Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Tư tưởng Hồ Chí Minh
 Diễn đàn :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh :Tư tưởng Hồ Chí Minh
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Tác giả Nội dung
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 11:04am

Đất nước

                        Nguyễn Đình Thi
 
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha!
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da...
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà!
Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh.
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!

1948

(Rút trong tập thơ Người chiến sĩ, NXB Văn nghệ , 1956

Lời bình của Trịnh Thanh Sơn:

Bài thơ Đất nước được Nguyễn Đình Thi sáng tác vào cuối năm 1948 (theo hồi ức của nhà văn Tô Hoài) tại chiến khu Việt Bắc, mà cụ thể là ở vùng rừng núi Tuyên Quang. Lúc đó, ông đang là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn nghệ VN.

Đất nước ra đời sau bài hát Người Hà Nội chưa đầy một năm, vì vậy không khí trường ca vẫn còn thấm đẫm. Có thể coi Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một trường ca thu nhỏ, bởi nó mang trong mình đầy đủ những phẩm chất cốt lõi của một trường ca.

Chính vì vậy, bài thơ Đất nước đã là một gợi ý cho rất nhiều những trường ca sau này, xuất hiện trong thời chống Mỹ. Tôi nói là những "gợi ý", nhưng thực chất đó là những bài học về phương pháp tư tưởng, phong cách nghệ thuật, và cả thủ pháp nghệ thuật khi tiến hành một trường ca.

Tuy nhiên, bài thơ Đất nước vẫn nguyên vẹn và mãi nguyên vẹn là một bài thơ trữ tình hoành tráng và lộng lẫy. Nhà thơ sáng tác bài thơ này ở tuổi 24, ở tuổi ấy mà viết như thế, chỉ có những thiên tài mới làm nổi, chỉ có dân tộc và cách mạng mới làm nổi.

Tài năng của Nguyễn Đình Thi đã gặp được thiên thời - địa lợi - nhân hòa, gặp được ngọn gió lớn mà ta vẫn quen gọi là "bão táp Cách mạng", vì thế mà vút lên, vì thế mà bền lâu, vì thế mà cách tân và hiện đại.

Nói "hiện đại" là ngầm so sánh với cái gì trước đó là "chưa hiện đại". Ở đây tôi muốn dừng lại ở một so sánh nho nhỏ, rằng Đất nước của Nguyễn Đình Thi hiện đại hơn Thơ mới trước đó không bao lâu.

Ông mở đầu bài thơ bằng việc tả mùa thu, một mùa thu như bao mùa thu trong cách nhìn của mùa thu thứ nhất, mùa thu đầu tiên:

Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Ta nhớ những ngày thu đã xa...

"Những ngày thu đã xa" là những ngày thu nào vậy? Phải chăng, đó là một nỗi buồn trong thơ Bích Khê:

Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi... thu mênh mông!

Hay trong thơ Chế Lan Viên trước đó:

Thu đến đây, chừ biết nói răng
Chừ đây buồn giận biết sao ngăn
Tìm trong những sắc hoa đang rụng
Ta kiếm trong hoa chút sắc tàn!

Không phải vậy, nỗi nhớ mùa thu năm xưa là một mùa thu rất khác. Đó là mùa thu năm 1946, đất nước sau bao cố gắng của Bác Hồ, vẫn phải một lần nữa đứng lên đánh Pháp, đấy là mùa thu nhà thơ trẻ phải rời Thủ đô Hà Nội thân yêu một lần nữa để trở lại chiến khu Việt Bắc, với niềm tin "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi". Phút chia tay với Thủ đô yêu dấu chưa đầy một tuổi Dân chủ Cộng hòa, tâm trạng nhà thơ mới bồi hồi, xao xuyến, xa xót làm sao:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy!

Thơ ấy có nhạc và có hoa. Giai điệu đã sẵn trong giai điệu và tiết tấu của thơ rồi, còn vẽ một bức tranh lụa hay sơn dầu thì sao? Khó nhất là tả cho được cái buổi sáng "chớm lạnh", và những đường phố dài "xao xác hơi may". Còn "người ra đi đầu không ngoảnh lại" và "sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" chắc chắn là "nhìn được" bằng đường nét, bố cục và mầu sắc.

Nhưng không phải vậy đâu, tả được cái tình rưng rưng nước mắt của người "ra đi đầu không ngoảnh lại" kia mới là thật khó. Cái ấy, cái điều chiêm cảm ấy, chỉ có thơ mới làm được!

Và thơ cũng làm được một điều hơn thế, rằng chỉ sau hai khổ thơ đầu với lưu luyến, buồn thương, đau xót tiễn đưa, mùa thu bỗng khác hẳn, sáng bừng lên với một mầu sắc khác, bởi tâm trạng của người thơ đã khác, khỏe mạnh, tự tin và sáng bừng lên:

Mùa thu nay khác rồi!

Chỉ với năm chữ mở đầu của khổ thơ thứ ba "Mùa thu nay khác rồi" ta thấy tâm thế của người thơ đã chuyển, đã vươn tới một vị thế cao hơn, tự tin và sung mãn hơn trong tầm vóc của một nội lực lớn. Hình tượng của nhà thơ bỗng cao sừng sững:

Ta đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc, nói cười, thiết tha...

Nhận thức về "nội hàm" của một mùa thu mới là vô cùng sáng rõ và cách tân, bởi đây là mùa thu khác, mùa thu của những người đã có quyền làm chủ núi đồi, làm chủ những rừng tre phấp phới, và là một "mùa thu thay áo mới", một mùa thu "trong biếc, nói cười, thiết tha!".

Câu cuối của khổ thơ này thật tài hoa, và nó là đặc sản của thi tài Nguyễn Đình Thi.

Sự kết hợp của những tính từ - động từ - trạng từ, bất ngờ đến nỗi làm ta phải sững sờ trong chiêm cảm một vẻ đẹp ngôn ngữ Việt mà trước đây chưa bao giờ có. Ai trong biếc? Ai nói cười? Ai thiết tha? Chính là hồn của mùa thu mới, hồn của dân tộc vậy!

Một câu thơ mà làm sáng cả non sông, đất nước và làm cho chúng ta tự hào, tự tin biết bao. Một đất nước, với những ngày thu ấy, sẽ mãi mãi trường tồn. Đó là chủ quyền của người Việt, của giống nòi dân Việt. Trong cảm hứng hào sảng ấy ông viết tiếp:

Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông chảy nặng phù sa...

Để rồi, vang vọng những câu thơ hào sảng nhất về giống nòi:

Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về

Ngày xưa nói về gì vậy?
Những buổi ngày xưa nói gì đây?

Và ông trả lời như một bích họa thắm đỏ máu xương, rằng:

Ôi! Những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai xé nát trời chiều

Và: Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

Tôi gọi những câu thơ này là những câu thơ thăng hoa nhất của người chiến sĩ - nghệ sĩ Nguyễn Đình Thi. Ngoài những gì hay và đẹp nhất mà ông đã dâng hiến cho nền thi ca hiện đại Việt Nam, những câu thơ trên, ông đã tự khiêm nhường bộc lộ một thiên tài thi ca, ít ai sánh nổi:

Cảm hứng rộng dài đất nước, dân tộc và cá nhân người chiến sĩ đã gắng quện vào nhau, hòa đồng trong nhau, để bản thân người nghệ sĩ bỗng trở thành một tế bào của đất nước. Một đất nước từng Ngời lên nét mặt quê hương/ Mỗi gốc lúa, bờ tre hồn hậu/ Cũng bật lên những tiếng căm hờn! Rồi ông nói, như hai triệu người dân chết đói nói, như tiếng vọng của những âm hồn:

Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da...

Đau buồn ấy là đau buồn ký sự, đau buồn nhiếp ảnh, đau buồn hội họa. Còn đau buồn và phản kháng thơ phải cao bút lên như thế này, sâu thẳm và triết luận trong một so sánh và phương pháp tư tưởng đầy nghịch lý, minh triết như thế này:

Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà...

Những câu thơ tưởng như một lời đại ngôn ấy, bỗng làm người đọc xúc động và thẩm thấu một ý nghĩa quan trọng trong triết học về lẽ sống. Ai giết nổi chim và hoa? Ai bắn được "lòng dân ta yêu nước thương nhà!" Ấy là sự bắn vào hư không, ấy là sự tàn sát trong vô vọng. Hệ quả cuối cùng, chỉ là sự thất bại mà thôi!

Chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn cầu đã thất bại hoàn toàn vì chân lý giản dị ấy, và Nguyễn Đình Thi - với một chiêm cảm lớn, đã tổng kết qua thơ.

Càng đọc Đất nước, chúng ta càng cảm nhận và thấu suốt, đó là một bài thơ lớn, được viết từ một tâm hồn, tâm hồn của một nghệ sĩ đồng hành với lòng dân, biết tôn vinh một giá trị vĩnh hằng, đó là tấm lòng cửa người dân với quê hương, đất nước. Non sông nước Việt vẫn trường tồn, đã trường tồn, đang trường tồn và sẽ trường tồn bởi một giá trị văn hóa vĩnh hằng, đó chính là: "Lòng dân ta yêu nước, thương nhà!

Trong những ngày mùa thu tháng Tám, kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đọc lại bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi, chúng ta cảm thấy một niềm tự hào dân tộc từ trong sâu thẳm tâm hồn:

Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn, đứng dậy sáng lòa!

Những câu thơ ấy cho ta gặp lại một mùa thu năm xưa, một mùa thu định mệnh của toàn dân tộc, và bỗng cảm thấy tâm hồn thanh thản, sạch trong "mát trong như sáng năm xưa".

Viết về bài thơ Đất nước, tôi ngỡ như được gặp lại ông - một Nguyễn Đình Thi ân tình và cởi mở, thường gật đầu hiền hậu khi gặp tôi ở sân 51 Trần Hưng Đạo, đôi khi vẫy tay gọi lôi lên phòng của ông, tặng tôi một tập thơ vừa xuất bản. Trong tôi, Nguyễn Đình Thi vĩnh hằng là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ lớn và độc đáo của dân tộc Việt.

Cùng với những bản nhạc Diệt phát xít, Người Hà Nội, bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi mãi mãi sống cùng non sông đất nước.

Theo Văn nghệ

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 11:37am
Mình anh và thu - Thơ Bùi Văn Hải

Sớm hôm nay vào thu
Lá khoe màu xanh biếc
Cây xù xì mộc mạc
Gió thủ thỉ ngọt ngào

Nghe theo lời của gió
Lá bỏ cây lá rơi
Em tin lời người lạ
Em bỏ anh em đi

Gió ghen thì gió tới
Gió phá rồi gió xa
Cây mọc lên từ đất
Lá cũng về đất thôi

Gió thì hay đổi thay
Cây muôn đời vẫn vậy
Không muốn làm cơn gió
Một mình anh … mùa thu …

Mua thu bao giờ cũng tuyệt đẹp.Vẻ đẹp của mùa thu đem đến cho thi sĩ những cảm nhận, những rung động tâm hồn khác nhau.Những cảm nhận và rung động đó nhiều khi còn do tác động của hoàn cảnh,của tâm trạng.Với Bùi văn Hải, một chàng trai còn rất đỗi trẻ trung, tâm hồn trong trẻo,sớm có cuộc sống nội tâm, đã có một mùa thu thật riêng biệt ”mình anh và thu”.
Nhan đề bài thơ đã đưa ta đến với nhân vật trữ tình ở đây là một chàng trai (tác giả) có một sự giao hòa gắn bó đặc biệt với mùa thu.Sự gắn bó giữa cá thể với vũ trụ hay chỉ là cái cớ để Bùi Văn Hải gửi vào đó khúc tâm tư?Mùa thu đôi khi được ví là mùa của tình yêu bởi chỉ có mùa thu mới đẹp đến quyến rũ lòng người mà tuổi yêu là tuổi đẹp nhất trên đời.Tuy nhiên, mùa thu nhiều khi còn là biểu tượng của một mối tình đẹp mà buồn .Vẻ đẹp của mùa thu là vẻ đẹp buồn trong mắt buồn .
Trước hết là vẻ đẹp của bức tranh thu được chạm khắc vào một buổi sáng sớm lúc thu sang:
Sáng hôm nay vào thu
Lá khoe màu xanh biếc
Cây xù xì mộc mạc
Gió thủ thỉ ngọt ngào.
Theo thể thơ ngũ ngôn cô đọng,súc tích và giọng thơ hồn nhiên trong trẻo như hồn người đang hòa quyện với thiên nhiên lúc vào thu.Câu đầu như một lời khẳng định mùa thu đã chính thức đến từ buổi sáng nay.Dấu hiệu của mùa thu được phát hiện bắt đầu từ màu xanh của lá.Thật thú vị,Màu xanh của lá được Hải cảm nhận như đứa trẻ được mẹ thiên nhiên vừa khoác thêm cho chiếc áo mới màu xanh biếc đầy sức sống.Một cảm nhận rất mới lạ khác hẳn với những thi nhân thường vẽ mùa thu sang bằng màu vàng của lá.Chẳng hạn, Xuân Diệu đã ngạc nhiên khi phát hiện thấy:
Đây mùa thu tới!Mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng...
Trong con mắt của chàng trai trẻ Hà Thành,mùa thu vẫn xanh biêc không chỉ trong bầu trời,mặt nước mà trong cả màu xanh của lá.Có lẽ, đó cũng là một hình ảnh tả thực bởi mùa thu mới chỉ là bắt đầu,làm sao có thể chuyển màu áo mơ phai nhanh được.Nhận ra điều đó, ta càng trân trọng Bùi Hải đã rất chân thực ,không hề hoa lá, tô vé, màu mè chút nào.Cũng chính từ hình ảnh tả thực đó, ta càng thấy hiện rõ lên tâm hồn tươi xanh trẻ trung của Hải.Có lẽ, Vẻ đẹp của lá chính là vẻ đẹp của cô gái mà tình yêu với cây đã trở nên quấn quýt như một.Bởi, cây và lá tào nên sự sống trên cùng một cội rễ.
Cùng với màu xanh biếc của chiếc lá đã được mùa hè nuôi dưỡng bằng nắng và mưa là những thân cây xù xì mộc mạc đến không cần phải bàn luận thêm nữa.Mùa thu trong trẻo trẻ trung bởi màu xanh của lá,vừa có độ già nua, vững chãi của những thân cây xù xì được gợi lên bằng nghệ thuật tạo hình.Ngay sau đó là âm thanh của gió được nhân hóa như lời” thủ thỉ”của kẻ bất chợt từ đâu đến xen ngang giữa cuộc tình tuyệt đẹp của cây và lá.Gió trở thành kẻ thứ ba gieo rắc ngang trái.Những kẻ dối trá thì hay làm điều xấu xa .Còn kẻ thật thà thì lại dễ tin lời lừa phỉnh.Lời "thủ thỉ ngọt ngào" của gió chẳng khác gì "mật ngọt chết ruồi".Trong cuộc sống, không thiếu gì những cô gái vì ghen tuông ích kỉ đã xen vào chọc phá không ít mối tình đẹp đẽ.
Dường như tác giả chỉ mượn mùa thu làm duyên để bộc lộ câu chuyện tình lãng mạn của mình.Lá,cây trở thành biểu tượng của tình yêu.Thật thú vị khi ta chợt nhận ra vẻ đẹp chân chất,mộc mạc của chàng trai qua hình ảnh”Cây xù xì mộc mạc”.Cách diễn đạt thơ của Hải thật tinh tế đến ngưỡng mộ!Hàm ý của ngôn ngữ thơ rất sâu.Mới chỉ đọc qua,khó mà nhận ra được.
Đặc điểm của chàng trai hiền hậu, thật thà bao giờ cũng thế mà.Con gái bao giờ cũng tinh tế hơn, mạnh mẽ hơn ,nhất là cùng trang lứa(Con gái biết yêu trước con trai-hi...).Nhưng khi chàng trai bị tiếng gọi của tình yêu lên tiếng thì lại rất mãnh liệt..Cây không có lá làm sao cây sống nổi.Cây đã giành tất cả tình yêu của mình để chăt chiu cho lá thêm xanh thêm đẹp.Mà lá không có cành ,có cây làm sao lá sống? Hải đã đặt tình yêu của đôi lứa vào những biểu tượng đặc sắc.Nhưng ,khổ nỗi ở đời có câu:
"Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng"
Thật thông minh và tinh tế,Hải đã đặt tình yêu của cây và lá vào thử thách nghiệt ngã khi để gió đến "thủ thỉ ngọt ngào."Và, sự thật là tình yêu tuyệt đẹp của cây và lá bỗng chốc bị giói cuốn đi, rẽ chia một cách phũ phàng:
Nghe theo lời của gió
Lá bỏ cây lá rơi
Lá đã tin bạn một cách dại dột, mù quáng nên đã nghe lời của gió.Lá lặng lẽ bỏ cây ra đi không một lời từ biệt.Sự non nớt, vụng dại của tuổi trẻ đã khiến cả chàng trai và cô gái yêu nhau say đắm là thế, những tưởng giao hòa tuyệt vời là thế đã nhanh chóng phải hững hờ, chia phôi:
Em tin lời người lạ
Em bỏ anh em đi
Gió đã chủ động phá vỡ hạnh phúc của cây và lá không hề hối hận .Nhưng chính Lá cũng chưa đủ hiểu biết,chưa đủ bản lĩnh để gìn gữi tình yêu tuyệt dẹp với cây.Lá dại dột,cả tin khi nghe lời người lạ.Lá rỗi hờn ,bỏ cây ra đi không một lý do khiến cây bàng hoàng trước bất ngờ.Lời của cây cũng thật mộc mạc “Em bỏ anh em đi”.Cây đau đớn,tiếc nuối và thẫn thờ đến không hiểu vì sao lá nỡ tình bỏ cây ra đi không một lời từ biệt như thế.Tình yêu ban đầu ngọt ngào bao nhiêu thì giờ đây cay đắng xót xa bấy nhiêu.Cây cũng biết lý do chỉ là lời của người lạ.Trời ơi, sao lá nông nổi thế,dại dột thế!
lá lặng lẽ bỏ cây nhưng lá vẫn yêu cây mà không biết làm cách nào để quay lại.Phải chăng là lòng tự trọng .lá hiểu lầm cây một cách thật đáng tiếc.Gió muốn cây và lá luôn phải đau khổ:
Gió ghen thì gió tới
Gió phá rồi gió xa
Phải chăng:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nhưng gió có là gì của nhau với cây(hoặc lá) đâu mà ghen ghét đố kị vậy.Gió nỡ lòng lại tàn phá duyên mới của lá với cây,khiến cây phải chịu hình phạt ghen tuông của gió là phải sống cô đơn mãi mãi.Trong nỗi buồn đến tím lòng vì yêu đó,Cây không còn thiết sống nữa.Cây nhận ra sâu sắc triết lý nhân sinh:
Cây mọc lên từ đất
Lá cũng về đất thôi.
Lời thơ ngậm ngùi,chua chát khi Cây phải sớm nếm trải vị đắng tình yêu.Hạnh phúc cõi đời thật mong manh như chiếc lá.Âm điêu của bài thơ trầm lắng xuống,gợi bao suy tưởng.Cây nhận ra chân lý:dù lá có bỏ cây ra đi thì trước sau cả cây và lá đều cũng phải trở với đất.Tôi chợt nhớ đến bài hát “Trở về cát bụi”:
“Sống trên đời này, tựa phù du có ngay rồi lại mất
Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen...
....
Này lời hứa,này thủy chung,này tình yêu chót gửi đầu môi
Cũng thế mà thôi,sẽ hết ngày mai,như áng mây cuối trời...”
Nhận ra sự mong manh, phũ phàng của hạnh phúc trần thế,Cây trở nên bao dung, rắn giỏi đến lạ kỳ:
Gió thì hay thay đổi
Cây muôn đời vẫn vậy
Không muốn làm cơn gió
Một mình anh...mùa thu...
Gió thậtđáng trách! Mượn gió, B Hải nhân hóa gió thành kẻ chuyên đi phá hoại hạnh phúc người khác.Một hàng tiểu nhân không nên tồn tại trên thế gian này.
Cây mệt mỏi,thất vọng vì gió.Sự thất vọng đó khiến cây không muốn làm cơn gió để gió cuốn đi, bỏ lại cả gốc rễ ,nguồn cội của mình.Đó chính là lý do để cây muốn”Một mình anh...mùa thu...”
Cuối bài thơ,Bùi Hải đã thoát khỏi hình tượng cây để trở về với chính mình khi xưng là “anh”Đây là câu thơ chất đầy tình ý nhất.Còn lại mình anh với mùa thu hay còn lại sự cô đơn, còn lại một bản ngã rất đàn ông luôn bất khuất,vững vàng trước mọi đổi thay của cuộc sống?Câu kết của bài thơ gợi tới rất nhiều ý sâu xa còn nghệ thuậtdùng dấuchấm lửng ngắt quãng rất tinh tế.Chẳng khác gì:
Người khôn ăn nói nửa chừng
Để cho người dại nửa mừng nửa lo
Đó là cách nói vừa ngập ngừng,vừa dứt khoát.Cô gái(Lá) sẽ nghĩ gì khi đọc bài thơ này?
Riêng tôi, tôi rất tâm đắc với câu kết đặc sắc này khi nhận ra sự khẳng định mạnh mẽ của chàng trai.Chàng trai khẳng định vẻ đẹp bất tử của mùa thu-đồng thời khẳng định vẻ đẹp bất tử của tình yêu, của tâm hồn chàng trai.Và, tình yêu của họ mãi là bản tình ca không bao giờ quên..
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 11:40am
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Có được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà ?
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ con chưa có, mẹ già chưa khâu,
Áo anh sứt chỉ đã lâu.
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng .
Khâu rồi anh sẽ trả công
Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho,
Giúp cho một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm,
Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo,
Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau...


