng đứng trên bờ biển hát, vừa như sự vô tình mà lại hữu tình của thiên nhiên, với con sóng xô nát bờ khắc khoải mãi về người trinh nữ. Một biển cuộc đời đầy sóng bão, người sống trong nó và... nó có thể nghiền nát con người:
                        Người thiếu nữ ấy dần thành cát trắng
                        Mang nỗi niềm không biết đã đi dâu?
Người con gái ấy đã đi không trở lại. Hình ảnh "cát" trong bài thơ này mang màu sắc thơ siêu thực, tức là dạt vào trong chốn cát bụi đời người...
     Tôi xin phân tích bốn câu thơ làm tựa đề:
                          Bờ bãi đời người - Cuộc sống tình yêu
                          Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân phật tổ!
                          Ta cũng thể loài cua còng trong bể cả
                          Yêu thương nhiều hưởng đã bao nhiêu.
Tình yêu của em đưa ta về nơi thánh thiện. Em chính là cả toà sen nát bàn phật tổ của đời anh! Thế mà, trên "bờ bãi đời người" thân phận em vẫn nổi chìm như kiếp rong rêu. Thì ra tình yêu không chỉ mang cho ta hạnh phúc, mà còn là bi kịch đớn đau trong cuộc đời. Đây là bốn câu thơ hay nhất bài, hình tượng đã đạt đến điểm đỉnh, khái quát nội dung tư tưởng của toàn bài để đưa tấm phẩm bích Em Về Biển vào trong miếu mạo của thi ca.
Xin bình tiếp vào bài:
                           Tháng năm trôi…tình cũ cháy như khêu
                           Dòng suối thần tiên nuôi đời ta mục ải
                           Đôi gót đỏ ánh mắt nhìn thơ dại
                           Đã thổi thành bão tố ở trong anh.
Tình cũ như ngọn đèn càng khêu càng cháy. Người con trai cũng như cây thông mòn mỏi mãi, năm tháng dần thành mục ải... thì mối tình trong trắng thơ ngây, thơm mát như ban mai của người con gái xưa lại hiện về xoa lên nỗi đau của lòng anh. Hình bóng người sinh nữ cứ lặng lẽ, âm thầm mà cào xé tưởng như những trận bão lòng không dứt.
Em Về Biển tuy không đi sâu vào miêu tả tấm thân bên trong của người con gái, hồi ức chỉ phục lại những ấn tượng có tính điển hình, như:
                        Đôi gót đỏ ánh mắt nhìn thơ dại
Hay là:
                       Những nát tan vòm ngực đã thương đau
Nghĩa là không thấy những hình ảnh yêu thương trần tục xuất hiện trong tình thi này, chỉ có những hương vị thơm tho, thanh thoát, nên thơ... nhưng vẫn đầy cảm xúc da diết, mộng mơ mà năm tháng không phai nhoà trong anh.
Đời hiện hữu mà tình yêu lại là ảo ảnh. Cuộc sống chỉ còn là một bãi cát vô vi, trắng phau để những trận bão tố lòng anh thổi mãi không thôi. Đến đây một mảng thơ hiện thực được tràn vào, tình thơ lại càng thêm tha thiết:
                         Hàng bạch đàn năm xưa còn đó
                         Anh còn đây. Em hỡi! Anh còn đây,
                         Nhớ những buổi đón em bên cổng trường sinh ngữ...
Những buổi đón người yêu bên cổng trường... gợi lại bao nhiêu kỷ niệm để nói về một thời đôi trai gái đã say đắm yêu nhau. Ta có thể mường tượng, bóng trăng huyền diệu thuở ấy, bước chân em đi nhè nhẹ, những chiếc lá rơi khẽ khua lên xào xạc. Ôi! Tấm thân của người con gái như một tảng thiên thạch trinh trắng vô vàn, cuốn hút cả những linh hồn. Chạm vào thiên thạch ấy, mọi sức mạnh đều tiêu tan mềm nhũn để tan hoà thành nước. Ánh mắt, đôi môi, cả cặp "tuyết lê" trắng ngần, trinh khôi của người thiếu nữ tựa như đôi mỏm núi kỳ vĩ nhô lên làm nên luỹ thành sừng sững nghìn năm, là thiên kiệt tác nhân sinh của loài người.  Khi ta áp môi hôn, khi đôi bàn tay man dại của tạo hoá đặt vào đó, nó nóng hổi và huyền thoại...
Nhà thơ đã từng sống qua nửa thế kỉ, chứng nhận bao điều lớn lao cùng những điên đảo xẩy ra trong thế giới loài người, để cuối cùng anh lại quay về, chỉ ngợi ca người yêu bất tử hơn mọi thứ trên đời. Thế mà đời người như bóng câu bay qua trong vòm trời vô định, tất cả đều tan vỡ lẫn vào trong cát bụi cuộc đời - Như những dòng thơ kết thúc trong Em Về Biển này :
                         Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...
                         Tóc nửa bạc rồi. Tình vẫn đó, em ơi!
Mái tóc sương nhà thơ soi xuống dòng sông vô cùng, vô tận của thời gian, lẫn nhoà trong tiếng gió mưa phủ kín đất trời. Năm tháng qua đi lặng lẽ mà héo úa, như bao chiếc lá vàng rơi rụng xuống, phủ lên trên những hồi ức về người con gái xưa một nấm mồ tình.
       PHƯƠNG TUẤN
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 28 Mar 2016 lúc 9:14am
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa 

 
“Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

 

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

 

Cái cò… sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

 

Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
Mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ… Mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

 

Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta-chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”.
 

NGUYỄN DUY

(Trích trong tập “Mẹ và em”, NXB Thanh Hóa 1987)

 

Trong lòng một dân tộc có một người mẹ, Việt Nam có “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và trong mỗi chúng ta đều có một người mẹ sinh ra. Mẹ trong “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của nhà thơ Nguyễn Duy là một bài thơ hay trong những bài thơ viết ca ngợi về Mẹ.

Mẹ- Ảnh sen của nghệ sĩ Xuân Anh 

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa có bảy khổ, hai mươi tám câu và 196 âm tiết nhưng đã có 11 cặp từ láy: bần thần, lấm láp, xăm xăm, rối ren, đánh đu, nghêu ngao, đom đóm, chập chờn, leo lẻo, xa xôi, xa xăm –  đây cũng là một trong những cách biểu đạt thành công nhất của Nguyễn Duy trong thể thơ “6 và 8” (như cách nhà thơ gọi) góp phần cho bài thơ thăng hoa và tạo mạch đồng cảm từ tác giả đến người đọc.