Mở đầu bài ca là một không gian nghệ thuật, vừa có cái không khí thiêng liêng của đình làng, lại vừa có vẻ đẹp dân dã mà rất đỗi thơ mộng, của đầm sen đưa hương sực nức. Chàng trai tát nước trong cảnh ấy, và vắt áo trên cành hoa sen nào đấy:


Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.


Đây quả là điều phi lý! Bởi cành hoa sen (một cách gọi quen thuộc ở một số địa phương: lên chùa bẻ một cành sen...) mềm mại như vậy, làm sao có thể vắt áo lên được? Đây là nghệ thuật lấy cái không để nói cái có mà ta thường thấy trong văn học, nghệ thuật phương Đông. Cái có chính là chiếc áo vương hương sen thanh cao, để cho ai bắt được, cũng vương chút hương mơ mộng ấy. Nhưng cái có ấy (chiếc áo bỏ quên), chắc chi đã có, mà chỉ là cái cớ vờ vĩnh, được tạo ra như một lý do, để có dịp gặp gỡ ngừời con gái mà thổ lộ tâm tình.

Cái câu hỏi mà chàng trai nêu ra, cũng là câu hỏi bâng quơ, là cách nói ỡm ờ:



Có được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà?


Tuy rằng không khẳng định, chỉ là lời ướm hỏi thôi: ''có được'', nhưng lại cứ như thắt buộc ai đó. ''Hay là'', là lời đắn đo dò xét rất ý nhị về một điều khó nói, nhưng cũng là niềm hi vọng, được người con gái giữ làm kỷ vật, làm ''của tin'' cho mối tình. Cái thâm thúy mà mộc mạc của ca dao chính là ở đây.Nếu có chiếc áo thật, cô gái đem ra trả cho chàng trai, thì ôi thôi ! chẳng còn gì để nói nữa. Chính vì không có áo, nên cô gái biết thanh minh thế nào đây? Không trả được áo, là có chuyện rồi!Và đây chính là duyên cớ để chàng trai bám riết. Không cần đợi cô gái trả lời, chàng trai tiếp tục vịn vào chiếc áo để phô bày tình cảnh của mình:





Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ con chưa có mẹ già chưa khâu


Ra thế! Chiếc áo mà anh ta bỏ quên không đẹp đẽ gì, mà chỉ là áo rách. Nhưng không phải là rách rứới. Rách mà vẫn lành. Vì chỉ là sứt chỉ ở nơi kín đáo, nếu không để ý thì không thấy được.Khoe áo rách không phải là mục đích, mà vẫn chỉ là cái cớ tiếp theo được đưa ra để bộc lộ là mình chưa có vợ. Trong nhà chỉ có một mẹ già cần được người chăm sóc thôi.

Quá thể hơn, là:


Áo anh sứt chỉ đã lâu




Nói chuyện sứt chỉ đã lâu, là nhằm mục đích gì đây ? Sao không sợ cô gái chê là kẻ lười biếng?




Qua đây, ta thấy chàng trai có trí tuệ sâu sắc. Nói điều này là anh ta vừa tự khoe mình, lại vừa đề cao người con gái.Anh không phải là người dễ dãi trong tình cảm đâu. Không phải bất kì ai cũng có thể vá được áo cho anh ta. Người mà anh ta đợi chờ giờ đây mới thấy, mới xứng đáng với tình anh.Đấy chính là người không mang trả áo. Cho nên anh ta buông ra một câu lấp lửng:


Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng

Sao lại là ''cô ấy'', chứ không phải là em, là cô gái mà anh ta đang đòi trả áo ? Chàng trai này qủa là người sắc sảo đến dễ sợ. Nói lảng ra để tránh đòn, nếu như cô gái không có tình ý gì. Mặt khác, đây cũng là cách thử lòng ai đó. Nếu cô gái có tình ý, nghe nói đến ''cô ấy'' sẽ chạnh lòng, và không giấu được thái độ, thì khi đó ''cô ấy'', không phải là ai khác, ngoài cô em đang đối diện với chàng trai.Vịệc trao tình của chàng trai, đã là một ngệ thuật,và cũng là nghệ thuật tài tình của ca dao.

Còn những thứ mà chàng trai muốn trao tặng cô gái, thực ra là một lễ cưới trọn vẹn, theo phong tục ngày xưa:



Khâu rồi anh sẽ trả công
Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho
Giúp cho một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm...


Như vậy chuyện tát nước đầu đình và chuyện bỏ quên áo, chẳng qua chỉ là sự việc làm nền cho việc bộc lộ tình cảm yêu thương mà thôi. Qua đây cho ta thấy được tâm hồn của cha ông ta vừa lãng mạn, vừa tinh tế, cùng với một trí tuệ vô cùng sắc sảo, mà con cháu hôm nay chưa chắc đã theo kịp.

Trần Thanh Xuân

IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 2:25pm
Thử bình bài thơ " Mẹ của anh" của nữ sĩ Xuân Quỳnh
 
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong

Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen

Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao

Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa

Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà

Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau mỗi âu lo nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh không cùng

Giữa ngàn hoa cỏ núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắc chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.
 
-------------------------------------------
 
Xuân Quỳnh, nữ thi sĩ tài hoa của thế kỷ XX đã đi xa hai mươi mấy năm rồi (Chị mất trong một vụ tai nạn giao thông thương tâm, thảm khốc cùng với chồng là Lưu Quang Vũ và con gái Quỳnh Thơ ngày 29/8/1988) nhưng di sản thơ của Chị còn lại mãi với đời.

Viết về "mẹ" là đề tài muôn thuở của thi sĩ, còn viết về "mẹ chồng" chân thành, tự nhiên và hay như Chị thì quả là hiếm có.

Ta hãy thử đến với bài thơ "Mẹ của Anh" để cảm nhận một góc chân dung nhà thơ trong vai trò cô dâu Việt Nam mới, với tình cảm mới, quan điểm mới trong cuộc sống mới.

Ba cái tên được nói đến trong bài thơ này gồm: Em, Anh và Mẹ,  ngay từ tựa đề đã cho bạn đọc biết nội dung không nói về Em, cũng không nói về Anh mà nói về Mẹ. Mở đầu Chị viết:

"Phái đâu mẹ của riêng anh

Mẹ là mẹ của chúng mình đó thôi

Mẹ tuy không đẻ, không nuôi

Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong."


Rõ ràng Chị đang nói, đang ghen với Anh, nhưng thực ra đó chỉ là cái cớ để bày  tỏ tình cảm của mình đối với Mẹ cho tự nhiên, cho hợp lẽ. Chị khéo léo giới thiệu (khoe)  với mọi người  về "mẹ của chúng mình đó thôi". Mẹ không sinh thành, dưỡng dục mà Chị  phải chịu ơn mẹ cả một đời chưa hết, bởi  Mẹ đã ban tặng Chị đứa con trai yêu dấu của mình, ban tặng Chị một nửa bên kia cuộc dời mà tạo hoá đã vô tình hoặc cố tình để quên khi tạo ra loài người, ban tặng  niềm  khát khao hạnh phúc cháy bỏng của Chị.

"Ngày xưa má mẹ cũng hồng

Bên anh, mẹ thức, lo từng cơn đau

Bây giờ tóc mẹ trắng phau

Để cho mái tóc trên đầu anh đen

Đâu con dốc nắng đường quen

Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần

Thương anh thương cả bước chân

Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao"


 Hình ảnh người mẹ một thời xuân sắc, suốt đời tảo tần, lam lũ, hy sinh tất cả  tất thảy vì con, đã hiện  dần lên theo từng con chữ mộc mạc, chan chứa ân tình của Chị.

 Mẹ đã từng  một thời con gái làm bao chàng trai say đắm. Lấy chồng, sinh con mẹ dồn tất cả tình thương cho con, như "thân cò lặn lội...", như "cá chuối đắm đuối vì con". Đêm khuya mẹ thức trắng bên con mỗi khi con đau ốm, rồi mặt khi mặt trời chưa kịp thức, bước chân mẹ đã tất bật trên đôi vai trĩu nặng, mua khoai chợ gần, bán sắn chợ xa để lo miếng ăn hàng ngày cho cả nhà trong  những năm khốn khó.

"Lời ru mẹ hát thuở nào

Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh.

Nào là hoa bưởi, hoa chanh

Nào câu quan họ mái đình cây đa

Xin đừng bắt chước câu ca

Đi về dối mẹ để mà yêu nhau"


 Anh - Lưu Quang Vũ, người chồng  hào hoa, tài hoa thân yêu của Chị nổi tiếng một phần nhờ sự lao động miệt mài say mê sáng tạo, một phần nhờ ảnh hưởng sâu xa từ gen di truyền, từ những lời ru ngọt ngào, những câu chuyện cổ tích thấm đẫm tính nhân văn  mà đêm đêm Mẹ đã thổi vào tâm hồn Anh ngay từ thời thơ bé.

            Những người đã từng làm "mẹ chồng" nói chung và mẹ chồng  của Chị nói riêng, khi đọc những lời tâm sự của "nàng dâu" Xuân Quỳnh, thử hỏi có ai không xốn xang, xúc động?

'Mẹ không ghét bỏ em đâu

Yêu anh, em đã là dâu trong nhà"


Chị đang nói với Anh đấy ư? không! Chị đang nói với Mẹ đấy.

            Như con chim đậu phải cành cong, cuộc hôn nhân  một lần  dang dở nhưng Chị vẫn can đảm, tự tin khẳng định điều này, bởi Chị tin vào sự chân thành, trách nhiệm làm dâu của bản thân, bởi Chị  hiểu, cảm nhận những đức tính cao đẹp, lòng bao dung, sự cảm thông sâu sắc, Mẹ của Chị đã vượt lên quan niệm phong kiến lỗi thời đang đè nặng lên nếp nghĩ cố hữu của không ít "mẹ chồng" thời nay  để thuơng con dâu hiếu thảo như chính con gái của mình.

 Và để Mẹ yên tâm, vững tin hơn, Chị đã bày tỏ tâm sự của mình trong bài thơ "Người thứ hai":

"Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con
Bởi trước con, anh ấy là của Mẹ
Anh ấy có thể yêu con suốt một thời trai trẻ
Nhưng suốt đời, anh ấy yêu Mẹ, Mẹ ơi".


Rồi kết thúc, Chị lại tiếp tục khẳng định:

"Anh ấy có thể sống với con suốt cả cuộc đời
Mà cũng có thể chia tay ngay ngày mai, có thể ...

Nhưng anh ấy suốt đời yêu Mẹ
Dù thế nào, con cũng chỉ thứ hai.".

Mẹ không an tâm sao được khi cô con dâu đang đắm say trong niềm hạnh phúc, trong vòng tay ấm áp của Anh vẫn tự coi mình là là nhân vật số  hai, không bao giờ muốn và không thể soán ngôi nhân vật số một. Chị đã thay Anh bộc bạch  nỗi niềm với Mẹ  trong hoàn cảnh người đàn ông "đứng giữa" không thể trực tiếp nói ra mà nếu có thể nói ra cũng không  dễ gì mang lại hiệu quả. Cái lý lẽ Chị đưa ra phù hợp với quy luật tâm lý tình cảm nên dễ thuyết phục lòng người. Tôi đồ rằng trong sâu thẳm trái tim mình, Anh ngàn lần cám ơn Chị.

"Em xin hát tiếp lời ca

Ru anh sau nỗi âu lo nhọc nhằn

Hát tình yêu của chúng mình

Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng

Giữa ngàn hoa có núi sông

Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ"


Giới thiệu Mẹ với mọi người, đồng thời Chị nguyện làm tròn bổn phận của người vợ, xứng đáng với tình yêu mà Anh đã dành cho Chị.Tình yêu, hạnh phúc mong manh, nhỏ nhoi của Anh Chị nằm trong hạnh phúc lớn lao chung của dân tộc, hoà mình với thiên nhiên, núi sông, cây cỏ và trong hạnh phúc mênh mông, vô bờ của Mẹ.

 Như "Sóng" vỗ mạn "Thuyền", mạch thơ cứ dào dạt tuôn trào một cách tự nhiên, không gượng ép vần điệu, rất gần gũi với  dân ca, ca dao ( Ta thử đọc câu ca dao: "Yêu nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay" và câu thơ:Xin đừng bắt chước câu ca/ Đi về dối mẹ để mà yêu nhau).  Lấy sự chân thực làm điểm tựa cho cảm hứng sáng tạo, cảm xúc trong  thơ  đủ mọi tầng nấc và trong một  khoảnh khắc bất chợt được đẩy lên tột cùng cung bậc. Chị ít bận tâm trong việc đi tìm hình thức biểu hiện (có lần Xuân Quỳnh đã nói: "Đừng lo đi tìm ngôn ngữ, cảm xúc sẽ tự chọn được ngôn ngữ của mình").

 Chính sự chân thực một cách hồn nhiên, thoải mái, tâm hồn đa cảm, hóm hĩnh nhưng luôn tư duy sắc sảo, lý trí tỉnh táo đã định hình một phong cách, giọng điệu thơ riêng không lẫn với ai. Đọc thơ Chị, độc giả  thấy một Xuân Quỳnh hết lòng,  yêu thương hết lòng, lo âu, trăn trở hết lòng và cảm thấy có bóng dáng mình trong đó.

Thơ lục bát mà ngỡ như không phải lục bát.Tứ thơ hay, gọn, nội dung thể hiện đặc sắc hình như đã che khuất yếu tố kỹ thuật, nhưng soi thật kỹ  những "nhà chuyên môn" khó tính nhất cũng không dễ bắt bẻ tác giả  một lỗi nhỏ  về niêm luật. Như viên ngọc quý, nó càng trở nên long lanh hơn mỗi khi có tia sáng rọi vào, tôn thêm vẻ đẹp toàn bích của bài thơ.

              
   Chắt chiu từ những ngày xưa

               Mẹ sinh anh để bây giờ cho em..."


Hai câu kết chân chất, đơn sơ mà vô cùng sâu lắng. Mẹ là cội nguồn hạnh phúc. Đó là lời tri ân chân thành của Chị, là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Trước mắt ta, Xuân Quỳnh duờng như không còn là "nhà thơ" nữa, Chị đã hoá thân và thực sự là một người con dâu mẫu mực, một cô Tấm thảo hiền.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cuộc sống vật chất đã đầy đủ hơn. Nhiều ngưòi không còn phải quan tâm nhièu đến "cơm áo gạo tiền" hàng ngày nữa. Song do nhiều nhu cầu mới phát sinh, do tác động của môi trường, hoàn cảnh ... nên hạnh phúc gia đình, nề nếp gia phong đang trở nên mong manh hơn. Thiển nghĩ, bài thơ này sẽ góp phần nhỏ thức dậy những phẩm chất, tình cảm tốt đẹp đang ngủ quên trong trái tim mỗi người phụ nữ - Người "kiến trúc sư" của gia đình như thành ngữ Việt Nam có câu: "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm".

Cảm thụ, thưởng thức, đánh giá thơ là tuỳ thuộc vào quan điểm, sở thích của mỗi người, mỗi thời đại, nhưng có lẽ những vần  thơ tha thiết của Chị còn đọng mãi trong lòng thế hệ bạn đọc hôm nay và mai sau./.

Tháng 8/201

Trần Đình Nhân

IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 2:38pm
Hoa cỏ may
Xuân Quỳnh
 
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu

Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.

Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm dầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?
 
 
 
Có lẽ ai đã trãi qua tuổi thơ,đã từng đi trên những con đường hai bên hoa cỏ xanh rì, đặc biệt là những người đã từng một lần sống là làng quê đều biết đến “hoa cỏ may”. Một lòai hoa cỏ dại, sống kiên cường và thường bám vào khách đi đường nếu phớt lờ qua nó. Nhưng lại ít người biết về “sự tích hoa cỏ may”, một câu chuyện nhuốm màu cổ tích nhưng là một câu chuyện tình yêu thủy chung. Đó là câu chuyện tình yêu của đôi trai gái (nàng là tiểu thư khuê các, chàng là chàng trai đốn củi nghèo xơ xác) ở cùng một làng quê,họ yêu nhau thắm thiết nhưng bị gia đình hai bên ngăn cản .Họ trốn đi, chung sống với nhau, cùng lao động và hưởng thụ tình yêu chân thành cùng nhau. Nhưng rồi chàng trai lại cảm thấy thương vợ vì người con gái trước chân yếu tay mềm nay lại phải lao động vất vả.Không can tâm chàng ra đi quyết chí làm ăn, hẹn 3 năm trở về.Nhưng 3 năm ròng trôi qua,quyết chí đợi, đợi mãi, đợi mãi không thấy chồng quay về. Rồi một hôm người vợ cũng quyết định khăn gói lên đường đi tìm chồng. Nàng ra đi, đi đến đâu cũng hỏi về tung tích người chồng yêu quý. Biển người mênh mông bao nhiêu, đất trời rộng lớn bao nhiêu cũng không làm người con gái ấy nản lòng. Tình yêu vẫn luôn thường trực và bùng cháy trong sâu thẳm trái tim, một trái tim khát khao kiếm tìm hạnh phúc.


“Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu”

Bài thơ mở đầu là khung cảnh thiên nhiên, một khung cảnh thiên nhiên có vẻ như “động” nhưng lại “tĩnh”. Sự có mặt của ba động từ “chuyển”, “gọi” và “về” cộng với trạng thái được diễn tả qua hai từ “ngẩn ngơ” và “xao xuyến”dồn dập thì phải nói đây là một bức tranh sự sống sinh động với đủ cung bậc cảm xúc chứ ? Nhưng có lẽ như vậy vẫn chưa đủ, dù phối được nhiều động từ trong một đoạn thơ 4 dòng nhưng cái không gian bao trùm lại có vẻ tĩnh mịch và mênh mông vẫn còn rộng lắm. Đó là một bãi cát dài ven sông, trời đất đang vào độ giao thoa giữa hai mùa , một lối nhỏ, lối đi đã từng…nhưng là lối xưa.Câu chuyện ấy, câu chuyện có ai đó gọi tên em sau vòm lá là câu chuyện đã qua.Cái đang trôi về cùng dòng sông là kí ức là kỉ niệm một thời đã qua. Dù là chuyện cũ nhưng vẫn xốn xang lòng người như đang đâu đây. Vậy nên cảnh có vẻ đang chuyển động trước mắt nhưng đều là kí ức mà thôi.

Sự nguyên sơ và tĩnh lặng lại tưởng chừng như bị phá vỡ bởi sự xuất hiện của một con người, nhân vật trữ tình “em”.Nhưng không cảnh vẫn vậy “em” cũng chỉ là em của một thời điểm nào đã qua. Như vậy một khung cảnh hoàn toàn là thiên nhiên vắng vẻ .Thiên nhiên có vẻ buồn nhưng lại ngập đầy kỉ niệm.Trời đất đang độ vào thu :có thể cảm nhận được nắng và gió.Sự dịu dàng của cỏ cây ngập đầy trong sự vương vấn,luyến tiếc mùa đã qua hay là đang lạ lẫm trước cảnh của mùa mới sang?

Nếu như “cảnh” hiện lên bao trùm cả khổ thơ đầu thì sang khổ thơ thứ 2 “tình” lại là thứ được diễn tả nhiều hơn.

“Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ
Thơ viết đôi dòng theo gió xa”

Cảnh đang chuyển động mạnh dần, mạch thơ dãn ra.Mây và gió bay đi để lại một bầu trời nguyên sơ, tinh khôi. Không còn gợn mây che lấp cái xanh bao la của bầu trời, trời “biếc” hơn, đẹp như buổi ban đầu. Nhà thơ đang muốn nói về bầu trời hay nói về “em”? Đã từng trãi qua một mối tình, mối tình ấy đầy ắp kỉ niệm gắn liền với lối nhỏ và dòng sông. Đã từng một lần sóng gợn trên mặt biển, tức là đã từng có niềm vui và nỗi buồn. Tâm hồn ấy đã từng trãi qua “sóng gió” nhưng vẫn giữ được “lòng” “nguyên sơ”, phải chăng là một tâm hồn đẹ!.Chuyện đã qua không thể không tiếc nuối,không thể ko nhớ, quan trọng là điều còn lại là hãy giữ cho mình những tình cảm đẹp, quên hết những gì buồn phiền. Phải để cho lòng rộng bay trong gió, để tâm hồn bình yên và thanh thản, thế nên đắng cay gửi lại bao mùa cũ, thơ viết đôi dòng theo gió xa. Đấy cũng không phải là sự chối từ hay vứt bỏ, đấy là sự giải thóat.

Nếu như ở khổ thơ trên nhà thơ dùng âm “ơ”(trong từ ngơ) thì sang khổ thơ thứ hai tác giả sử dụng lại một lần nữa âm này trong chữ “sơ”. Việc dùng âm vần cuối câu không những có tác dụng kéo gần hai khổ thơ mà còn làm cho âm điệu của khổ thơ dài ra, rộng mở, rộng mở cùng dòng sông,kéo dài cùng thời gian hay chính là tâm hồn đang rộng mở (trả “đắng cay” lại cho đời )?!

Chuyến sang khổ thơ cuối, tâm sự tình yêu của người con gái lại càng thể hiện rõ nét hơn:

“Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm dầy”

Trở lại với câu chuyện Sự tích hoa cỏ may: khi người vợ ra đi, đã bôn ba khắp nơi, đã mỏi mệt tìm khắp chốn mà vẫn không thấy người chồng ở đâu.Nàng chết đi, Ngọc Hoàng thương tình cho hóa thành loài hoa có tên là hoa cỏ may,rồi chị gió mang nàng đi khắp nơi.Sức sống của hoa cỏ may mãnh liệt như sự chung thủy của nàng. Rồi cứ có khách bộ hành đi qua là cỏ may lại víu vào để hỏi thăm tin tức về chồng.

Có lẽ vì thế nên “ khắp nẻo mới dâng đầy hoa cỏ may”, vậy là trong bài thơ không những có sông,có cát, có gío, có mây…. mà còn có cả một vùng mêng mông hoa cỏ may.Hoa cỏ may lại mảnh mai nên dễ bị gió làm lung lay.Hãy tưởng tượng cả một vùng hoa đang đung đưa trước gió.Cảnh hoàn toàn không “tĩnh” nữa mà là “động”.Nhân vật trữ tình “em” lại xuất hiện, “sơ ý” hay cố tình đây ? nàng để cỏ may găm đầy. Lúc này tâm hồn người con gái đang xao xuyến mạnh mẽ, thốt nên ở hai câu cuối :

“Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?”

Dù đã dặn lòng phải kiên cường nhưng không thể tránh khỏi những phút giây suy nghĩ chính chắn. Tình yêu là thứ có thật, nhưng tình yêu “mỏng mảnh” lắm, làm sao biết được “lòng anh có đổi thay” hay không?Tác giả không dùng từ “mỏnh manh”(từ ghép chính phụ ) mà lại dùng “mỏng mảnh”(từ ghép đẳng lập) để gây cho người đọc cảm giác tách rời, một sự gắn kết yếu ớt, thế nên mới dễ dẫn đến “đổi thay”.

Hai câu cuối bài thơ trở thành điểm nhấn cho cả bài thơ, đúng là “cảnh sinh tình”. Nếu khổ đầu nhẹ nhàng sâu lắng, khổ thứ hai là triết lí thế thái nhân tình thì khổ thứ ba nhân vật trữ tình đã mở lòng, tràn trề cảm xúc, lời tâm tình được gửi đến ai đó đâu đây. Hoa cỏ may sắc nhọn, nhức nhối một nỗi niềm đau của tình yêu trong xa cách.
 
Sưu tầm
IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 4:53pm
Điều anh không biết” của Phi Tuyết Ba - lời tự tình của người con gái đang yêu
 

Riêng điều ấy không bao giờ anh biết

Có một chiều em lỡ hẹn cùng anh

Chiều vàng xanh nơi góc phố xanh

Em đến gần cánh cửa xanh hé mở

 

Trên bậc cửa có một đôi guốc đỏ

Đôi chân em sao khó bước qua

Chỉ một bước thôi là hết cách xa

Anh gần lắm phía bên kia đôi dép

 

Chẳng hiểu vì sao chân em lui bước

Chiều đương xanh bên cánh cửa xanh

Có lẽ nào em lỡ hẹn cùng anh

Đôi guốc đỏ biết rằng em đã tới

 

Bài thơ là lời tự tình của một người con gái đang yêu. Có lẽ vì thế mà khung cảnh hẹn hò ngập tràn sự sống, niềm tin và hi vọng. Thời gian là một buổi chiều có ánh nắng mặt trời chiếu vàng góc phố. Phải chăng, cái thời điểm ấy thường gợi một chút buồn và thoáng một nỗi trống vắng trong lòng người. Nhưng không, dường như trong mắt người đang yêu thì dù trong thời điểm ấy, con người vẫn cảm thấy vui, bồn chồn và xao xuyến. Tả cảnh buổi chiều nhưng sắc màu chủ đạo ở đây lại là màu xanh (chiều vàng xanh; góc phố xanh; cánh cửa xanh ). Đó là màu của niềm tin, màu của hi vọng, màu của sự tươi mới lâu bền và hơn thế nữa là màu của hạnh phúc. Có lẽ vì thế mà tác giả ca khúc “Màu xanh tình yêu” cũng đã từng thốt lên rằng:

“ Nguyện cầu cho tình yêu mãi xanh

 Như màu xanh tình anh với em”

Giá như cái màu xanh ấy cứ bình yên mãi thế! Thế mà, một điều bất ngờ đã xảy ra:

“Trên bậc cửa có một đôi guốc đỏ”

 

Để rồi:

“ Có một chiều em lỡ hẹn cùng anh”

 “Đôi guốc đỏ” sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu vị trí của nó không phải là ở đúng bậc cửa nhà anh. Mà dù nó có ở bậc cửa nhà anh thì đã sao chứ? Vì nó có thể là của một người bạn, một người chị, một người em gái quen thân nào đó thì sao? Nhưng khi yêu, trước cảnh tượng ấy có người con gái nào lại có thể nghĩ được nhiều như thế! Để rồi trên cái nền màu xanh hạnh phúc ấy, xuất hiện một màu đỏ - một màu đỏ thách thức và ám ảnh lòng người. Màu đỏ của đôi guốc trở thành một vách ngăn giữa “anh” và “em” – giữa người ở phía ngoài và bên trong cánh cửa xanh ấy. Đó chính là sự vô lý nhưng cũng rất hợp lý của bài thơ.

“Đôi chân em sao khó bước qua

Chỉ một bước thôi là hết cách xa

Anh gần lắm phía bên kia đôi guốc”

         Lại một sự vô lý nữa xuất hiện trong ba câu thơ. Chỉ cần “em” bước qua đôi guốc ấy thì mọi sự sẽ rõ ràng. Nhưng chỉ vì lòng tự ái, sự nghi ngờ và thậm chí có cả một chút ghen tuông đã khiến cô gái quyết đinh lui bước. “Anh” và “em” chỉ cách nhau bởi một chút không gian mong manh là một đôi guốc và một cánh cửa “hé mở”. Giữa họ chỉ là một đôi guốc vậy mà cái quyết định bước qua hay không lại khó khăn đến thế? Phải chăng cô gái không thể bước vào vì sợ phải đối diện với một sự thật phũ phàng? Phải chăng cô gái muốn lui bước để trả thù anh bằng một sự im lặng mãi mãi?.. Dù bước vào hay không thì con tim đang yêu cũng có cái lý riêng của nó.