Nhà thơ Nguyễn Duy 

Hình ảnh người mẹ của Nguyễn Duy được viết bằng một cảm xúc chân thành, sâu lắng khi mẹ nhà thơ đã vào cõi vĩnh hằng:

Bần thần hương huệ thơm đêm

Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mạch cảm xúc ở khổ thơ thứ ba khiến ta xao xuyến lạ thường, khi nó thâm trầm bởi lời nhắn gởi:

Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Và những lời ru ấy đã “tiếp nối” trong tâm hồn nhà thơ bằng trải nghiệm dân gian mà đúc kết thành:

Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ… Mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Ở bài thơ Tre Việt Nam, Nguyễn Duy cũng đã nói đến quy luật tự nhiên rằng: “Tre già măng mọc có gì lạ đâu!”. Nhưng nhà thơ “sợ” những nét đẹp truyền thống của dân tộc mai một dần, nỗi lo, cái “sợ” ấy có nguyên do của nó vì ngày nay đã có bao nhiêu người mẹ trẻ ở thành thị không biết hát ru con…

Với cảm nhận của riêng tôi, tôi tin bài thơ sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu thơ – vì chính nhà thơ đã “nói hộ” thay cho bao người về một nỗi niềm:

Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

 
NGUYỄN TÝ
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 28 Mar 2016 lúc 9:21am

Lời bình bài thơ "Tổ quốc gọi tên"


Tổ quốc gọi tên


Đêm qua tôi nghe Tổ quốc gọi tên mình

Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá

Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả

Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây

 

Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi!

Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ

Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã

Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông

 

Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình

Chúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốc

Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước

Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau

 

Sóng chẳng bình yên dẫn lối những con tàu

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc

Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam”

 

Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc linh thiêng

Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố

 

Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa

Tôi lắng nghe 

Tổ quốc 

gọi tên mình!

Nguyễn Phan Quế Mai


Lời bình của nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú:

Từ lâu Tổ quốc luôn là đề tài là tên gọi thiêng liêng trong cảm xúc thường trực của các thi nhân. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt - Như mẹ cha ta như vợ như chồng - Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết - Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông”. Hình ảnh Tổ quốc thật thân thiết gắn bó máu thịt với từng con người cụ thể. Nhà thơ Tố Hữu trong mạch cảm hứng dào dạt đã thốt lên: “Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ - Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi”. Trong những ngày khi chủ quyền biển đảo nóng lên, bài thơ “Tổ quốc gọi tên” của Nguyễn Phan Quế Mai đã có sức lan tỏa mạnh mẽ, nhất là khi được nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn chắp cánh bay lên qua ca khúc “Tổ quốc gọi tên mình”.

Bài thơ này được nhà thơ kể lại: chị viết khi đang đi công tác ở nước ngoài thì nghe tin quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa: “Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình - Chúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốc - Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước - Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau”. Câu thơ nghẹn thắt trào dâng uất hận như lớp lớp sóng cuộn dâng. Cuộn dâng ở ngoài biển khơi, cuộn dâng ở trong lòng người. Tấc đất tấc biển như là máu thịt của một cơ thể con người của đất nước mang dáng hình chữ S thân yêu. Bài thơ “Tổ quốc gọi tên” nhưng chính nhà thơ đã gọi tên Tổ quốc: “Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả - Nơi bão tố dập dồn chăng lưới bủa vây”. Nhịp thơ chính là nhịp sóng là nhịp “Bằng tiếng sóng Trường Sa - Hoàng Sa dội vào ghềnh đá”. Nguyễn Phan Quế Mai không kìm nổi cảm xúc trực tiếp của mình: “Tổ quốc của tôi - Tổ quốc của tôi!”. Tiếng gọi tha thiết đó như là tiếng vọng của quá khứ oanh liệt của hòa âm hiện tại cộng hưởng với cả một bề dày lịch sử oai hùng: “Bốn ngàn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ”. Nhịp thơ bi tráng vừa hào sảng vừa day dứt vừa ngân vọng. Ở đây trong câu thơ: “Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình bao người đã ngã - Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông”. Hai chữ “Hòa bình” được nhà thơ sử dụng kiểu viết hoa tu từ thể hiện khao khát lẽ sống cao cả của dân tộc. Ngọn đuốc “Hòa bình” như muốn đánh thức dậy lương tri của nhân loại. Như nhắn gửi một thông điệp toàn cầu để khi kết bài thơ chị đã nhắc lại: “Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa”. Ở đây sự kết hợp cảm hứng dân tộc và thời đại, tính biểu tượng khái quát nhưng có sức thuyết phục lay thức cụ thể ấn tượng là một thành công để chuyển tải những cảm xúc mạnh bi tráng, hào hùng. Tứ thơ từ đó được nâng lên xoáy sâu và lan rộng. Chính bắt đầu từ tầng tầng lớp sóng: “Sóng chẳng bình yên dẫn lối những con tàu - Sóng quặn đỏ máu những người đã mất - Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc”. Điệp ngữ ba lần“Sóng” được nhắc lại chính là điểm nhấn để từ đó cộng hưởng: “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam””.

Đọc bài thơ ta không những được nghe đối thoại, độc thoại mà cao hơn nữa đó là sự kết nối. Một sự kết nối giao cảm cộng đồng, kết nối đoàn kết cộng đồng để kết nối bằng hành động cộng đồng: “Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc linh thiêng - Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố”. Ở đây ta chú ý nhà thơ đã dùng hình ảnh tương phản giữa giấc ngủ trẻ thơ và bão tố tạo ra độ chênh đẩy tần số cảm xúc lên cao trào. Và trẻ em cũng chính là hiện thân của tương lai. Bảo vệ trẻ em chính là bảo vệ tương lai cho Tổ quốc. “Tổ quốc gọi tên” được khép lại bằng sự hướng tâm về mình. Câu thơ ngắn lại nhưng nhịp độ ngân vọng lại càng da diết, thao thức: “Tôi bỗng nghe - Tổ quốc - Gọi tên mình!”. Vâng, Tổ quốc gọi tên mình và chính chúng ta đang gọi tên thiêng liêng Tổ quốc trong những ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước...

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 28 Mar 2016 lúc 9:22am

Lời bình bài thơ "Ta về với mẹ ta thôi"

Ta về với mẹ ta thôi

 

Ta về với mẹ ta thôi

Năm nay mẹ đã chín mươi mỏi mòn

Cha thì đã khuất núi non

Con dăm bảy đứa chỉ còn vài ba

 

Ta lo xây cửa xây nhà

Mẹ ra Hà Nội như là Ô-sin…

Làm người có một trái tim

Mà sao mình để mẹ mình mồ côi?

 

Ta về với mẹ ta thôi

Làm con của mẹ như hồi còn thơ

Sang giàu phú quý ngu ngơ

Mẹ con con mẹ sớm trưa ruộng đồng…

 

Nhà nông thì cứ nhà nông

Ham chi đổi phận qua sông lụy người…

 

Ta về với mẹ ta thôi

Chín phương đã nếm đủ mùi trầm luân

Cái xa thì đã đến gần

Người gần chừng cũng dần dần xa xôi

 

Ta về với mẹ ta thôi

Phù hoa xin gửi cho người phù hoa

Ta về bên mẹ của ta

Không làm chi nữa, cũng là làm con

 

Còn trời còn nước còn non

Ngày mai rồi sẽ chẳng còn mẹ ta!