Tình cảm con người vốn dĩ là vậy. Nó rất khó hiểu,  khó giải thích và khó gọi thành tên. Ở đây, ta chỉ biết rằng cô gái đã không chiến thắng nổi chính bản thân mình cho nên cuộc hẹn hò đã không thành. Nhưng dù sao cô gái vẫn muốn nói:

“Có lẽ nào em lỡ hẹn cùng anh

Đôi guốc đỏ biết rằng em đã tới”

Là một lời tự thanh minh với chính mình nhưng ta hình dung được một người con gái với tâm hồn cao thượng đến vô cùng.

“Riêng điều ấy không bao giờ anh biết

Có một chiều em lỡ hẹn cùng anh”.

Tình yêu là như vậy bởi một chút lặng thầm cho tình thêm mãnh liệt!

IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 5:08pm

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò... sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ... Mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta-chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

NGUYỄN DUY

(Trích trong tập Mẹ và em-NXB Thanh Hóa 1987)

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa có bảy khổ, hai mươi tám câu và 196 âm tiết nhưng đã có 11 cặp từ láy: bần thần, lấm láp, xăm xăm, rối ren, đánh đu, nghêu ngao, đom đóm, chập chờn, leo lẻo, xa xôi, xa xăm - đây cũng là một trong những cách biểu đạt thành công nhất của Nguyễn Duy trong thể thơ “6 và 8” (như cách nhà thơ gọi) góp phần cho bài thơ thăng hoa và tạo mạch đồng cảm từ tác giả đến người đọc.

 

Hình ảnh người mẹ của Nguyễn Duy được viết bằng một cảm xúc chân thành, sâu lắng khi mẹ nhà thơ đã vào cõi vĩnh hằng:

 

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

 

Mạch cảm xúc ở khổ thơ thứ ba khiến ta xao xuyến lạ thường, khi nó thâm trầm bới lời nhắn gởi:

 

Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

 

Và những lời ru ấy đã “tiếp nối” trong tâm hồn nhà thơ bằng trải nghiệm dân gian mà đúc kết thành:

 
Mẹ ru cái lẽ ở đời

Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn

Bà ru mẹ… Mẹ ru con

Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

 

Ở bài thơ Tre VN, Nguyễn Duy cũng đã nói đến quy luật tự nhiên rằng: “Tre già măng mọc có gì lạ đâu!”. Nhưng nhà thơ “sợ” những nét đẹp truyền thống của dân tộc mai một dần, nỗi lo, cái “sợ” ấy có nguyên do của nó vì ngày nay đã có bao nhiêu người mẹ trẻ ở thành thị không biết hát ru con...

Với cảm nhận của riêng tôi, tôi tin bài thơ sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu thơ - vì chính nhà thơ đã “nói hộ” thay cho bao người về một nỗi niềm:

 
Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Đọc lên từ trong cõi lòng, ai lại không rơm rớm nước mắt? 

                                                                                                             M.T



Sửa bởi GiaodauLamXung - 07 Nov 2011 lúc 4:22pm
IP IP Logged
Hangnga
Guest
Guest
Ảnh đại diện

Gia nhập: 30 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 83
Trích dẫn Hangnga Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 8:43pm
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Hàn Mặc Tử
 
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

 
Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

 
Mơ khách đường xa, khách đường xa,

Áo em trắng quá nhìn không ra...

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

 
Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ như một lời trách móc, đồng thời cũng là lời mời gọi tha thiết, một lời nhắn nhủ nhẹ nhàn của nhân vật trữ tình với lời nhớ nhung da diết:

“Sao anh không về chơi thôn vĩ”



Sao đã lâu lắm rồi anh không trờ về thăm thôn vĩ ? hay nói đúng hơn là anh không về thăm em, thăm lại người xưa. Đây là lời của nhân vật trữ tình đồng thời cũng là lời của tác giả, ông ước mơ một lần được về lại thăm thôn vĩ để:
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”



Cảnh vật của thôn vĩ thật nên thơ và tươi mát. Thôn vĩ_nơi có những hàng cau thẳng tấp còn đọng lại những giọt sương đêm đang vươn mình đón “nắng mới lên”. Nắng chiếu lên hàng cao vào buổi sáng kết hợp với sương đêm làm cho khu vườn ánh lên màu “xanh như ngọc”. Rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên”, còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cảm giác tươi non tràn đầy sức sống . Cảnh vật vùa xa lại vừa gần, vừa thực lại vừa ảo, vừa mơ hồ lại vừa rõ ràng, tạo nên sự huyền ảo, lấp lánh của “vườn ai”.



Trong không gian ấy ta bắt gặp một khuôn “mặt chữ điền” của cô gái thấp thoáng sau những “lá trúc che ngang”. Tính cách thôn nữ hiện lên sự duyên dáng nhưng hàm chứa một chút tinh nghịch mà vẫn dịu dàng.



“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”



Mặt chữ điền thường là kiểu khuôn mặt của đàn ông nên ta hiểu ở đây mặt cô gái không phải là mặt chữ điền mà nó được tạo nên bởi những lá trúc, điều đó đã tạo nên một khuôn mặt dịu dàng mà lại thật đáng yêu.

Hàn Mặc Tử hẳn đã mang trong lòng một tình yêu Huế tha thiết nên ông đã vẽ nên một bức tranh thôn vĩ bằng ngôn từ hết sức nên thơ và đậm đà bản sắc dân tộc.



Vừa vui vẻ, hạnh phúc đến say mê như lạc vào cõi tiên khi ký ức trở về với thôn vĩ là thế, bỗng chốc lại buồn bã, suy tư:

“Gió theo lối gió, mây đường mây”



Câu thơ chia thành hai vế: “gió theo lối gió/ mây đường mây”. Gió và mây là đôi bạn tâm giao trong vũ trụ vậy mà lại quay lung lại với nhau, hình thức diễn đạt thật tinh tế, chân thực, nó chứa đựng một nội dung tinh tế. Gió cuộn mình trong gió, mây cuộn mình trong mây, mây và gió như những kẻ xa lạ, quay lưng lại với nhau mang hai nổi buồn bã, cô đơn. Điều này là một sự thật nghịch lí thế nhưng trong văn chương lại chấp nhận cái phi lí ấy.

Bầu trời buồn bã là thế, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn:

“Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”



Ở đây, tác giả dùng thủ pháp nhân hóa “dòng nước buồn thiu” như cõi lòng người đang mỏi mệt, nỗi lòng quạnh hiu. Mặt nước buồn, lòng sông buồn nên bờ bải cũng u sầu. “Hoa bắp lay” gợi tả sự khô héo, tàn úa, hoa bắp khẽ lay trước gió.



Sự tương phản của hình ảnh, tâm trạng và tứ thơ của hai khổ thơ và lời mời mọc kia còn vương lại chút say của lòng người, chẳng khác gì:

“anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”



Mỗi người mỗi nẻo, quay lưng lại với nhau không bận tâm, quyến luyến, cảnh vật mang một nổi buồn da diết đến thế!



Thế nhưng khi đêm xuống trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng thay đổi:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”



Trăng gắn liền với thơ của Hàn Mặc Tử, ông có rất nhiều bài thơ viết về trăng:
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò”

(trăng ngọc trăng vàng)



Hay :
“trăng nằm sóng soải trên cành cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi”

(bẽn lẽn_gái quê)





Với Hàn Mặc Tử có trăng là có sông trăng, có đời là có bến để đợi chờ, có sông là có thuyền về trú ẩn. Đây cũng chính là nét đặc sắc của bài thơ. Một bức tranh thật trữ tình, lãng mạn. Thuyền và sông trăng thật đẹp và hài hòa biết bao. Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, đợi chờ, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như trăng của người thôn vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ dành cho người con gái xứ Huế tha thiết đến nhường nào. Nhà thơ sợ mình sẽ lở hẹn cùng trăng, cùng người con gái Huế hay đúng hơn là sợ cô gái bị lỡ làng vì thuyền kia sẽ không kịp về bến hay sẽ không bao giờ về bến xưa để bến nơi đây thấp thỏm chờ mong, em nơi đây vẫn đợi vẫn chờ.

Khi con người ta không còn tha thiết với thực tại thì lại tìm đến với hư ảo, vô cùng:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa”





Câu thơ có lối ngắt nhịp rất lạ 1/3/3: Mơ/ khách đường xa/ khách đường xa. Điệp ngữ “khách đường xa” là khách thể, mà chủ thể ngồi đây đang mong ngóng đến nao lòng: và đấy là “mơ”. “Mơ” là những gì chưa xảy ra trong hiện thực, mơ về một người đang chập chờn lúc ẩn lúc hiện, vì vậy, mà cái nhìn qua đôi mắt của nhà thơ tấc cả đều trở nên hư ảo:

“Áo em trắng quá nhìn không ra”





Xứ Huế mộng mơ, lắm sương khói. Sương khói đã trắng mà còn thêm màu áo em “trắng quá”. Màu trắng quá là màu không bình thường, đó là màu của hu vô, màu của riêng Hàn Mặc Tử. Hình ảnh của người thiếu nữ như tan loãng trong cái màu trắng và màu sương khói huyền ảo ấy khiến nhà thơ “ nhìn không ra” và biến tấc cả thành “mờ nhân ảnh” tấc cả như trôi vào hư vô:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”





Cũng chính vì thế mà nhà thơ cảm thấy bân khoăn, chơi vơi, hụt hẫng. Tác giả tự hỏi “ở đây” là ở đâu? Huế hay Quy Nhơn hay là trong giấc mơ của Hàn Mặc Tử. vì cả Huế và Quy Nhơn đều có sương giăng vào những ngày cuối thu và đầu xuân, tác giả không xác định được không gian vì khói sương của đất trời đã làm mờ đi tấc cả chỉ còn một lòng thiết tha hướng tới tình người.

Bài thơ được mở đầu và kết thúc cũng bằng một câu hỏi tu từ:

“Ai biết tình ai có đậm đà”





Câu hỏi là sự băn khoăn, day dứt của nhà thơ. Hàn Mặc Tử như tự hỏi: cảnh vật và con người ở đây lung linh quá, mờ ảo quá như sương như khói. Câu hỏi tu từ có hai từ ai: “ai biết”, “ai có” vừa bộc lộ tình yêu thương vừa khao khát được yêu thương nhưng lại chứa đầy vô vọng. vì không biết “ai có tình ai có đậm đà” không nên anh chưa “về thăm thôn vĩ”. Toàn bài thơ là một vòng khép kín, mở đầu bằng một câu hỏi để đưa tác giả quay về với thôn vĩ trong tâm tưởng và câu hỏi kết thúc bài thơ lại kết thúc hành trình đó. Những câu hỏi được đưa ra tăng dần theo cấp bậc: “sao anh không về chơi thôn vĩ ?”, “vườn ai mướt quá xanh như ngọc?”, “thuyền ai đậu bến sông trăng đó?”, “ai biết tình ai có đậm đà?”, những câu hỏi xoáy sâu vào nội tâm của tác giả đang nhớ tới người mình yêu thương. Nếu so sánh trong hệ thống bài thơ ta bắt gặp từ “ai” lặp đi lặp lại bốn lần. “Ai”_ là một người nào đó không xác định là nhà thơ hay là cô gái? Đây có phải là nổi lòng của tác giả đã ẩn chứa một tình yêu sâu kín trong tâm hồn và muốn bộc bạch tâm trạng của mình cho người đọc hiểu và cảm thông_ một cái tôi trữ tình hết sức lãng mạn và thắm thiết.



Sửa bởi Hangnga - 03 Nov 2011 lúc 8:44pm
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 03 Nov 2011 lúc 10:23pm

TIẾNG RÚC CHIM ĐÊM

Những tối trăng ngời...dưới ánh sao khuya...
Anh vẫn đắm mình về phương ấy
Những câu thơ như ngôi sao bùng cháy
Và cuộc chia ly đã hoá cánh buồm...

    Con chim đêm rúc mãi ngoài cây
    Nó nói gì không biết ?
    Chắc con mái ham nơi vui thú khác
    Đã không về !...con trống gọi suốt đêm.

    Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
    Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố
    Có lẽ nào em không về nữa
    Để hồn anh hoang mạc, bơ vơ.

    Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ…
    Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi
    Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
    Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!

    Ngàn năm xưa cho tới bây giờ
    Ta muốn hỏi đến muôn đời sau nữa:
    Mọi giá trị vĩnh hằng , nếu có
    Sẽ là gì? Khi thiếu vắng em ta!...

    Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
    Anh bổi hổi một thời qua vọng lại...
    Và tất cả đã trở thành trống trải
    Sao em lại phụ bạc tình, con mái thương yêu?

11/11/1993

Trong đêm tiếng con chim nào đó kêu xé lên, rồi nó rúc từng hồi thảm thiết. Con chim đang có nỗi gì? Một tiếng kêu lẻ bóng, cô đơn giữa khoảng không vắng lặng:

Con chim đêm rúc mãi ngoài cây
Nó nói gì không biết ?

Mới chiều đó chúng còn có đàn, có đôi...và nhà thơ nào đó đã viết :" một tiếng chim ca sáng cả rừng" - Nhưng đó là tiếng chim ca chào bình minh buổi sớm, nó đã trở thành thông lệ theo bản năng véo von của loài chim sau giấc ngủ một đêm dài. Đằng này, Tiếng Rúc Chim Đêm (TRCĐ) là tiếng kêu phát ra từ trái tim đau đớn của con chim:

Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố

Tiếng chim gọi người yêu náo động vào trong tâm trạng của nhà thơ! Tiếng nó khắc khoải, rền rã vượt qua cả không gian, thời gian, năm tháng, nắng mưa, non cao, rừng rậm...trở thành tiếng vọng tình yêu của cả loài người:

Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!

Ý nói về sự sống muôn đời của con người: Tình yêu là ánh sáng, là ý nghĩa của sự tồn tại. Mọi giá trị thế giới sẽ không có gì cả, nếu không có tình yêu trai gái! Ở đoạn thơ đầu - cái tiếng rúc con chim trống như nỗi lòng cô quạnh của người con trai:

Chắc con mái ham nơi vui thú khác
Đã không về!...con trống gọi suốt đêm.

Cái đêm đó không hiểu vì sao con mái không về? Hay nó đã bỏ đi theo người tình khác ? và con chim đực cứ gọi, gọi mãi trong vô vọng. Cũng nỗi lòng đó, đứng trên thềm nhớ của không gian mênh mông, nhà thơ đã nhớ về em:

Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ…
Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi

" Dĩ vãng trăng mơ..." là mơ trong bóng trăng xưa. Tuy nói "mùa dĩ vãng" nhưng đó chỉ là những khoảnh khắc tươi đẹp đã vụt qua, còn lại trong hoài niệm. Hai câu thơ ấy trải ra trong đời cuốn đi theo chiều gió: Cuộc sống không chỉ có những năm tháng sung sướng, hạnh phúc bởi tình yêu? Mà còn là một vòng cát bụi cuộc đời. Như bóng mây bay qua - Người con trai chỉ còn biết đứng trên bờ của nỗi khát vọng dày vò, khắc khoải, đã xa rồi, xa mãi không bao giờ trở lại:

Có lẽ nào em không về nữa
Để hồn anh hoang mạc, bơ vơ

Nói tiếp về đoạn thơ ba , nó đã được tạo nên từ hai mảng màu: Từ cõi trăng mơ...đến dòng cát bụi - là một mảng "màu đời"! Chất liệu lấy ra từ trong sướng khổ, bèo dạt mây trôi, với bao vật vã tháng năm của cuộc đời. Còn mảng màu thứ hai, ý thơ nhảy vọt lên thăng hoa để bao quát cả bể thế thái nhân tình:

Mọi giá trị vĩnh hằng, nếu có
Sẽ là gì?...khi thiếu vắng em ta!

Ta hãy đọc đoạn thơ cuối cùng:

Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
Anh bổi hổi một thời qua vọng lại
Và tất cả đã trở thành trống trải
Sao em lại phụ bạc tình, con mái thương yêu ?

Con chim trống vẫn run rẩy cất tiếng kêu rúc lên trong vòm xanh. Trên bờ bến nhân gian, tiếng gọi của con chim ấy còn vọng mãi vào những năm tháng xa xôi vô cùng, vô tận kia - Như anh gọi em, như chàng gọi nàng...

Có thể sau đó con chim mái đã quay về và nó thanh minh với con chim trống rằng: Con mái nó không phụ tình! Chỉ bởi cuộc sống ngày nay kiếm miếng ăn khó khăn quá nên đã phải đi xa rồi bị lạc, lỡ đêm không về kịp được. Rồi nó hờn giận với con chim trống: đã không thông cảm cho nỗi khổ nhục của nó thì thôi, lại còn buông ra những lời oán trách nghĩ xấu cho nó? Thật là không phải lối!

Tiếng Rúc Chim Đêm là một bản tình ca, nó đã đưa tình yêu lên tận đỉnh tháp cao xa của loài người - khi mà các chủ nghĩa cùng chính trị thế giới đều rơi vào sự bế tắc, không giải thoát nổi... đã không thể đưa được cái phần bản chất cuồng dã của con người ra khỏi những vòng của dã tâm tội ác! (đức lương thiện ngày càng bị đàn áp, lấn át)...gieo lên những cảnh khổ hạnh điêu linh, bởi bất công bạo ngược vẫn hà hiếp bao kiếp sống của các chúng sinh - thì chính tình yêu trai gái: ĐẠO mà trời đất đã sinh ra lại cứu sống linh hồn cho cả trái đất này!

Vì nếu như không có cả niềm đam mê tột cùng của hạnh phúc gái trai: thì thế giới - chắc con người sẽ chẳng khác nào những giống sinh linh nhung nhúc lâm vào cái cảnh bị tâm thần loạn trí...và khắp toàn cầu sẽ phủ toàn một màu băng tang trắng.

Tình yêu - Để con người quên vợi đi những tâm địa độc ác của mình. Người ta không cần đến chiến tranh, con người không còn ham vọng bóc lột nhau nữa...và thế giới chỉ còn vang lên trong tiếng gọi của hoà bình! Đó cũng chính là linh hồn, ý tưởng chân dung của bài thơ Tiếng Rúc Chim Đêm này, là ý nghĩa nhân bản thiêng liêng đối với tình yêu và sự sống của thế giới con người!...



Sửa bởi Hoangtube - 03 Nov 2011 lúc 10:32pm
IP IP Logged
Thao nhi
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 16 Aug 2010
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 774
Trích dẫn Thao nhi Replybullet Ngày gửi: 04 Nov 2011 lúc 6:06am
"Ghen"  của Thanh Trắc Nguyễn Văn


Giận em đập nát câu thề
Nắng hồng rơi vỡ dầm dề mưa tuôn
Bão dông giăng kín mây buồn
Gió tan tác nhớ, sóng cuồn cuộn đau...

Bây giờ người ấy trầu cau
Dửng dưng qua bến sông sâu, xuống đò
Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hóa đá... Hết chờ, hết mong!

Lội đò tiễn sáo sang sông
Câu thơ xưa thả bềnh bồng hoàng hôn
Vung tay bỏng lửa ghen hờn
Dở dang giờ nhặt cô đơn bốn mùa...

Một mối tình tan vỡ có rất nhiều nguyên do và chẳng nguyên do nào giống nguyên do nào. Ấy thế mới là tình yêu! Tình yêu đâu có sẵn một lối mòn, có chung một công thức? Ở bài thơ này, mối tình kia tan vỡ là do người con trai đã ghen– cái ghen bỏng lửa. Những câu thơ trĩu nặng nỗi niềm tiếc nuối, đớn đau và sám hối bởi một mối tình đã mất… Thể thơ lục bát quen thuộc, đề tài cũng không mới và thi liệu mang đậm chất truyền thống, song bài thơ đã gây ấn tượng và cuốn hút người đọc chính bởi tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Ghen là một trạng thái sẵn có, thường trực và tiềm ẩn trong tình yêu. Chúng ta, những kẻ đã yêu và đang yêu, chắc cũng hơn một lần có cảm giác ấy. Và khi cơn ghen “bốc hoả”, thì người trong cuộc không còn sáng suốt nữa: “Giận em đập nát câu thề”. Hai chữ “đập nát” cho thấy tính chất quyết liệt, sôi sục trong hành động. Thế rồi bao nhiêu thề bồi, hẹn ước bấy lâu đã tan tành. Vây quanh nhân vật trữ tình chỉ còn lại sóng gió, mây mưa và dông bão. Nỗi đau ở đây lớn quá! Tác giả phải mượn đến những trạng thái của thiên nhiên để diễn tả: Nắng vỡ, mây buồn, mưa thì dầm dề, bão dông lại giăng kín… Dường như vẫn chưa đủ, nỗi đau lại trào lên, quặn thắt, tan tác, cuồn cuộn trong sóng, trong gió.

Người đọc không biết nhân vật trữ tình đã ghen vì cớ gì, chỉ biết rằng, giờ đây, trong tâm hồn anh cứ ngồn ngộn đớn đau và cô đơn. Cơn ghen quyết liệt và mù quáng của kẻ si tình đã dẫn đến một hiện thực phũ phàng, đôi lứa phân li, chia lìa, xa cách: “Bây giờ người ấy trầu cau/ Dửng dưng qua bến sông sâu xuống đò”. Người thương năm nào nay đã “xuống đò”, “sang sông”. Mà lại sang sông một cách “dửng dưng”, lạnh lùng. Còn lại phía bên này là nỗi lẻ loi, hẫng hụt như dâng ngập cả bến sông:

Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hoá đá… Hết chờ, hết mong!

Thì ra, người trong cuộc tuy ghen nhưng vẫn còn yêu, vẫn chờ vẫn mong, vẫn còn nặng tình lắm! Mà càng nặng tình lại càng quặn đau, ngậm ngùi. Người thương đi lấy chồng đâu phải người ta phụ bạc, chỉ tại mình nông nổi “ vung tay quá trán”. Chỉ một cơn ghen bỏng lửa trong khoảnh khắc ngắn ngủi, si mê và mù quáng mà nỗi đau cứ dằng dặc cả đời người. Hai chữ “vung tay” chất chứa cả một nỗi sám hối ghê gớm của người trong cuộc.

Bài thơ có tên là “Ghen”, song điều tác giả muốn nói không chỉ có vậy. Ghen chỉ là biểu hiện bên ngoài của sự ích kỉ, hẹp hòi và mù quáng. Dẫu biết rằng đã yêu thì phải ghen, song để có được một tình yêu trọn vẹn thì phải biết độ lượng, vị tha… Đừng để phải ân hận muộn màng!


                                    Trần Thị Tuyết Hạnh




Sửa bởi Thao nhi - 04 Nov 2011 lúc 6:07am
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 04 Nov 2011 lúc 6:27am
Tương tư của Nguyễn Bính

Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông,
Một người chín nhớ mười mong một người,
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng,

Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng,

Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành,
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi,

Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai hỏi ai người biết cho,
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau,

Nhà em có một giàn trầu,
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng,
Thôn Ðoài thì nhớ thôn Ðông,
Cau thôn Ðoài nhớ trầu không thôn nào.

Màu sắc dân tộc trong Tương tư của Nguyễn Bính?
Nguyễn Bính thuộc thế hệ các nhà Thơ mới. Nhưng nếu phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, thì Nguyễn Bính lại tìm về với điệu thơ dân tộc.

“Lỡ bước sang ngang” là tác phẩm được chú ý hơn cả trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính trước cách mạng. Bằng lối ví von mộc mạc duyên dáng, mang phong vị ca dao: tác phẩm này đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương đất nước và một tình người đằm thắm thiết tha. Bài thơ “Tương tư” được in lần đầu trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang”. Đây là bài thơ khá tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính nói chung và cho lập “Lỡ bước sang ngang” nói riêng.

Tương tư là trai gái nhớ nhau. Dĩ nhiên đây là nỗi niềm u ẩn của những người yêu nhau phải xa nhau. “Tương tư” là một thi đề quen thuộc trong cả văn chương dân gian lẫn văn chương bác học. Trước Nguyễn Bính đã có những thi sĩ lừng danh như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… viết về đề tài này. Và ngay trong làng “Thơ mới” đã có bài “Tương tư chiều” nổi tiếng của Xuân Diệu. Tất cả những điều đó là những thử thách to lớn đối với những cây bút đi sau. Nguyễn Bính đã vượt qua được thử thách đó, mang đến cho đề tài này phần nội dung mới và cách nói mới.

Nỗi niềm “Tương tư” của Nguyễn Bính được thể hiện bằng những sắc thái muôn thuở của chuyện trai gái yêu nhau mà phải xa nhau. Có nhớ nhung, có trách móc, có giận hờn, và dĩ nhiên cả khắc khoải đợi chờ…Nỗi niềm tương tư ở đây chưa đến độ cháy bóng mãnh liệt như trong thơ Xuân Diệu (“Bữa ni lạnh, mạt trời đi ngủ - Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em!”), nhưng cũng thật tha thiết chân thành:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gío mưa là bệnh của giời

Tương tư là bện của tôi yêu nàng”.

Thì ra, nếu gió mưa là “căn bệnh”, là sự vận động thường xuyên của thiên nhiên thì nhớ mong là căn bệnh cố hữu diễn ra như một quy luật tất yếu của những người đa tình, đa cảm, dường như có mặt ở trên đời này chỉ để thương thầm nhớ vụng. Giữa chàng trai – nhân vật trữ tình – và bạn gái dường như chẳng có cách trở gì về cả không gian lẫn thời gian? Họ ở chung một làng, chỉ cách nhau có “một đầu đình”. Cô gái có thể thuận lợi đủ điều càng khiến cho nhân vật trữ tình càng thêm băn khoăn thêm hờn dỗi. Nhưng nào có ai đâu mà chờ với đợi. Cũng như một số bài thơ khác của Nguyễn Bính thường nói đến mối tình đơn phương (như trong bài Hoa và rượu. Người phương nên lời trách móc, hờn dỗi kia rõ ràng trở thành vu vơ. Thực ra, những lời nói đó chính là sự tự bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, khao khát yêu thương của chính nhà thơ. Khi cuộc đời còn những mối tình đơn phương, khi còn những con tim ít tuân theo những quy tắc rạch ròi; thì người đọc cũng không mấy ai nõ trách Nguyễn Bính đã “tương tư” một cách vu vơ…

Đặc biệt nỗi niềm chờ mong đáng trân trọng ấy đã đựoc nhà thơ thể hiện một cách mới mẻ. Trước hết là hình ảnh cái “tôi” có nhu cầu giãi bày, phơi trải được Nguyễn Bính diễn tả một cách trực diện không chút vòng vo:

“Gió mưa là bện của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Ngoài ra còn phải kể đến việc tác giả đã thành công khi đưa vào lời ăn tiếng nói của người nhà quê trong cuộc sống thường nhật. Những lời ăn tiếng nói ấy xuất hiện một cách tự nhiên mộc mạc, tạo nên không khí dân dã, quê mùa cho toàn bài thơ:

“Hai thôn chung lại một làng,

Có sao bên ấy chẳng sang bên này?

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”

Đưa vào thơ lời ăn tiếng nói của đời thường, Nguyễn Bính cũng như những nhà Thơ mới đã gặt hái được một mùa hoa trái bội thu. Thơ của họ trở nên gần gũi với người đọc và nó góp phần phát hiện ra những cái mới mẻ của con người và tạo vật, mà trước đây ít nhiều thi ca bác học chưa làm được.

Như vậy, nội dung “Tương tư” có tính chất muôn thuở đã được nhà thơ Nguyễn Bính thể hiện bằng một lời nói hiện dại, mang dấu của thời đại, phản ánh một mảng tâm hồn của lớp thanh niên tiểu tư sản những năm 30 của thế kỷ này.

Song giá trị cơ bản của bài thơ không chỉ ở chỗ tác giả diễn tả khá mới mẻ cái “tôi” thiết tha chân thành, khao khát yêu đương; mà điêu chủ yếu nó gợi lên được cái “hồn xưa đất nước”, theo cách nói của nhà phê bình Hoài Thanh. “Hồn xưa đất nước” không nằm riêng ở chi tiết nào, câu thơ nào mà toát ra từ toàn bộ bài thơ qua hệ thống hình ảnh, lời ví von, cũng như giọng điệu chung.

Vốn sinh ra ở một nước nông nghiệp, cho dù đã từng “dan díu với kính thành” nói theo Nguyễn Bính, mấy ai trong số chúng ta không có trong mình một đôi kỷ niệm về một làng quê Việt Nam truyền thống? Tương tư có khả năng khơi gợi trong đáy sâu tâm hồn người đọc. Trong khi các nhà thơ cùng thời Xuân Diệu hay Lưu Trọng Lư chịu ảnh hưởng sâu đậm thơ phương Tây và chính điều đó đem lại cho phong trào Thơ mới những nét đặc sắc, thì Nguyễn Bính lại thành công khi ông tìm về với điệu thơ dân tộc, với làng quê Việt Nam thân thuộc, với những hình ảnh gần gũi tự ngàn xưa: những con bướm trắng, bướm vàng vẽ vòng trên các vườn hoa cải hoa vàng, những vườn bưởi vườn cam ngào ngạt hương thơm, ven đê là ruộng dâu bãi đay, bên giậu mùng tơi, cạnh giếng khơi là những cô thôn nữ đôn hậu, quanh năm dệt lụa chăn tằm, trẩy hội, xem chèo,… với trang phục cổ truyền: áo đồng lầm, quần lĩnh tía, yếm lụa sồi… Ở bài thơ “Tương tư” dường như có một sự kết nối giữa hệ thống hình ảnh đã trở thành ước lệ đối với làng quê Việt Nam. Ở đó có thôn Đoài, thôn Đông, có con đò và bến nước, có hàng cau và giàn trầu… Ở đó còn có nơi sinh thành và nuôi dưỡng lối thơ lục bát và Nguyễn Bính đã sử dụng nhuần nhuyễn lối thơ này, cách ví von mộc mạc, thực chất là những ẩn dụ: bến – đò, hoa - bướm, trầu – cau, thôn Đông – thôn Đoài… Hệ thống hình ảnh, lối thơ truyền thống với cách ví von ấy đã đánh thức con người nhà quê lâu nay ẩn náu trong lòng độc giả, làm cho họ bồi hồi xao xuyến về một làng quê Việt Nam, một dân tộc Việt Nam gần gũi và thiêng liêng.

Không những thế, “Hồn xưa đất nước” còn được biểu hiện ngay trong lối suy nghĩ gắn với trời đất, cỏ cây quê hương. Ngày xưa, năm tháng trôi qua đã được ông cha ta miêu tả qua sự biến đổi của cây lá:

“Nửa năm hơi tiếng vừa quen

Sân ngô cành biếc đã chén lá vàng”.

(“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)

Nhân vật trữ tình trong bài thơ này cũng đo đếm thời gian dựa vào chính sự thay đổi của cảnh sắc thiên nhiên. Điều này được thể hiện bằng những câu thơ dân dã, mộc mạc:

“Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”.

Đồng thời thiên nhiên còn là chuẩn mực để nhân vật trữ tình nhớ nhung, suy tưởng: “Gió mưa là bệnh của giời – Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Do sống hoà hợp gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên, nên trong ca dao – dân ca, trai gái quê ta không chỉ mượn Thuyền và Bến, Sen - Hồ, Mận – Đào… để giãi bày tình yêu một cách kín đáo vừa duyên dáng, vừa tinh tế. Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng triệt để các cách nói ấy mang lại hiệu quả nghệ thuật đáng kể. Nếu như ở khổ thơ thứ hai còn có câu dường như lạc hệ thốn, thiếu sự dung dị(“Hoa khuê các, “bướm giang hồ gặp nhau”) thì khổ thơ cuối cùng chính là sự kết tinh nghệ thuật của toàn bài. Ở khổ thơ này “hồn xưa đất nước” toát lên từ cách dùng hình ảnh, cách bộc lộ tình cảm kín đáo, mộc mạc của tác giả. Thay vì lối diễn đạt trực tiếp ở phần đầu đến khổ thơ cuối, Nguyễn Bính dùng lối diễn đạt gián tiếp rất tinh tế, phảng phất chất hương đồng cỏ nội của ca dao thuần khiết:

“Nhà em có một giàn giầu

Nhà tôi có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Trong phong trào Thơ mới, nhiều thi sĩ như Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân… miêu tả được những bức tranh quê tươi đẹp. Nhưng có lẽ chỉ mình Nguyễn Bính nói đúng được cái hồn quê Việt Nam. Ngày nay ở nông thôn Việt Nam phong cảnh cũng như hồn người đã đổi khác rất nhiều. Thanh niên nam nữ thường thích điệu bộ bò hơn là áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, xe Cub đã thay cho ngựa tía võng điều…

Tuy vậy, phần nào bài thơ “Tương tư” trên đây của Nguyễn Bính vẫn như một dấu tích tâm hồn dân tộc, góp phần cho tâm hồn người đọc thêm phong phú và tươi sáng. Đấy chính là sự đóng góp đặc sắc của nhà thơ trong bài thơ này nói riêng và trong phần nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trước Cách mạng nói chung, đấy cũng là lý do khiến nhiều người yêu thích thơ ông.