Nguyễn Sĩ Đại

 
(Ảnh Internet)

Lời bình của Nguyễn Ngọc Phú:

Thường, những bài thơ hay viết về Mẹ là viết về hình ảnh Mẹ với những chi tiết rất cụ thể ở những hoàn cảnh cụ thể. Sự xúc động bắt đầu từ tấm lòng người viết. Nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại đã có một tứ thơ hay với bao nỗi niềm trăn trở. Và ở đó “Thông điệp trái tim” yêu thương của ông đã bắc một nhịp cầu giàu chất nhân văn, nhân ái khi: “Ta về với mẹ ta thôi

Ta về với mẹ ta thôi” chính là trở về với cội nguồn sâu thẳm căn cốt hộ chiếu cuộc đời của mỗi con người - đó là mẹ. Mẹ chính là điểm tựa cuối cùng, niềm tin yêu cuối cùng cho đứa con qua bao trải nghiệm đắng đót. Nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại viết: “Ta về với mẹ ta thôi” khi ông đã qua cái tuổi “tri thiên mệnh” đó là tự biết - vâng, tự biết chính là độ minh triết của cái ngưỡng giới hạn để con người trở về thanh thản điều chỉnh cuộc sống của mình.

Bài thơ hay không phải ở câu chữ mà ở tấm lòng ở sự tự vấn rất thành thật. Chính sự chân thành hết sức tự nhiên này đã thấm cả triết lý nhà Phật sâu sắc của cõi luân hồi qua bao biến đổi thăng trầm cuộc đời. Ngay dòng đầu tiên nhà thơ đã giới thiệu cảnh ngộ hình ảnh bà mẹ đã “Chín mươi mỏi mòn” và “Cha đã khuất núi non/ Con dăm bảy đứa chỉ còn vài ba”. Ông không viết mẹ chín mươi tuổi mà chín mươi mỏi mòn. Một quãng thời gian đằng đẵng bao héo hon hon, câu thơ trải ra hun hút. Giọng thơ tự vấn níu kéo trăn trở “Mà sao mình để mẹ mình mồ côi” đã chạm được đến cõi lòng nỗi người khi: “Ta lo xây của xây nhà/ Mẹ ra Hà Nội như là Ôsin". Tôi bất chợt nhớ đến bài thơ “Mẹ ra Hà Nội thăm con” của nhà thơ Lê Đình Cánh có hai câu thơ trong trí nhớ ám ảnh lạ lùng: “Lên thang chẳng dám bước dài/ Vào khu tập thể gặp ai cũng chào”.

“Ta về với mẹ ta thôi” như một điệp khúc luân hồi như một tiếng vọng thiết tha trong tâm tưởng được nhắc lại khi nhà thơ triển khai tứ thơ tuyến tính. Nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại là người có nhiều bài thơ hay viết về nông thôn về tâm thức đồng ruộng. Ở đây với nhịp thơ lục bát hồn hậu, được chắt lọc từ bao chiêm nghiệm: “Mẹ con, con mẹ sớm trưa ruộng đồng/ Nhà nông thì cứ nhà nông/ Ham chi đổi phận qua sông lụy người”. Đó là cứu cánh của bao trắc trở khi ta trở lại những gì bình dị nhất và thường trực nhất. Thường trực như cơm ăn, nước uống, như đất đai hồn quê làng mạc. Thường trực như trong tâm hồn của nhà thơ: Me, quê hương đó chính là bến đậu tin cậy và yên bình nhất.

Thơ Nguyễn Sĩ Đại thường có những triết lý gắn với minh triết dân gian: “Cái xa thì đã đến gần/ Người gần chừng cũng dần dần xa xôi”. Có lẽ ông nhà thơ - tiến sĩ văn học chuyên nghiên cứu thơ Đường luật này đã “học” được hay nói nói chính xác hơn đã “lọc” được cái hàm triết sâu sắc tinh túy của những áng thơ văn cổ điển

Hai câu thơ tôi thích nhất trong bài “Ta về với mẹ ta thôi”: “Ta về bên mẹ của ta/ Không làm chi nữa cũng là làm con”. Phải từng trải lắm và tự biết, tự tại lắm mới đủ bản lĩnh: “Không làm chi nữa cũng làm con thôi”. Vâng, được làm con của mẹ là điều đáng tự hào nhất, hạnh phúc nhất như nhà thơ Chế Lan Viên một thi sĩ sâu sắc trí tuệ cũng đã từng thốt lên: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”.

Hà Tĩnh, ngày 6/3/2016

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 28 Mar 2016 lúc 9:23am
TẢN MẠN CHỢ VIỀNG
 

Lơ ngơ lạc giữa chợ Viềng

Miền xuân lấp ló nỗi niềm giêng hai

Người ta đi chợ cầu may

Còn em đến bán những ngày không anh

 

Em theo cơn gió mồ côi

Tìm không thấy bạn lạc đồi cỏ hoang

Chợ xuân em tới muộn màng

Rủi, may liệu có nhỡ nhàng mùa anh?

 

Chen chân nô nức chợ Viềng

Xòe tay hứng đợi linh thiêng chốn này

Đêm tàn, mơ vỗ cánh bay

Hạt sương rụng buốt lòng tay. Em về...!

Thảo Nguyên

 
 
Lời bình của Vân Hạc

Cô đơn, hy vọng để rồi thêm thất vọng đến tột cùng là những cung bậc của cảm xúc xuyên suốt bài thơ.

Mỗi khổ thơ như một bài thơ riêng biệt, lối gieo vần thất vận tách biệt từng khổ cùng nội dung cho ta cảm nhận ấy.

Hình ảnh “lơ ngơ” cô đơn trên con đường tìm sự may mắn trong duyên tình sao mà xa xót và phải chăng: “Miền xuân lấp ló” kia như những tia hy vọng. Người ta thì: “đi chợ cầu may”. “Còn em đến bán những ngày không anh”. Câu thơ làm người đọc nghẹn lòng, thương cho cảnh đơn côi của người phụ nữ với hy vọng mong manh.

Đã “lơ ngơ” lại theo “con gió mồ côi” thì sự “lạc đồi cỏ hoang” là tất yếu. Câu hỏi tu tử: “Rủi, may liệu có nhỡ nhàng mùa anh” thật đắt, người đọc tự tìm được câu trả lời rồi.

Khổ cuối làm cho người đọc hình dung cái vòng luẩn quẩn của kiếp người. Con người khi đã không thể làm chủ cuộc đời, phải cầu vào đấng siêu nhiên mà “đêm tàn mơ vỗ cánh bay” và “Hạt sương rụng buốt lòng tay” như vết dao cứa vào lòng, tiếng “vỗ cánh” ấy vỡ một hy vọng mong manh. “Em về..!” với dấu chấm lửng làm cho người đọc nghĩ tới phiên chợ mùa xuân sau lại…

Người ta đi chợ Viềng để cầu may, có ai đi bán sự cô đơn của người phụ nữ bao giờ. Đấy là sự độc đáo trong phát hiện và phát triển tứ thơ khá độc đáo. Trong bài thơ không chỉ có sự cô đơn, hy vọng và tuyệt vọng mà còn ẩn chúa khát khao cháy bỏng hạnh phúc gia đình của người phụ nữ. Bài thơ gọn gàng, câu từ chau chuốt nhưng cẩn trọng, tự nhiên và đầy nhạc điệu, mỗi câu, mỗi dấu, mỗi khổ tôn nhau lên trong một khúc thức hoàn chỉnh. Đây là một bài lục bát hay về chợ Viềng và thân phận người phụ nữ mười hai bến nước.

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 28 Mar 2016 lúc 9:27am

Vùng phấn bay

 

Hình như… Thầy chẳng khác xưa

Ba lăm năm trước… Thầy đưa qua đò

Dòng sông kiến thức sóng xô

Mỏng manh trang vở học trò trắng tinh

Em cầm cây bút đời mình

Thầy cầm phấn trắng chắc tình quê hương

Đất trời trang trải mấy phương

Nắng, mưa, sương, gió… biết thương đời thầy

Sông bao nhiêu nước… sông gầy

Cánh đồng gieo chữ… đợi ngày hoa non

Bao nhiêu viên phấn đã mòn

Bao nhiêu giáo án chẳng còn trẻ trung

Nước trôi về xứ vô cùng

Thương thầy ở lại một vùng phấn bay

Trang đời xanh thẳm hôm nay

Phấn xưa đã kết thành mây trắng đầu

Sông đời bất chợt nông, sâu

Học thầy em bắc chiếc cầu chữ Tâm

Phi Tuyết Ba


Lời bình của Nguyễn Ngọc Phú

Trước hết đọc tên bài thơ “Vùng phấn bay” đã gợi cho ta một hồi ức định vị một vùng nhớ thương với bao vòng sóng tâm tình lan tỏa. Viên phấn trắng gắn bó với công việc của người thầy truyền giảng tri thức cho học trò. Phấn càng mòn, kiến thức càng đầy đặn hơn. Nhưng ở đây hình ảnh phấn bay, bụi phấn bay, vùng phấn bay tạo ra một trường ám ảnh nhuộm xuống mái tóc của thầy “Phấn xưa đã kết thành mây trắng đầu”.

Mở đầu bài thơ là sự gặp lại thầy giáo sau ba mươi lăm năm “Hình như… Thầy chẳng khác xưa - Ba lăm năm trước… Thầy đưa qua đò”. Với những dấu chấm lửng (hình như…)(ba lăm năm trước…) tạo ra tình huống ngập ngừng từ quan sát đến cảm nhận với nỗi niềm ấp úng trào dâng kính thương. Trong tâm trí và ký ức của người học trò hình ảnh thầy vẫn vẹn nguyên như xưa, như là một ước mong, một hoài niệm. Ở đây nhà thơ sáng tạo ra hình ảnh người lái đò (Thầy giáo) và dòng sông (Kiến thức) có lẽ bắt đầu từ truyền thống “Muốn sang thì bắc cầu Kiều - Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Ở đây ám ảnh trắng: Phấn trắng, trang vở học trò trắng tinh, rồi mây, sương, gió trắng của thời tiết, thời gian và sông trắng sóng xô bao khắc nghiệt của cuộc sống đời thường đã nhuộm trắng mái tóc của thầy khi “Sông bao nhiêu nước… sông gầy”. Hình ảnh “Sông gầy” gây một ấn tượng mạnh vào thị giác. Sông gầy nhưng không héo hon mà gầy bởi bù đắp phù sa, cho “Cánh đồng gieo chữ… đợi ngày hoa non”. Hình ảnh “Hoa non” không mang một sắc màu rõ rệt mà chỉ phẩm hạnh sức sống trỗi dậy bên trong. Từ thị giác chuyển sang cấp độ cao hơn của thấu thị cảm giác trong sự non tơ nhú mầm trỗi dậy những trữ lượng của tình yêu cuộc sống tràn trề khát vọng với bao lứa học trò.

Có hai câu thơ trực tiếp nói về nghề nhà giáo bình dị, chân chất mà gợi bao liên tưởng xúc động: “Bao nhiêu viên phấn đã mòn - Bao nhiêu giáo án chẳng còn trẻ trung”. Viên phấn và giáo án được nhà thơ thổi vào cá thể sống, linh hồn sống. “Phấn mòn” là ước lệ của thời gian nhưng “Giáo án không còn trẻ trung” là nỗi niềm của thân phận. Một sự se thắt lòng từ hoa non đến phấn mòn. Một sự bù trừ cho và nhận mới hiểu hết công lao của người thầy lặng lẽ cống hiến: “Mây trôi về xứ vô cùng - Thương thầy ở lại một vùng phấn bay”. Trong lao động phân công của xã hội thì nghề thầy giáo thật cực nhọc cả về môi trường làm việc luôn tiếp cận với bụi phấn để thanh lọc thành những tri thức, bài giảng từ tâm huyết của mình chuyển tải đến bao lứa học trò cho những “Trang đời xanh thẳm hôm nay”.

Bài thơ “Vùng phấn bay” viết theo thể lục bát. Sự vận động cảm xúc tuyến tính như một câu chuyện kể. Một hồi ức cảm động thủ thỉ, tâm tình mà trải qua bao cung bậc tâm trạng. Hình ảnh người thầy giáo cũ cứ ẩn hiện thấp thoáng nhưng mái tóc bạc màu bụi phấn thì ám ảnh lạ thường, hội tụ những nét đẹp tinh hoa. Bài học lớn nhất thầy truyền cho các em đó là đạo hiếu làm người khi bước ra với cuộc sống xã hội: “Sông đời bất chợt nông sâu - Học thầy em bắc chiếc cầu chữ Tâm”. Ta lại chợt đến câu thơ bất hủ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du còn vẹn nguyên tính thời sự, lấp lánh minh triết cho hôm nay: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài…”

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 28 Mar 2016 lúc 5:57pm
Nhà văn Đoàn Hữu Nam và những bài thơ thổn thức nao lòng



Trong một bài viết về các phiên chợ văn hoá vùng cao Lào Cai cách đây nhiều năm, tôi có nhắc đến bạn văn Đoàn Hữu Nam (ĐHN) bằng một ví von thân thiện "Anh như chú gà trống choai đứng đầu bản mang sứ mệnh gáy lên". Nhưng ở tập thơ mới xuất bản lần này, ĐHN lại tự nhận mình còn khiêm tốn hơn:
"Ta là con gọng vó bị bùa mê ngược dòng
không mệt mỏi
Luôn luôn vượt lên và luôn luôn đứng lại"
(Ngược dòng trôi).