Theo Trần Quang
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 2:39pm
Mai em về nhà chồng


Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi
Cớ sao cơn mưa xứ đồi lại đến cùng anh
Đêm thương buồn giữa hạ?

Chỉ còn đêm mưa này
Ngày mai em về nhà chồng
Mưa giăng trắng cánh đồng
Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả
Anh nhìn em qua mưa hun hút đường dài...

Mọi sự đều không đúng lúc
Đã quá muộn để nói lời yêu đương
Lại quá sớm khi nói lời giã biệt!
Mai em về nhà chồng
Hết rồi những cơn mưa ướt mái đầu con gái
Một đêm nào chúng ta chia tay
Bong bóng nước dưới chân dập dờn nghìn hoa trắng...
Mai em về nhà chồng
Mưa theo em ròng ròng thương nhớ
Mai em về nhà chồng
Nước mắt gửi vào mưa âm thầm khung cửa...

Anh thức qua đêm nhìn mưa
Anh thức qua năm tháng nhìn em
Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu
Bong bóng nước trôi xuôi vỡ nghìn hoa cánh trắng
Đâu rồi dấu chân em
In mòn thời thiếu nữ?

Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi
Chỉ mình anh nhận thấy?
Sớm mai ra là góc bể chân trời
Chúng mình xa nhau mãi mãi
Đưa tiễn một thời con gái
Mưa bây giờ lùa ướt tóc anh...


Độc thoại trong đêm mưa và đối thoại trong im lặng đã là nguyên cớ để bài thơ ra đời. Cô em nào đấy ngày mai, hoặc ngày kia đi lấy chồng, đâu có quan trọng! Điều chính yếu là từ rất lâu rồi, THB đã để tuột cơ hội tìm một tình yêu và hạnh phúc đích thực... Nỗi cô đơn và cảm giác bất lực xót xa trước những gì tốt đẹp ta hằng khao khát cứ rời xa ta từng ngày từng giờ đã là một nguồn cảm hứng thơ ca của nhiều thời đại, và thật không may (hay là may mắn?) THB đã bị chúng bất chợt "tóm" mất hồn vía trong một đêm mưa thật buồn!
Anh thức qua đêm nhìn mưa
Anh thức qua năm tháng nhìn em
Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu


Cái cách mà tác giả "thức" qua đêm nhìn mưa để rồi liên tưởng tới những năm tháng dài, tới cả cuộc đời "thức" để nhìn em, để nhìn tình yêu quả là đậm "chất THB": thông minh, biến hóa một cách tài hoa, nhưng nhờ cảm xúc mạnh mà ấn tượng về "tiểu xảo" đã bị xóa nhòa trong thụ cảm người đọc. Thức qua cả cuộc đời để nhìn tình yêu, tìm tình yêu, sao có cái gì đó thật xa vời, vô vọng, song vẫn cứ phải làm thế, như một thứ định mệnh; có điều nỗi buồn rưng rưng bởi Tình yêu chưa thành, chưa tìm thấy, ở đây vô tình hòa nhập với khát vọng về sự hoàn thiện nên nó mang một giá trị về Thẩm mỹ và Nhân cách.
Cả cái triết lý này nữa:
Mọi sự đều không đúng lúc
đã quá muộn để nói lời yêu đương
lại quá sớm khi nói lời giã biệt…


Sự thông minh đã không biến chúng thành triết lý vặt, "khổ lắm biết rồi", bởi có những vần thơ phập phồng nhớ thương tiếc nuối làm nền trải khắp bài để chúng trở thành phát hiện bất ngờ mới mẻ về nhân tình thế thái - điều mà chúng ta vẫn gặp phải song ít khi ngẫm về chúng như một chiêm nghiệm thấm thía - không phải chỉ riêng trong Tình yêu, mà còn cho mọi lĩnh vực của quan hệ xã hội mà ở đây Tình yêu chỉ là một cái cớ trực tiếp, cụ thể, như giọt nước làm đầy tràn cốc nước...
Ông thầy dạy văn bậc đại học giàu hồn thơ THB thời đó dường như vẫn chưa cắt được hết cái "đuôi" của một anh giáo làng quê mà hồi xưa từng được hình tượng hóa trong "thầy đồ Cóc" dân gian- bởi lẽ thi hứng và thi liệu trong bài thơ khá "siêu thực" này lại mang đậm âm hưởng ca dao Bắc Bộ ngàn đời:
Bong bóng nước dưới chân dập dờn nghìn hoa trắng...
Mai em về nhà chồng
Mưa theo em ròng ròng thương nhớ
Mai em về nhà chồng
Nước mắt gửi vào mưa âm thầm khung cửa...

Xứ đồi đêm ấy đã gợi cho THB  bao suy tưởng về Xứ Đoài nghèo khó thân thương của anh- nơi anh từng chứng kiến những cơn mưa ướt mái đầu con gái và có dấu chân em/ In mòn thời thiếu nữ... Trĩu buồn bởi ký ức, nhưng anh đã bình thản để Đưa tiễn một thời con gái  và chia tay với một "thời xa vắng" của mình:
Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi
Chỉ mình anh nhận thấy?
Sớm mai ra là góc bể chân trời
Chúng mình xa nhau mãi mãi
Đưa tiễn một thời con gái
Mưa bây giờ lùa ướt tóc anh...


Có lẽ đây là một trong những bài thơ tập trung nhiều nhất tâm lực, cảm nghĩ, nước mắt, và... cả kỹ thuật thơ của THB! Đêm mưa Xuân Hòa ấy thức dậy trong anh bao đêm mưa và chiều mưa của một tuổi trẻ từ "xứ đồi" ra thành phố, nghèo túng, long đong, phải chật vật tìm hướng đi cho khát vọng đời mình, tìm cách giải tỏa bao cơn "tức nghẹn" của sự nghiệp văn chương, khi Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả và hạnh phúc tưởng đã nắm gọn trong tay mà hóa ra mịt mù sương khói... Giả sử anh có một cô người yêu nào sắp lấy chồng ngày đó thì chắc cũng không da diết, buồn thương khắc khoải đến thế! Mà thực ra, không ít cô gái- trong đó có học trò thầm đeo đuổi anh chàng tài hoa đeo kính cận dày cộp có khả năng làm tan hoang rơi rụng trái tim người bởi giọng nói tự tin thủ thỉ, và có thể cũng được anh đền đáp ít nhiều về tình cảm, rồi họ chẳng liên tiếp báo tin là sẽ đi lấy chồng đấy thôi! Nói cho công bằng, "cô em mai đi lấy chồng" trong bài thơ là hình bóng của tất cả những cô gái yêu anh, được anh trân trọng tình yêu đó- nhưng lại không có điều kiện để đến được với nhau... THB ít có khả năng dung hòa được giữa thực tế trần trụi và ước vọng cao vời, anh tìm an ủi trong học trò, bè bạn; không có bất kỳ khả năng "đập phá" nào, anh tìm sự giải tỏa trong thơ, nhạc, tranh vẽ... Và anh đã chọn một đêm mưa Xuân Hòa, đúng hơn là đêm mưa đó đã chọn anh- để lưu lại trong vườn Thơ một đóa hoa không màu mà chứa đủ các màu sắc như giọt mưa giữa bầu trời của tâm hồn thi sĩ...
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 3:01pm
VẦN THƠ SẦU RỤNG.

Vầng trăng từ độ lên ngôi

Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
Để tóc vướng vần thơ sầu rụng
Mái tóc buồn, thơ cũng buồn theo
Năm năm tiếng lụa se đều
Những ngày lạnh rớt gío vèo trong cây
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Vương hương mái tóc em nồng
Thời gian nhẹ rót một dòng buồn tênh.
_________Lưu Trọng Lư.

*Không biết tự bao giờ, dòng chảy của những vần điệu thể thơ lục bát đi vào hoà nhập đời sống của con người Việt Nam, chuyên chở bao ý tứ từ thâm thuý sâu xa đếm mộc mạc trữ tình. Vần Thơ Sầu Rụng của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư , trên cái nền thi vị ấy của dân tộc đã đến với mọi người: nhẹ nhàng, sâu lắng, bâng khuâng, luyến nhớ !,...

Vầng trăng từ độ lên ngôi
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ

Tròn vành vạnh như trăng mười sáu là tuổi xuân thì của thôn nữ duyên dáng tuổi cập kê. Em mang trong mình hình ảnh của cái đẹp vừa chớm (từ độ lên ngôi) là sự tinh khôi , viên mãn của tạo hoá. Cái đẹp được ẩn dụ và khắc hoạ rất ư tự nhiên, nhưng là cái đẹp trên nền thời gian không phải là bất di bất dịch:

Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ

Cái nhịp đi trầm buồn, là một sự chậm rãi nhưng hơi nặng nề của sự mòn mỏi, một công việc tuy thơ mộng mà đơn điệu!

Để tóc vướng vần thơ sầu rụng
Mái tóc buồn , thơ cũng buồn theo

Mái tóc mềm như thơ, những dòng thơ xuôi chiều, thướt tha có phần nào ủ dột : buồn và buồn . Một mái tóc dài đen óng ả, buông xuôi tự nhiên cùng khung cảnh trầm lắng thanh bình.Nhưng đó cũng là tâm trạng của em gái Xuân thì. Chỉ trong có hai câu thơ mà tác giả đã có ba từ nhắc đến tâm trạng: sầu, buồn và buồn, sự lập lại càng làm tăng cấp trạng thái tâm lý .

Năm năm tiếng lụa se đều
Những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây

Lại tiếp tục nhịp và tần số âm thanh của câu thơ trầm trầm :năm năm , một khoảng thời gian đã trôi qua, trôi qua thật lặng lẽ : Tiếng lụa se đều. Chỉ có bấy nhiêu thôi, Xuân qua Đông lại cũng chỉ mình em và khung cửi dồn nén đầy tâm sự , hỏi còn gì nữa ngoài hai tiếng sầu thương ! Khi ngoài kia thời gian làm lỗi nhịp bao dấu đời tạm bơ : Gío vèo trong cây.

Em vẫn sợ , nên em khẽ khàng, giờ phút này , yên lặng mà đáng trân trọng biết bao:

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái Đông

Em vẫn còn lắng nghe trong xa vắng một sự hồi âm của tiếng lòng khắc khoải, bởi em đang là phơi phới nồng nàn của lứa tuổi giao duyên. Mùi hương hàng xóm , là một hình ảnh ẩn dụ chỉ về những âm ba của cuộc sống bên ngoài , không loại trừ những âm ba tình tứ đang tiềm tàng mời gọi cô thôn nữ đáng thương. Đọc đến đây chúng ta chợt nhớ đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Du tả cảnh mà ngụ tình Thuý Kiều đối với Kim Trọng :

Hải đường lả ngọn Đông lân
Giọt sương gieo nặng cành Xuân la đà.

Đây không phải là sự vọng tưởng cao xa mà chính là nỗi niềm rất hiện thực và khát khao tình yêu chính đáng.

Hương của gió, hương của hoa cỏ đồng nội, hương của tình yêu thầm kín nhẹ nhàng thoáng qua, nhưng hình ảnh buồn của mái tóc lại trở về khiến nhịp thơ bỗng chùng xuống :

Vương hương mái tóc em nồng
Thời gian nhẹ rót một dòng buồn tênh.

Thời gian cứ thế , len lén nhẹ nhàng đi qua đến nỗi lòng người khó cảm nhận. Trên cái nền ấy,tâm trạng vẫn chưa nở hoa, cho dù bao sự hứa hẹn đang vây quanh mang dáng dấp của mùi hương đang dậy hơi men sự sống, Để rồi cuối cùng, nỗi buồn man mác vẫn ngự trị tâm tư.

Cái đẹp nổi bật của Vần Thơ Sầu Rụng là ý tứ câu chữ, nhịp điệu hài hoà đếm mức hoàn hảo.Một hình ảnh, một tâm trạng, một không gian, thời gian như nhẹ nhàng bổ sung nhau, tạo sức cộng hưởng, cảnh và tình vì thế mà hài hoà , tăng cấp cho nhau.Về một bình diện nào đó của sự liên tưởng, bài thơ như một bức tranh khắc hoạ nét đẹp của một thôn nữ , hiền hoà , cam phận trong sự quyến rũ nên thơ của xã hội nông thôn Việt nam tiền bán thế kỷ hai mươi.
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 3:03pm
NGỒI LẠI BÊN CẦU

người em xưa trở về đây một bận
con đường câm bỗng ánh sáng diệu kỳ
tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
mây của trời rồi gió sẽ mang đi

em - thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
màu cô đơn trên suối tóc la đà
còn gì nữa với mây trời đang trắng
đã vô tình trôi mãi bến sông xa

thôi nước mắt đã ghi lời trên đá
và cô đơn đã ghi dấu trên tay
chân đã bước trên lối về hoang vắng
còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

rồi em lại ra đi như đã đến
dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu
.

_____________Hoài Khanh.
 
Bình thơ : NGỒI LẠI BÊN CẦU của thi sĩ Hoài Khanh.

một không gian buồn tẻ, một cảnh vật buồn tẻ ghi dấu những kỷ niệm đời thân thuộc. Nơi đó, bóng dáng ai kia đã hằn vào trong ký ức một thời . Dĩ vãng đã qua đi , mang theo những dáng dấp cũ, tưởng đã phai mờ, nào đâu vẫn tràn đầy sống động. Thi sĩ Hoài Khanh đã đưa chúng ta đến với những khúc tự tình bềnh bồng xa vắng , khi ai đó vẫn như còn mãi NGỒI LẠI BÊN CẦU

Người em xưa trở về đây một bận
Con đường câm bỗng sáng ánh diệu kỳ
Tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi
.

Đã trở lại rồi, người em gái nhỏ ngày xưa. Nhưng em trở về chỉ một bận, sao mong manh quá ! Sự xuất hiện như tình cờ không báo trước. Nhưng dù thế nào, hào quang em vẫn toả sáng.Con đường từ độ em ra đi đã chết lặng, trong ta chẳng còn ý nghĩa : Con đường câm, từ dùng thật đắc, câm là vắng nhưng câm cũng là lặng lẽ chờ đợi trong sự không lời, chịu đựng đến thế là cùng! Và bóng dáng em về khiến con đường cũng bừng lên sức sống. Có thật không hay chỉ là thứ ảo giác tự tạo :Cảnh nào , cảnh chẳng đeo sầu...

Tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi


Tôi trốn đi đâu? Lánh mặt người cũ hay trốn tránh chính bản thân mình! Cả hai chăng? Bởi ta không hy vọng giữ được nàng, nhưng sao tâm hồn thì vẫn xuyến xao nỗi lòng gặp lại cố nhân . Lý trí đã xen vào đúng lúc : Mây của trời rồi gió sẽ mang đi !
Cái kiêu sa lộng lẫy kia, nào phải của riêng ta, cho dù có đón nhận lời ưu ái rồi biết đâu một ngày,...lại như ngày xưa ấy, nàng ra đi ...
Hãy thôi đừng đa mang thêm khổ !

Em - thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
Màu cô đơn trên suối tóc la đà
còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến sông xa


Vẫn dáng vẻ hồn nhiên ngày ấy, nụ cười thì vẫn xanh màu tuổi trẻ và chan chứ yêu đời, mắt em biếc trong của sự thánh thiện chưa vẩn bụi đời, nhưng đã thấy thấp thoáng vẻ xa xăm của một phương nào em từng đến;

Còn gì nữa với mây trời đang trắng
đã vô tình trôi mãi bến sông xa


Dẫu hiện tại thì chưa nhưng đã thấp thoáng một lối về riêng em, phương nao chẳng rõ , nhưng linh tính đã mách bảo , vì những tháng năm kia, ai mà biết,lòng người đà dời đổi bao nhiêu .

Nhưng ai vẫn cố quay đi trong khiên cưỡng, nghe đâu đây vị mặn của dòng lệ úa và vị chát của nỗi trống trải đơn côi:

Thôi nước mắt đã ghi lời trên đá
và cô đơn đã ghi dấu trên tay.


Bao nhiêu con đường em đã đi qua, nhọc nhằn nào còn vương lên tấm vai gầy bé nhỏ, hư hao nhiều không trong vóc dáng một khuê nử óng ả ngày xưa:

Chân đã bước trên lối về hoang vắng
Còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy.


Rồi duy nhất chỉ có thể gặp em trong ký ức vàng son thuở ấy. Nếu em đưa hồn về cõi mộng ấy chắc chắn sẽ tìm lại thấy bóng ta và ta cũng thế sẽ thấy bóng nàng, dù biết rằng mộng vẫn là mộng đâu nguyên vẹn được tựa ngày xưa. Hai chúng ta cùng đưa chiếc thuyền hồn mình trở lại quá khứ, nhé em ;

Qúa khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
giấc chiên bao nguyên vẹn có bao giờ
ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ


Nhưng cho dù lẫn tránh hiện thực hôm nay, nỗ lực đi tìm giấc mộng vàng đã qua, bâng khuâng cũng lắm, xót xa đã nhiều, nơi góc khuất trông bóng người xa khuất, nghe ngậm ngùi lắm nỗi nhói tim đau ;

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dóng sông kia vẫn cứ chảy xa mù


Người đến rồi người đi, khoảng giữa là bao tâm trạng, những hệ luỵ cuộc tình chưa vội phôi pha, em đến chỉ như cơn gió mát gợi lại những vết thương lòng tưởng đã lặng câm trong ký ức. Và hình ảnh dòng sông, dòng thời gian chở chuyên bao kiếp đời định mệnh , luân chuyển luôn là quy luật của kiếp nhân sinh:

dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù

Không còn gì bởi hiện tại đã ê chề cảm xúc , những gì tốt đẹp, nồng cháy yêu thương đã xuôi chiều quá khứ. Vẫn còn một bầu trời tâm tưởng để hoài vọng , tiếc nuối khi trống trải là hiện thực bây giờ và nơi đây :

ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu


Dòng sông là hình ảnh tuôn chảy muôn đời của cuộc sống, là ngày qua tháng lại không ngừng , ai vẫn neo hoài một bến đợi , đó là hình ảnh chiếc cầu bắc qua giữa dòng đời nghiệt ngã . Thương dĩ vãng mà để quên hiện tại:

nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

" Một đời bỏ ngỏ đêm hồng" như ca từ của Trịnh Công Sơn . Tâm hồn đang chơi vơi quá khứ, cõi lòng đã phó mặc cho hư vô, còn gì nữa để vun trồng chăm bón . Hình ảnh đầu bài thơ là con đường CÂM , hình ảnh cuối bài thơ lại là hồn người HOANG VU . Chơ vơ lắm bóng hình ai trên chiếc cầu chênh vênh, lẻ loi giữa mênh mông cuộc đời.

Nhịp thơ buồn mang âm hưởng thổn thức, tứ thơ đi tự nhiên theo diễn biến logíc rất hồn và rất người. Một hình bóng người xưa, một tâm trạng kẻ hoài vọng thấp thỏm đợi chờ và luyến tiếc chơi vơi, có bấy nhiêu mà tác giả đã viết lên được một NGỒI LẠI BÊN CẦU đã từng rung động bao nhiêu tâm hồn độc giả .
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 3:46pm
MÙA XUÂN NHO NHỎ

Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời.
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng

Mùa xuân người cầm súng
Lộc dắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao

Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc

Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
 

Thanh Hải

lời bình của Lê Khánh Mai

Nhà thơ Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, quê Hương Điền, Thừa Thiên Huế. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ nhà thơ Thanh Hải làm công tác văn hoá văn nghệ ở Đoàn văn công tỉnh và cán bộ Tuyên huấn ở chiến khu. Sau năm 1975, ông là Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Ông mất ngày 15 tháng 12 năm 1980 tại Huế. Với 50 mùa xuân cuộc đời, nhà thơ đã để lại 6 tập thơ: “Những đồng chí Trung Kiên”; “Huế mùa xuân” (2 tập); “Dấu võng Trường Sơn”; “Mưa xuân đất này” và “Thanh Hải thơ tuyển”. Thơ Thanh Hải là tiếng nói bình dị, chân thành của người chiến sĩ kiên trung, một lòng theo cách mạng, đã có những đóng góp đang quí cho nền thơ chống Mỹ. Ông được tặng giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, đợt 1, năm 2001.
“Mùa xuân nho nhỏ” là một trong những bài thơ tiêu biểu trong gia tài thơ xuân Việt Nam , được nhà thơ Thanh Hải viết trên giường bệnh, trước khi mất chỉ vài ngày. Đó là lời tự bạch chân thành với những tâm niệm đầy tính nhân văn về lẽ sống và đời thơ.
Bài thơ nhanh chóng chinh phục người đọc trước hết bởi âm hưởng, ngân nga mà sâu lắng, bởi năng lượng cảm xúc dồi dào truyền tải và lan toả. Chính cái giọng điệu dịu ngọt, chan chứa tình yêu đời, yêu cuộc sống đã tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc và góp phần làm nổi bật lên cấu tứ, hình ảnh, hình tượng và ngôn từ của bài thơ.
Ta dễ dàng nhận thấy bài thơ có cấu tứ “lộ thiên” theo chiều không gian mở. Mạch thơ đi theo trình tự: Xuân thiên nhiên – Xuân con người – Xuân đất nước – Xuân thi sĩ và cuối cùng là Xuân đất Huế quê hương. Đây là dạng cấu tứ thông thường. Nếu không có những thành công ở những yếu tố nghệ thuật khác loại cấu tứ này, dễ sa vào đơn giản, dễ dãi. Nhưng nhờ những hình ảnh độc đáo, bát ngờ, nhạc điệu, trạng thái xuất thần của cảm xúc đã khiến bài thơ trôi chảy một cách tự nhiên như một dòng sông đầy ắp hiền hoà, ào ạt reo ca.
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân thiên nhiên được đặc tả ở những hình ảnh: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, con chim chiền chiện hót vang trời. Một mùa xuân dịu dàng tươi sáng bởi màu sắc, náo nức rộn ràng bởi âm thanh, và lồng lộng không gian. Thiên nhiên tràn trề sức sống mãnh liệt và dâng hiến hết mình: sông hết mình xanh, bông hoa hết mình tím, và con chim nhỏ bé kia cũng đang căng hết sức lực của vòm ngực cất lên tiếng hót làm vang động cả bầu trời cao rộng. Vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất ấy có sức quyến rũ, mê hồn, khiến thi sĩ như tỉnh như say. Nhà thơ thầm hỏi/ hay thốt lên “hót chi mà vang trời “ , tưởng như nghe được tiếng lòng trìu mến bao dung, quyến luyến cõi đời của một người thơ xứ Huế. Tiếng chim hồn nhiên, trong trẻo mà da diết phía bầu trời cao vút lại như kết đọng thành những giọt âm thanh rơi xuống hồn người, chạm vào cõi sâu lặng, khuấy lên bao nỗi niềm, dìu nhà thơ vào cõi mộng: “Tôi đưa tay tôi hứng”. Nhà thơ hứng lấy tiếng chim , (có thể hình dung) với một sự đón nhận, nâng niu, trân quí và cất giữ, như sợ rằng, nếu không làm như vậy cái âm thanh ngọt lành kia sẽ tắt vào thinh vắng. Đây là một chi tiết có sức toả sáng trong bài thơ. Và nó chỉ có thể được phát ra từ cảm xúc đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt của một con người nhiều trải nghiệm, hiểu rõ đời mình chỉ còn là những khoảnh khắc ngắn ngủi.
Mùa xuân thiên nhiên cũng là nguyên cớ tạo nên mùa xuân con người.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc dắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Nhà thơ nêu ra hai hình ảnh: “Người cầm súng” và “Người ra đồng”, những con người đại diện cho sức mạnh dân tộc với lịch sử bốn nghìn năm làm ăn và đánh giặc.
Lộc- cái chồi xanh nhú lên sau những ngày đông giá, đã tồn tại trong tâm thức của người Việt Nam như một biểu tượng tươi đẹp nhất về mùa xuân. Nó hiện thân cho sự rũ bỏ quá khứ héo tàn, cũ xám để lại non xanh đầy sức trẻ, vươn dậy, đầy niềm tin vào tương lai.
Lộc dắt đầy quanh lưng người cầm súng, phơi phới bước chân ra trận. Lộc trải dài vô tận dưới những bàn tay lặng lẽ gieo trồng. Thiên nhiên ban tặng lộc. Con người ươm nên lộc. Tất cả hoà quyện trong sự phồn thực của mùa xuân, mang chứa khát vọng lớn lao muôn thuở về cuộc sống bình yên và no ấm.
Mùa xuân gieo vào lòng người những niềm vui mới mẻ, “như hối hả”, “như xôn xao”. Hai từ tượng thanh liên tiếp trong câu thơ diễn tả niềm hạnh phúc dâng tràn. Mùa xuân không còn là người khách lạ mà nó thực sự được sinh ra từ hồn người.
Theo chiều không gian mở, cảm xúc của nhà thơ được nâng lên ở sự suy ngẫm về mùa xuân đất nước:
“Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
Khái quát về đất nước Việt Nam vất vả, gian lao, đau thương, ngời sáng là điểm gặp gỡ của rất nhiều nhà thơ: Nguyễn Đình Thi từng viết: “Anh yêu em như yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần”… Vậy mà cách nói giản dị hình ảnh quen thuộc trong thơ Thanh Hải vẫn “chạm” vào cái phần thiêng liêng trong sâu thẳm tâm hồn con người – tình yêu Tổ quốc. Ở đây số phận của đất nước, dân tộc đã hàm chứa số phận của công dân. Mỗi người là một phần thân thể của đất nước. Và đất nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn “như vì sao đi lên phía trước”, vẫn kiên cường vượt lên tăm tối, nô lệ, bần cùng mà toả sáng. Cảm hứng ngợi ca và khí thế hào sảng của câu thơ đã xác định vị trí của nhà thơ trong cuộc hành quân vĩ đại của dân tộc. Vị trí một công dân đất nước, một người lính trong đội ngũ. Niềm vinh dự tự hào như chất men say thôi thúc thơ ông cất lên tiếng hát:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Người đọc bất ngờ bắt gặp một mùa xuân thi sĩ. Bằng điệp khúc “Ta làm”, “Ta nhập”… bài thơ đã tấu nên khúc ca chan chứa nhiệt huyết tình yêu cuộc sống và khát vọng dâng hiến mùa xuân cho cuộc đời và cho thi ca.
Nhà thơ – người nghệ sĩ ngôn từ đã nhận lấy trách nhiệm của mình với nhân dân đất nước : Làm một con chim hót trong muôn loài chim, làm một cành hoa trong rừng hoa muôn sắc. Làm “một nốt trầm” trong bản hoà ca muôn điệu. Làm “một mùa xuân nho nhỏ” trong mùa xuân rực rỡ và bất tận của đất trời.
Lời lẽ bình dị, nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng có sức khái quát cao về một lẽ sống chân chính, một quan điểm nhân văn về thơ ca và người nghệ sĩ.
Phải chăng “một nốt trầm” cũng có thể làm “xao xuyến” muôn lòng, khi người nghệ sĩ “từ chân trời của một người” đi đến và hoà nhập với “chân trời của nhiều người”, lặng lẽ hiến dâng những gì đẹp nhất, dù “nho nhỏ” của mình vào cuộc đời chung. Và nhà thơ đã kiên định một thái độ sống như vậy từ tuổi thanh xuân đến khi tóc bạc.
Trở về với đất mẹ quê hương là qui luật tình cảm. Bởi sau những buồn vui, thành bại, quê hương vẫn là nơi đón nhận, neo giữ những gì còn lại của đời người. Nhà thơ Thanh Hải đã từng viết nhiều về đất Huế quê hương, và khúc ca cuối cùng của ông cũng là khúc ca giành cho Huế:
“Mùa xuân ta xin hát
Khúc Nam ai Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế”
Nam ai, Nam bình là những làn điệu tiêu biểu của ca Huế, chất chứa âm điệu buồn ai oán, những cảnh đời buồn đau thất vọng, hoặc âm điệu trong trẻo yên bình của cuộc sống an lành. Phách tiền là một loại nhạc cụ dân gian được chế tác đơn giản bằng những thanh gỗ có gắn những đồng tiền, thường tấu lên nhạc điệu nhịp nhàng, rộn rã cho những bài ca Huế tươi vui.
Dường như những âm điệu buồn vui rất đặc trưng Huế ấy đã “ăn” vào máu thịt, luôn thường trực và ám ảnh nhà thơ. Mùa xuân đất Huế đã khơi dậy cảm hứng trào dâng bật lên thành tiếng hát tha thiết và sâu nặng tình yêu quê hương.
Nhà thơ Thanh Hải đã gửi lại cho đời “Một mùa xuân nho nhỏ”, “một nốt trầm xao xuyến”, nhưng đó là mùa xuân còn mãi như ngọn lửa nhỏ sẽ mãi nhen lên, đó là một nốt trầm cứ vang ngân không dứt.
Bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc trở thành ca khúc vượt thời gian về mùa xuân của nền âm nhạc nước nhà. Quả là một sự tương ngộ như có duyên định của hai tâm hồn nghệ sĩ.

LÊ KHÁNH MAI

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 4:53pm
SAU LƯNG MÙA HẠ CŨ
Thơ Trương Nam Hương

Và lại đến cái mùa phượng đỏ
Kỉ niệm xưa chìm khuất ở nơi nào
Tiếng ve vỡ ra trăm nghìn mảnh nhớ
Em không về nhận mặt tháng năm sao?

Dành cả đấy cho em- dành cả đấy
Anh gom mây ngũ sắc bọc thơ tình
Em nhón gót cho thời gian tụ lại
Tay học trò giọt hạ rớt lem xanh

Dành cả đấy cho em - dành cả đấy
Nguyên cơn mưa không thiếu hạt nào
Nắng mùa hạ trong veo nhìn thấy đáy
Nở phập phồng bóng nước tán me chao

Dành cả đấy cho em- dành cả đấy
Mượn thời gian hăm mốt tuổi, anh đền
Để mùa hạ nắng mưa là trai gái
Phượng cũng từng hồi hộp lúc kêu tên

Và lại nhớ vòm trời hoa phượng vĩ
Khép rưng rưng mùa hạ giữa tay cầm
Cửa lớp mở với một người trong đó
Vẽ lên bàn và hát những lời câm...

Ai bảo nhớ, bảo dành cho em hết
Anh tìm em mắt cứ ngóng lên trời
Câu thơ viết tan vào mây ngũ sắc
Cuối sân trường vô vọng xác ve rơi !