Về mặt sinh học thì tôi không thích anh làm con gọng vó. Về mặt xã hội thì nhà văn đã đúng. Gọng vó là loài côn trùng thân nhỏ bé, mỏng mảnh nhưng lại có bộ tay chân dài nghêu, loằng khoằng, ưa sống trên dòng nước chảy nhiều cây cối um tùm. Chúng thường đậu (hay đứng yên) rất tài tình ở tại một vị trí so với bờ đất. Thỉnh thoảng gọng vó lại chạy nhảy như bay, dồn đuổi nhau như lướt trên mặt nước đang chảy.

Sau đấy, chúng lại đứng yên hoặc thả trôi theo dòng nước về yên lặng ở vị trí cũ. Từ quan sát này, tôi xin tâm đắc với ĐHN về mặt vận động xã hội. Có lẽ như thế mà sau hai tập thơ đầu đời, ĐHN tạm "ly thân" với thơ để chuyển sang sáng tác văn xuôi.

Hơn mười năm qua, anh đã công bố hai tập truyện thiếu nhi, ba cuốn tiểu thuyết cho "người lớn". Bằng những nỗ lực lao động văn chương nghiêm túc và óc sáng tạo nghệ thuật "thiên phú", các tác phẩm của ĐHN đã xâm nhập được vào đời sống văn chương đương đại nước nhà. Những thành quả sáng tạo ấy đã đưa ĐHN đứng vào đội ngũ những Nhà Văn Việt Nam hiện đại - năm 2004.

Tháng 7 năm 2006 nhà văn ĐHN bất ngờ công bố tập thơ Dấu nối thênh thang (DNTT) như là một hành động trở về nguồn, hay như là một ví dụ về sự nặng lòng với thơ. Có thể nhận thấy ngay DNTT là "tia nắng thơ được hoài thai từ tầm - nền văn xuôi đang độ sung mãn, đang độ Nhân nhân lên trong ngơ ngác tiếng gà - như ý thơ anh bộc bạch.

Đã rất nhiều năm ĐHN làm công tác phụ trách văn phòng và biên tập tại Hội văn học nghệ thuật tỉnh Lào Cai. Song, không vì thế mà tập thơ mới của anh bị lút đi bởi những rặng núi trùng điệp và những trở ngại tỉnh lẻ xa khuất. DNTT là tập thơ đẹp, nền nã ngay từ mặt bìa và cách trình bày cuốn sách. Với số bài, số trang vừa độ quen thuộc nhưng khi thư thả đọc chậm từng bài người đọc sẽ nhận ra một tâm trạng thơ, một tình cảm thơ đạt độ chín, độ tinh và độ từng trải việc đời - việc nghề.

Nhà văn ĐHN đã qua tuổi 50, anh đã thấu hiểu: "Nhìn mặt trời trước mặt, mặt trời sau lưng biết rờn rợn tháng năm, rờn rợn con đường, rờn rợn con tàu chạy một chiều, đi, đậu cũng một chiều - mãn kiếp" - (Từng đốt cuộc đời). Đến chơi nhà ông bạn già, thấy đứa cháu nhỏ lau mãi mà không sạch mặt bàn kính để ông tiếp khách, nhà văn nhìn bạn và nhớ tới bài viết Cái khăn lau của nhà văn Trần Quốc Tiến, liền ngộ ra: "Ôi cái khăn lau, mặt bàn, vết bẩn/ Cứ bầy ra thế cuộc hàng ngày" - (Cái khăn lau). Cũng tâm trạng cả nghĩ như vậy, nhà văn đã chứng kiến và chia sẻ "Dư âm nghiệt ngã" từ cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân ta một thời:

Đom đóm lập loè ma trơi / Thót lòng ngỡ hồn bạn gọi

Lộp độp mưa rơi trên mái / Giật mình thảng thốt bom rơi

Giữa đời không còn tiếng súng / Mà sao động mãi tháng năm.

Và ở bài Anh tôi:

Soi mình vào chén rượu / Miệng chén bỗng giống hố bom

Những váng rượu hệt váng dầu trôi nổi / Anh rùng mình phấp phỏng dòng máu giật trong người / Đêm chị sinh đứa con đầu lòng/ Gió rin rít tưởng bom ngoài chiến địa / Cả nhà kinh hoàng quặn thắt…/ Đứa bé sinh ra không thể thành người".

Bằng những câu thơ tả thực, giản dị như lời nói vậy, nhà văn đã bình tâm biểu cảm được những xúc cảm thổn thức đến nao lòng của từng cá nhân, gia đình được hoà - thấm thành tâm trạng day dứt, ẩn ức, thấm đẫm nhân tính xã hội. Đây là một sắc thái tình cảm trầm - buồn và nhạy cảm riêng của người Việt Nam ta.

Sự cả nghĩ về đời sống thực tại và tình nhân ái, độ lượng trong cốt cách sống (nói to tát lên là sự tư duy theo chủ nghĩa nhân văn - nhân đạo sâu sắc) phải thường trực trong nhà văn như một thuộc tính (dân gian gọi là đức tính hay văn tính). Tôi luôn tâm niệm điều này và nhận thấy đúng ở rất nhiều nhà văn, nhà thơ và tất nhiên là cả ĐHN.

Trong nhiều cung bậc tình cảm của người miền núi cao, nhà văn phát hiện chi tiết được một sắc thái đặc biệt - sự ngưỡng vọng tình yêu thuở đầu đời: "Ngày mai vợ chồng mình lướt qua nhau tìm về ngày xưa / Đằng đẵng một năm qua đi để có một ngày gặp gỡ". Tại sao vợ chồng lại lướt qua nhau? Hoá ra, phong tục người H’mông cho phép thế. Mỗi năm có một lần phiên chợ tình Khau Vai lại họp dành cho những người yêu cũ gặp nhau:

"Chợ Khau Vai! / Là ngọn gió thổi buốt lưng ta dẫu trước mặt vẫn rực hồng bếp lửa / Là hòn than ủ trong lòng mỗi khi tuyết xuống, mưa tan" - (Ngày mai là chợ Khau Vai). Đồng bào các dân tộc vùng cao phần nhiều sống trong thiếu thốn, lam lũ, chật vật là thế, mà đời sống tinh thần thường trầm tĩnh, tự tin, vui vẻ, điềm nhiên. Nhà văn ĐHN tiếp tục mạch khám phá mặt ưu trội của văn hoá sinh hoạt cộng đồng vùng cao từ các phiên chợ đến những nghi lễ, hội hè:

"Trăm ngọn đuốc đổ dồn về sân chợ / Đêm chật lại bởi vòng xoè rộng mở / Tiếng Khắp ngân tha thiết nao lòng" - (Đêm xoè xuân). Ở bài Bếp lửa nhà mình, bộc lộ trầm tư một nốt trầm tình cảm cha - con thao thiết, gan ruột:

"Ngày mai con về xuôi/Cha không thể lấy cây rừng rào con đường con bước/Không thể lấy ngọn lửa bao đời soi góc bếp/Soi cùng con đi tiếp chặng đường đời

… Lòng cha như chỉ rối/Người vùng rừng hay nhìn xuống đất tìm chỗ đặt bàn chân/Liệu con có nhìn xuống gốc/Khi hoa thơm trái chín đầy cành

… Con hãy nhớ ở vùng cao hẻo lánh/Bếp lửa cùng cha thao thức trông chờ…”

Còn đây là lời "Thưa mẹ" của một cô gái Mông khi đời sống vùng cao quá nghèo túng đã phải bỏ học sớm để đi lấy chồng. Nhưng đây là một phát hiện quý - hiếm của ĐHN. Anh đã trần thuật kỹ lưỡng một cách tinh tế niềm thổn thức tận lòng, thành thật và trong sáng của cô gái với mẹ:

"Mười ba tuổi con làm dâu họ Lý/ Đo nương nhà người bằng nước mắt rơi rơi/ Mười bốn tuổi con đã làm thiếu phụ/ Ngồi tẽ ngô, tẽ tơi tả đời mình

Mười lăm tuổi cõng con về thăm mẹ/ Như trâu be đeo ách giữa nương cằn

… Con như ngọn đèn cạn dầu, bấc ngắn/Như khúc củi tươi trong bếp nhà người

… Nghe mẹ, con về làm nương nhà người không có chỗ cho cỏ mọc/Con về làm chuồng nhà người chật chỗ buộc trâu

Nhưng mẹ ơi! / Mẹ hãy để các em con làm ăn làm mặc

Hãy để nước tự tìm đến suối đến khe /

Đừng vội đo nương nhà người như con mẹ nhé !".

4. Đọc và ngẫm ngợi thơ ĐHN, tôi nhận ra: nhà văn ĐHN đã có những đóng góp quan trọng về mặt truyền bá và lưu giữ những nét đặc sắc đời sống văn hoá - tinh thần của đồng bào các dân tộc vùng cao phía Bắc.

Các bài thơ: Bếp lửa nhà mình, Ngày mai là chợ Khau Vai, Thưa mẹ, Từng đốt cuộc đời, Tản mạn trong chiều… trong tập thơ này hợp thành chùm thơ hay, xứng đáng luôn có mặt trong các Tuyển thơ Việt Nam hiện đại về đề tài dân tộc và miền núi. ĐHN là người miền xuôi nhưng đã gắn bó nửa đời với núi rừng - sông suối Lào Cai máu thịt. ĐHN là nhà văn nhưng đã dành tặng cho đời những tình thơ đầy tâm thế, ám ảnh khôn nguôi.

Lao động nghệ thuật một cách chuyên nghiệp như anh đâu phải dễ dàng trong không gian đời sống vừa vùng cao, vừa tỉnh lẻ. Xin được yêu quý những bài thơ, câu thơ hay và đẹp của ĐHN trong sự thảnh thơi chân thành - không cần vướng bận đến công thức câu - chữ, hay những nguyên tắc nghệ thuật rắc rối về thi pháp nào đấy.

Kim Ngọc Đại
IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 01 Apr 2016 lúc 9:49am

Lời bình bài thơ "Đồng chí"

ĐỒNG CHÍ

 

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

 

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Năm 1948

Chính Hữu 


Lời bình của Nguyễn Ngọc Phú:

Trong mạch thơ kháng chiến chống Pháp có nhiều bài thơ hay xúc động viết về tình đồng đội, tình quân dân như: “Cá nước” của Tố Hữu, “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Lên Cấm Sơn” của Thôi Hữu… Đặc biệt bài thơ “Đồng Chí” của nhà thơ Chính Hữu đã ghi một dấu ấn sâu đậm- một trong những thi phẩm xuất sắc của thi ca Việt Nam,

Theo từ điển “Tiếng Việt” đồng chí là: “Người cùng chí hướng chính trị trong quan hệ với nhau”. Đây là tình cảm gắn bó giữa những người cùng cảnh ngộ, cùng môi trường sống. Bài thơ thoạt đầu đọc tên lên tưởng là khô cứng, nghiêm ngắn của nhà binh nhưng chỉ có duy nhất từ “đồng chí” được nhắc đến một lần còn là những hình ảnh chân thật mà vô cùng sống động để đẩy tới cao trào của biểu tượng khi kết bài “Đầu súng trăng treo”. Đây cũng là tên tập thơ hay nhất của Chính Hữu. Ông viết ít nhưng độ ngân xa, ngân vọng của thơ ông vẫn âm hưởng đến bây giờ vừa cảm xúc vừa giàu trí tuệ, có độ dồn nén lay động. Mỗi bài thơ như một thông điệp chứa đựng cả hạt nhân tư tưởng, kết tinh từ những kinh nghiệm của đời sống người lính - thi sĩ gắn bó suốt đời mình với quân đội.

Bài thơ bắt đầu từ mạch tự sự, tâm tình: “Quê hương anh nước mặn đồng chua - Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Một cách giới thiệu tự nhiên gốc gác của người lính, xuất thân từ nông thôn thuần Việt. Ngày đó vũ khí, quân trang còn thô sơ: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ- Đồng chí!”. Hơi ấm của tình đồng đội thật đơn giản mà cảm động. Câu thơ như nghẹn khắc hình ảnh “Đồng chí”, như cái choàng vai tin cậy, như một dáng đứng vững chãi thu về một tâm điểm của sức mạnh niềm tin rắn rỏi. Nhịp thơ của Chính Hữu thường ngắn, hàm súc nhưng có độ vang vọng như tiếng lòng cộng hưởng bởi nhiều liên tưởng thành chuỗi dây chuyền kích hoạt vào nhau, chạm tới hạt nhân của tình cảm tạo ra độ chênh, độ vang từ các chi tiết của hiện thực đời sống, có sự chọn lọc, phản quang hồi âm da diết. Ông viết: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay” mà cứ ngỡ như đang rủ rỉ tâm tình trước hoàn cảnh éo le nhưng lại có cái tư thế quyết đoán “mặc kệ gió lung lay” xếp lại cảnh nhà để lên đường chiến đấu. Vì thế hình ảnh và tâm tình người lính thuần phác ở đây rất thật. Chính cái thật bình dị, chân chất này mới tạo ra sự đồng cảm: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh/ Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”. Vượt lên sự đồng cảm đó là đồng cảnh. Đồng cảnh trong những hoàn cảnh thử thách khắc nghiệt mới càng thấm thía nghĩa tình đồng đội.

Thơ chống Pháp có nhiều bài hay viết về tình đồng đội bởi ngày đó mọi người sát lại nhau, gần gũi hòa đồng với thiên nhiên mới đồng cảnh, đồng cảm từ sự thiếu thốn gian khó mà vẫn hi vọng lạc quan: “Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá/ Miệng cười buốt giá/ Chân không giày” mấy câu thơ tưởng như là kể, là tả nhưng đến “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” đã tạo ra sức truyền cảm không còn tả, kể nữa mà đó là những chia sẽ có chút vụng về, ngượng ngập của anh lính về quốc đoàn. Cái hay của tứ thơ là sự lặp lại của những cặp đối xứng so sánh thật hồn nhiên “Tôi - anh”, “Quần - áo”, “Cười buốt giá - Chân không giày”. Hình ảnh người lính- đồng chí được nâng dần lên từ sự gian khó thiếu thốn bao nhiêu thì vẻ đẹp tâm hồn càng được nâng lên bấy nhiêu. Từ một tư thế chủ động “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” như mở đầu bài thơ nhà thơ vẽ nên sự gắn bó thân thiết: “Súng bên súng đầu sát bên đầu”. Mới hay sức mạnh lớn lao của quân đội ta quyết định vẫn là chính con người. Vẻ đẹp lí tưởng của anh “Bộ đội cụ Hồ” tỏa sáng, tỏa ấm và tỏa rạng vun đắp tạc nên một biểu tượng có tính khái quát cao lay thức lòng người “Đầu súng trăng treo”. Đây có lẽ là câu thơ ngắn nhất, hay nhất lan tỏa nhất khi viết về hình ảnh anh bộ đội còn sống mãi với thời gian bởi chúng ta luôn khao khát ánh trăng hòa bình nhưng không thể rời tay súng…

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 01 Apr 2016 lúc 9:51am

Lời bình bài thơ "Dự cảm mùa thu"

Dự cảm mùa thu

 

Bỗng một ngày bất chợt sang thu. Heo may gửi sắc vàng theo hương cúc. Lòng ngẩn ngơ với hồn hoa ký ức. Hạ giấu lửa đi hơi ấm không về...

Có một ngày thơ ướt chẳng buồn che. Ta tha thẩn giữa một miền nắng quái. Trái hạnh phúc xanh nỡ nào dám hái. Để lại sau mình những hoa lá không tên.

Và mùa thu đã kịp vội vẽ lên. Nhòe nhoẹt nét những bão giông muôn thuở. Căn nhà của ta có người đến ở. Cửa khép hờ buông lỏng những lời ru...

Lại giật mình trước linh cảm mùa thu. Em vội vã hong vần thơ đẫm ướt. Phía sau lưng con đường trầy trượt. Lảo đảo anh về, vịn giấc mơ xưa.

Để bây giờ em đến với hẹn xưa. Anh đứng đợi chân hằn lên năm tháng. Nặng trĩu trên vai hành trang dĩ vãng. Kỷ niệm thu đã rắc hoa vàng...

Rồi một ngày bất chợt thu sang...

Chu Thị Thơm

 

Lời bình của Đỗ Ngọc Yên

Mạch thơ tuôn trào mênh mang như dòng chảy tự nhiên của đất trời. Bật nhú lên khỏi cái nền thu muôn thuở với ngọn gió heo may, sắc nắng vàng, hoa cúc, hay những cơn giông... là một miền nắng quái. Đấy mới chính là thu của lòng người.

Cái nắng quái mùa thu có thể làm rám đi trái bưởi trên cành, nhưng nào đâu có làm chín được quả hạnh phúc mong manh của con người. Thật khó mà phân biệt được đấy là sự nhạy cảm với quy luật muôn đời của thi nhân hay là sự rụt rè của người con gái, dẫu có thời cô đã lạc vào giữa cái miền nắng quái rồi, mà vẫn cứ ngẩn ngơ.

Nhưng cái nghiệt ngã của những quy luật tự nhiên làm gì có chỗ cho hạnh phúc mộng mơ đến tinh khiết trú ngụ mãi. Và con người thi sỹ đã bị nhấn chìm một cách vô thức bởi cái con người thực thể hiện tồn trong người con gái, để cuối cùng cô phải trở thành một người không phải là mình nữa. Ngay cả mùa thu ngày nào như một bức tranh thủy mạc đầy thi vị, vậy mà hôm nay cũng đã trở nên dữ dằn và đáng ghét biết bao, đến mức chỉ còn là những nét vẽ vội nhòe nhoẹt trong tâm hồn trinh trắng kia.

Chỉ với hai cụm từ khép hờ cánh cửabuông lỏng lời ru dường như là cái cách để cô gái xua đi tên kẻ trộm cố tình lẻn vào toan đánh cắp ngôi đền thi ca của mình. Nhưng cái trớ trêu của cuộc đời là, một phía con người thi sỹ trong cô luôn muốn giữ lại cho riêng mình mãi cái lâu đài mùa thu của đất trời trong sáng đến run rẩy để mà ngưỡng vọng, mà đắm say, thì ở một phía khác con người hiện hữu lại luôn phải miễn cưỡng chấp nhận những tên kẻ trộm như vậy. Chấp nhận là một việc khó, thì khước từ nó nào đâu có dễ gì hơn.

Toàn bộ cảm hứng chủ đạo của chủ thể sáng tạo đều xoay quanh cuộc vật lộn không cân sức giữa một bên là cái phải có và một bên là cái cần có trong đời sống tâm lý cá nhân của cô gái- thi sỹ. Khi nào loại bỏ được những thiên bẩm của con người hiện tồn, hoặc là tự giác chia tay với nàng thơ, thì khi ấy người ta sẽ dễ dàng tìm thấy hạnh phúc hơn. Nhưng có không ít người lại thích tìm, cũng có thể là số phận đã an bài rằng họ chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc thật sự ngay trên chiếc cầu bập bênh của những phút giây mặc khải sáng tạo. Đấy chính là nguồn cội của mọi sáng tạo thi ca. Còn mùa thu với bao hoài vọng và những tên kẻ trộm chỉ còn là cái cớ hiện hữu, là những tín hiệu ngôn ngữ chuyển tải những khát vọng muôn đời của cảm hứng sáng tạo mà thôi. Để rồi suốt cả cuộc đời không một thi sỹ nào không bị ám ảnh và thảng thốt khi chạm phải nó như những tín hiệu vô ngôn của đất trời gửi tặng khi mỗi lần... bất chợt thu sang...

IP IP Logged
Hoami
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 293
Trích dẫn Hoami Replybullet Ngày gửi: 01 Apr 2016 lúc 9:54am

Lời bình bài thơ "Quên và nhớ"

QUÊN VÀ NHỚ

 

Nước mắt chảy tháng năm hun hút giếng

Bao bà mẹ cúi đầu nghiêng bóng xuống khổ đau

Hàng triệu đứa con trở mình trong đất lạnh

Nửa thế kỷ tìm con run chân mẹ qua cầu

 

Dẫu gió lãng quên thổi dọc đường lịch sử

Những ngôi mộ vô danh vẫn làm vấp chân người

Dẫu với ai chuyện đạn bom đã trở thành cổ tích

Ngày giỗ con nào - nước mắt mẹ chẳng rơi!

 

Hương trầm thơm từng dòng lịch sử

Nước mắt trong veo không tính nổi giá thành

Một ngàn lần nói những lời tiếc thương

xin một lần ghé vào mái nhà lợp rạ

Nhìn mẹ ta gầy lập cập giữa trời xanh.

                                    Nguyễn Đức Hạnh

 

Lời bình của Đỗ Ngọc Yên

Bài thơ là một bức ký hoạ bằng lời, trong đó nổi lên hình bóng người mẹ Việt Nam trên đường đi tìm lại đứa con đã hy sinh nơi chiến trận, được tạc vào bầu trời xanh vĩnh hằng. Nền của bức tranh phía trước mẹ là những ngôi mộ vô danh trong một nghĩa trang liệt sỹ cũng vô danh. Thấp thoáng phía xa xa là căn nhà, mái hãy còn lợp rạ. Nhưng đọc lên ta cảm thấy dường như tác giả đã chạm vào một cái gì đó thật sâu và cũng thật xa, mà nhiều khi mải bươn chải với cuộc sống thường nhật nhiều người có thể dễ dàng lãng quên. Còn với mẹ:

Dẫu với ai chuyện đạn bom đã trở thành cổ tích

Ngày giỗ con nào - nước mắt mẹ chẳng rơi!

Như một lẽ thường tình thời gian là thang thuốc kỳ diệu có thể chữa lành những vết thương trên cơ thể con người bằng cách tạo ra những cái sẹo và được che lấp đi bằng áo quần. Nhưng vết thương trong tâm hồn người mẹ liệt sỹ Việt Nam dù đã gần nửa thế kỷ qua đi, sao hôm nay vẫn như còn rớm máu mỗi lần đến ngày giỗ con hay mỗi khi bàn chân gầy của mẹ run run bước qua cầu đi về phía trời xanh để lần tìm lại đứa con yêu của mình. Không rõ đến ngày mẹ về thế giới bên kia liệu vết thương đó có thành sẹo (?) Chữ nào trong câu thơ trên là một trạng từ chỉ một mốc thời gian cố định, cái ngày con mẹ đã ra đi vĩnh viễn hay là tính từ chỉ số những người con của mẹ đã ra đi, thật khó mà xác định được. Tính không xác định của từ nào ở đây đã tạo nên chiều sâu trong trường liên tưởng của ngôn ngữ thơ, cũng như càng làm tăng thêm sức chịu đựng của những người mẹ Việt Nam anh hùng.

Có thể nói lịch sử dân tộc ta luôn gắn liền với những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Như vậy cũng có nghĩa là một bên nó luôn gắn với sự hy sinh của những con người bằng xương bằng thịt nơi chiến tuyến. Và còn lại phía bên kia là nỗi đau của những người mẹ, người vợ nơi hậu phương. Trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào người mẹ cũng là người phải gánh chịu nhiều thiệt thòi và khổ đau nhất. Chính mẹ chứ không phải ai khác đã nhiều lần phải dứt ra từng khúc ruột của mình để dâng hiến cho nền độc lập tự do của dân tộc. Để rồi khi cuộc chiến đã đi qua và với ai đó đã trở thành cổ tích, còn với mẹ, nó như mới xảy ra đâu đó và mãi mãi vẫn chỉ là hiện tại. Thời gian và không gian vật lý giờ đây đã trở nên quá chật chội và vô nghĩa. Cái còn lại đáng kể với mẹ bây giờ là nỗi đau trong cuộc kiếm tìm lại đứa con một đi không trở về.

Khác với người vợ trong bài thơ Thề non nước của Tản Đà chỉ biết khóc thương và chờ mong người chồng nơi biên tái trở về: Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày, còn người mẹ trong thơ của Nguyễn Đức Hạnh không chỉ có khóc thương cho đến khi Nước mắt trong veo không tính nổi giá thành, mà còn dám trèo đèo lội suối quyết đi tìm cho bằng được đứa con yêu của mình, mặc dù đã: Nửa thế kỷ tìm con run chân mẹ qua cầu. Tiếc thay... điều ấy vĩnh viễn chỉ là ước nguyện. Nhưng nào đâu mẹ có cần gì hơn thế nữa! Mẹ chỉ cần có ước nguyện tìm lại cái phần đời mà mình đã ký thác vào đứa con là mẹ có thể sống trọn kiếp người trên thế gian này. Ôi chao! Một cuộc rượt đuổi kiếm tìm cái không thể kiếm, bền bỉ, âm thầm và kỳ diệu làm sao! Nó đã xuyên thời gian và không gian lịch sử và vì thế nó trở nên vô định, nhưng là một sự thật hiển nhiên, mà chỉ có những người con của mẹ, kẻ đã từng bước ra từ cuộc chiến mới có thể thấu hiểu cho nỗi lòng mẹ thôi!

Bài thơ là một tấm lòng nhân hậu sẻ chia với những số phận không may đã sinh ra giữa thời đất nước có chiến tranh. Chiều sâu nhân bản là cái tưởng chừng xưa cũ như trái đất này. Vậy mà, càng đọc người ta càng thấy nó xoáy vào tâm can mình một nỗi đau nhân thế. Tựu trung lại ở đời cũng chỉ có hai điều là: NhớQuên. Nhưng chính điều đó đã làm thức dậy và luôn nhắc nhở chúng ta dù mai ngày có miếng ăn, miếng để, cuộc sống có thể sung túc hơn về vật chất, thì xin ai ơi chớ vội đạp ván qua cầu. Để có được cuộc sống bình yên hôm nay và mai sau đã có hàng triệu người vĩnh viễn ra đi không trở lại và cũng có ngần ấy những người vợ, người mẹ vẫn đang phải sống trong khổ đau và nước mắt.

Và có lẽ không có lời kết nào hơn cho bài viết nhỏ này bằng hai câu cuối của bài thơ trong dịp toàn Đảng toàn dân và tòa quân ta đang chuẩn bị long trọng kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7/1947- 27/7/2015:

Một ngàn lần nói những lời tiếc thương

xin một lần ghé vào mái nhà lợp rạ

Nhìn mẹ ta gầy lập cập giữa trời xanh./.

IP IP Logged
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.133 giây.