Đọc những câu thơ của Trương Nam Hương trong bài “sau lưng mùa hạ cũ”, tôi cứ mường tượng đến những câu thơ bất hủ trong “chiếc lá đầu tiên” của Hoàng Nhuận Cầm. Cũng là mượn một đoạn thời gian để nhớ về một quãng thời gian, mượn một chút thực tại để nói rất nhiều về quá khứ, mượn một mùa trời để nói về một phần đời con người. Đó có lẽ cũng là cách đi được nhiều người sử dụng để diễn tả những quãng thời gian đã qua đi không thể trở lại.
Quãng thời gian gắn với tuổi học trò và sân trường tuổi thơ, có lẽ với bất kỳ ai, cũng là một miền ký ức khó quên nhất, trong veo thơ mộng mà ám ảnh nhất. Cái thời không còn trẻ con nhưng cũng chưa kịp thành người lớn, thời mà tất cả cảm xúc không dám thốt thành lời, chỉ “vẽ lên bàn và hát những lời câm” ấy thật đẹp, thật đáng nhớ. Cho nên trở về với thời gian ấy có lẽ là một phương thức hiệu quả để có thể sống với quá khứ êm đềm và ngào ngọt của tuổi thơ. Tuy nhiên, nói về quãng đời đẹp đẽ ấy mà không phải kể lể, liệt kê một cách cứng nhắc thì không phải ai cũng làm được.
Trong bài thơ này, nhà thơ Trương Nam Hương và nhân vật trữ tình Trương Nam Hương đã tách thành hai. Nhân vật trữ tình đang trở về quá khứ với những hoài niệm tuổi thơ giữa mùa hè thực tại! Và tất cả những ký ức về “em”, về tuổi thơ với sân trường ngập đầy phượng vĩ năm nào lại ùa về. Ký ức lần lượt xuất hiện trong các khổ thơ, theo những trình tự, lớp lang khá logic.
Mới đọc, tưởng rằng nhân vật trữ tình “anh” là một người hào phóng! Hào phóng trong tình cảm, trong nhận thức và trong trí nhớ khi câu thơ “dành cả đấy cho em – dành cả đấy” cứ lặp đi lặp lại như một sự mời mọc, một sự khẳng định. Thực ra đọc kỹ hơn một chút, ta mới thấy nhân vật trữ tình là một chàng trai tham lam! Anh tham lam với kỷ niệm, than lam với quá khứ, và, có thể, tham lam lam với chính cảm xúc của mình!
Cái tham lam của chàng trai đã bộc lộ ngay ở khổ thơ đầu tiên. Hãy đọc câu hỏi đầu tiên trong khổ thơ thứ nhất: “Em không về nhận mặt tháng năm sao?”, nghe qua có vẻ như là một câu mong ngóng nhưng ngẫm sâu hơn một chút ta lại thấy nó giống với một câu trách móc hơn là một câu than thở! Tại sao em chưa về nhận mặt kỷ niệm khi mà phượng đã ngợp trời thương nhớ, tiếng ve đã vỡ òa cùng với vùng ký ức tuổi thơ sống dậy tràn trề. Trong khổ này, tôi hiểu ý chàng trai là: Sao em để anh một mình giữa ngập tràn không gian ký ức, để anh bơ vơ giữa rất nhiều kỷ niệm thế này?
Và từ cái câu hỏi tham lam ấy, một loạt các kỷ niệm được “anh” liệt kê ra như là kể lể với “em”, cứ như là để đếm và sống với từng kỷ niệm vậy!
Trong loạt liệt kê này, câu thơ được điệp lại lại là mấu chốt cho việc tôi khẳng định anh tham lam! Thực ra “dành cả đấy cho em” chỉ là một cái cớ để cho nỗi nhớ thêm “khách quan” chứ dành cả đấy cho em chỉ là để anh nhớ về tất cả mà thôi! Chính cái nỗi nhớ tham lam của anh đã được cái khách quan “dành cả đấy cho em – dành cả đấy” bao bọc cho một cách tinh tế!
Thường khi nói đến những gì thuộc về quá khứ, nhất là những quá khứ ngọt ngào và êm đẹp, và đặc biệt là nỗi nhớ, tâm hồn người ta rất tham lam, cứ muốn cuốn tất cả trở về để sống trọn vẹn trong miền nhớ ấy. Âu đó cũng là quy luật của tâm hồn con người. Những gì đã là không thể thì càng khiến cho người ta khao khát, ước vọng.
Hãy xem cái quá khứ tuổi thơ ngọt ngào và êm đềm của Trương Nam Hương đã thẩm thấu vào thiên nhiên: Tiếng ve thì “vỡ ra trăm nghìn mảnh nhớ”, bóng nước tán me thì “nở phập phồng”, phượng thì “hồi hộp”, hoa phượng thì “rưng rưng”… tất cả đều mang tâm trạng (mà thực ra là tâm trạng của “anh”). Thành thử, nỗi nhớ của “anh” bỗng chốc trở thành một trời thương nhớ!
Tôi đặc biệt thích khổ thơ cuối của bài thơ này. Hãy cùng đọc lại:
“Ai bảo nhớ, bảo giành cho em hết
Anh tìm em, mắt cứ ngóng lên trời
Câu thơ viết, tan vào mây ngũ sắc
Cuối sân trường vô vọng xác ve rơi!”
Ngay câu đầu khổ thơ tác giả đã trách mình. Từ trách em chuyển sang trách mình là một biểu hiện mang tính lý trí của nỗi nhớ. Và có thể, câu thơ này chính là dấu hiệu báo hiệu cho sự thức tỉnh sau một trời đam mê, một trời nhung nhớ của “anh”. Cái miền quá khứ ấy đã tan vào mây ngũ sắc, tan vào cái không gian mênh mông và “vô vọng” cuối bài thơ. Và câu kết chính là kết quả của sự thức tỉnh. Chỉ có sự thức tỉnh mới có thể có được câu thơ ấy sau 5 khổ thơ miên man trong vùng trời quá khứ. Sự thức tỉnh đấy có thể là một nỗi đau như quy luật của nỗi nhớ không bờ bấu víu.
Nhưng tôi tin, nỗi đau ấy, sự thức tỉnh ấy, và cả cái vùng trời quá khứ ấy là một miền đẹp. Bài thơ “sau lưng mùa hạ cũ”, vì thế, cũng là một bài thơ đẹp với những câu thơ đẹp đến nao lòng!
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 5:00pm
CÁI DUYÊN

Duyên kia ở bát cháo hành
Ra sông gánh nước mà thành lứa đôi
Không cười cũng chẳng kín môi
Thế mà anh CHÍ đứng ngồi chẳng yên

Vầng trăng chao xuống làm duyên
Để cho lò gạch chép niềm tương tư
Gió đưa tàu chuối ngất ngư
Lạ thay chai rượu làm thơ tỏ tình

Nào đâu phải đẹp, phải xinh
Mà thắm duyên mình, mà vẹn duyên ta
Nào đâu xiêm áo lượt là
Chỉ manh váy đụp thế là nên duyên

Ngồi bên bụi chuối ngước lên
Chí khoan khoái với cái duyên của trời....

Bởi vậy nên. Nhiều người hỏi tôi rằng: tại sao T.H lại thích CÁI DUYÊN. CÁI DUYÊN có gì đặc sắc. Người ta thường kết 2 câu cuối thật "mùi". Thì với Cái duyên của tôi, 2 câu cuối không lấy gì làm... hoàn mỹ...

Nhưng... đó chính là tâm sự của Tôi, một tình yêu có lẽ chỉ bắt đầu được từ cái duyên. Quan niệm của tôi về cái duyên đâu phải vì giầu nghèo, đâu phải vì chức trọng quyền cao. Chỉ một manh váy đụp, một bát cháo hành là nên duyên.
Ông trời đã khéo xe đôi xe lứa. Cái duyên được tôi viết với rất nhiều hàm ý và cảm xúc... Thơ của tôi tuy không hay. Bài đó tuy không đựơc chặt chẽ trong cách bố trí niêm luật của thơ LỤC BÁT. Nhưng lại thổi vào cái tình, cái ý tôi muốn gửi gắm.

Những người bạn của T.H. Xin hãy đọc lại CÁI DUYÊN và hiểu tôi thêm.
Gửi một người: EM ĐỪNG YÊU BẰNG TRÁI TIM, SAU ĐÓ BẰNG LÝ TRÍ nữa nhé em. Tình yêu đừng nên suy nghĩ nhiều về vật chất...

Đó chỉ là quan điểm của riêng tôi, và giải đáp một số câu hỏi của bạn bè... một lần nữa tôi cám ơn các bạn, những người đã nhiệt tình ủng hộ KẺ LƯỜI BIẾNG và đọc thơ của KẺ LƯỜI tôi...
Chúc các bạn an lành, hạnh phúc. Và tôi lại trên đường đi tìm kiếm cái duyên cho mình để... bớt long đong...
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 5:01pm
Đã lâu rồi

Đã lâu rồi anh chẳng tặng hoa em
Như ngày xưa tình yêu vừa chớm
Đã lâu rồi anh thường lỗi hẹn
Đứng chờ em vào mỗi lúc tan tầm
Đã lâu rồi anh có biết không ?
Em thèm lắm nụ hôn dài lên mắt
Những lời chức ngủ ngon sau mỗi ngày mệt nhọc
Những buồn vui anh san sẻ cùng em .
Đã lâu rồi anh cũng lãng quên
Hát những bản tình ca ngày xưa anh thường hát .
Mài mải vui quên bữa cơm đạm bạc
Em vẫn chờ anh sau mỗi buổi tan tầm .
Đã lâu rồi anh có biết hay chăng ?
Dẫu lời chúc nhỏ nhoi cũng xua tan bao mệt mỏi
Một nhành hoa cũng đủ để em vui
Một câu hát, nỗi buồn cũng vơi đi hết
Hạnh phúc giản đơn mà anh nào biết,
Đã lâu rồi, ... anh còn nhớ hay quên... ?

Trần Thị Hải Ly
(Khu phố Vân Trì, Vân Nội, Đông Anh, Hà Nội)


Bình thơ – nhà văn Lưu Trọng Văn

Nào đã lâu đâu...

Cái gì cũng “đã lâu rồi”. “Đã lâu rồi anh chẳng tặng hoa em”. Quá rõ ! “Đã lâu rồi anh thường lỗi hẹn”. Chưa rõ. Lỗi hẹn cái gì ? Lỗi hẹn :
“Đứng chờ em vào mỗi lúc tan tầm”
Điều chưa rõ đã rõ: “Đã lâu rồi anh có biết không?”

Biết điều gì:
“Em thèm lắm nụ hôn dài lên mắt
Những lời chúc ngủ ngon sau mỗi ngày mệt nhọc
Những buồn vui anh san sẻ cùng em”.


Rồi tiếp:
“Đã lâu rồi anh cũng lãng quên
Hát những bản tình ca ngày xưa anh hay thường hát
Mà mải vui quên bữa cơm chiều đạm bạc
Em vẫn chờ anh sau mỗi buổi tan tầm”.


Buồn quá Hải Ly ơi! Thế thì còn gì nữa cái gọi là tình yêu và hơn tình yêu đó là tình và nghĩa vợ chồng? Điệp khúc “Đã lâu rồi” cứ như những vết dao chém, không những chém thời gian đã qua mà chém cả thời hiện tại, bời cái đã lâu rồi ấy vẫn đang diễn ra tức là đang tồn tại, tức là có thể còn tiếp tục dài dài. Thơ đâu chỉ là thơ nữa. Thơ đã thành thân phận của người vợ trước một người chồng ỷ thế là chồng, cứ tin tưởng sự vĩnh cửu là đức ông chồng mà quên đi cái bổn phận là chồng, quên đi tình chồng vợ luôn phải giữ như buổi ban đầu yêu nhau, thuộc về nhau. Một sự thờ ơ , lãnh cảm , nhàm chán, yên tâm đều có thể làm tan rã một mái ấm gia đình.

Thôi thì “Đã lâu rồi” đấy, bỏ qua cái quá khứ, ông chồng kia ơi hãy dừng lại, khẩn cấp dừng lại, nếu không cái sự “Đã lâu rồi” sẽ trở thành sự trỗi dậy mãnh liệt quyền đòi được yêu, được chăm sóc, được quan tâm, cái quyền ấy nghe to tát nhưng thực bình dị và đã từng được chính người chồng ấy cho hưởng :

...”Dẫu lời chúc nhỏ nhoi cũng xua tan bao mệt mỏi
Một nhành hoa cũng đủ để em vui
Một câu hát , nỗi buồn cũng vơi đi hết
Hạnh phúc giản đơn mà ...”


Và cái quyền ấy không được đáp ứng thì sẽ đồng nghĩa với : Đã lâu rồi chúng mình không còn yêu nhau./.
 
(ST)
_________________
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 5:02pm
NẮNG THU

Tháng Ba đã bỏ tôi đi
Mang về cho Thu giọt nắng
Lang thang trên hè phố vắng
Ðếm từng giọt nắng đong đưa.

Thu về em đã biết chưa
Lá vàng đang rơi xào xạt
Nắng buồn long lanh từng hạt
tung tăng vỡ giữa trời thu

Nắng về ngang qua lối hẹp
Hàng cây xanh cũng thẹn thùng
Bâng khuâng dạt dào lá rụng
Bồi hồi nắng đón thu sang.

Em đi nắng bước chung hàng
Tôi về sầu Ðông rụng lá

Ðôi ta chập chờn hai ngả
Bàng hoàng tôi viết thành thơ ......

Hoang Vu



Đọc và bình "NẮNG THU" - Hoàng Vũ.

Tháng Ba đã bỏ tôi đi
Mang về cho Thu giọt nắng
Lang thang trên hè phố vắng
Ðếm từng giọt nắng đong đưa.


Theo cách của người viết ta có chút lưu luyến tháng ba, những tưởng cái nắng tháng ba cũng diệu vợi, se se lạnh, ngoại trừ rét Nàng Bân thì nắng tháng ba trong trẻo và Xuân lắm " Tháng Ba đã bỏ tôi đi" thế nên người có chút dỗi hờn. Nắng thu cũng không kém phần quyến rũ, đong đưa để người đón nhận một cách lơ đãng. Em biết chưa, dẫu thừa biết rằng : Thu về ai chả biết, nhưng vẫn muốn nhắc khéo em để hạnh phúc làm "tung tăng vỡ" bỗng chốc buồn như một thứ trang điểm cho thu .

Thu về em đã biết chưa
Lá vàng đang rơi xào xạt
Nắng buồn long lanh từng hạt
tung tăng vỡ giữa trời thu


Cái nắng thu làm cho mọi vật trở nên dịu dàng, cây cũng e thẹn, bâng khuâng thế đó ! Sao tránh khỏi rung động lòng người "Bồi hồi nắng đón thu sang" .

Nắng về ngang qua lối hẹp
Hàng cây xanh cũng thẹn thùng
Bâng khuâng dạt dào lá rụng
Bồi hồi nắng đón thu sang.



Bài thơ như cái giấc mơ trưa, loáng thoáng, vụng về, định thoát ra khỏi mộng mị thì người lại vô tình chạm phải mùa Đông, để giấc mơ rơi rụng như chiếc lá, cuốn đi những hoài bão... họ thảng thốt mà không dám giữ lại cho riêng mình.

Em đi nắng bước chung hàng
Tôi về sầu Ðông rụng lá
Ðôi ta chập chờn hai ngả
Bàng hoàng tôi viết thành thơ ......


Buông một câu thơ tưởng như được chia sẻ thì lại bắt gặp sự nao lòng, bàng hoàng, nối tiếc, giá mà em bước đi chung hàng, anh bước đi chung hàng, nắng sẽ nhuộm vai anh, vai em, nắng sẽ in trên nền thảm cỏ hai người thì kết cục đã trọn vẹn quá đỗi. Nhưng thôi, thế mới là thơ, chẳng có gì rõ ràng, phân mình cả, theo đuổi từ mùa Xuân đến đầu thu và sang mùa Đông thì "Ðôi ta chập chờn hai ngả ". Thật tiếc lắm thay.

Hoang Vu ơi, xin thứ lỗi cho tớ nhé, phá phách bạn một chút, mong được đọc thơ bạn nhiều hơn, thật nhiều nhé.

THN, 11012007

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 05 Nov 2011 lúc 5:04pm
VÀ CÂY ĐỜI MÃI MÃI XANH TƯƠI
Xuân Diệu

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
và cây đời vĩnh viễn xanh tươi (*)
Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười
Vĩnh viễn anh yêu em, như yêu sự thật

Và cây đời mãi mãi xanh tươi
Mãi mãi em ơi Cây đời trữu trái
Gió trong lá mùa thu rồi trở lại
Rì rào đôi ta tình ái muôn đời

Trong mắt đen em mãi mãi ánh trời
Ngời qua một sợi tóc mây rũ trán
Mãi mãi môi em, nhụy đời vô hạn
Và cây đời, ôi ! xán lạn xanh tươi

01/01/1970



Thử bàn về chữ Yêu trong thơ Xuân Diệu


Chọn một góc nhìn để viết ra được cái mình yêu là quyền của tác giả, và truyền được cái yêu ấy đến với độc giả đã là bậc thang mới. Nhưng truyền được lửa yêu của cái mình yêu để mọi người cùng yêu đó mới chính là “Cây đời” xanh tươi đơm bông kết trái .

Trọn vẹn một bài thơ Cây đời mãi mãi xanh tươi. Tác giả đã mở ra cái không gian rộng lớn của thế gian chứ không còn bó hẹp trong mối tình anh, tình em đơn thuần cuộc sống nữa. Cái triết lý về đời sống không còn là lý thuyết suông bàng bạc một màu xám mà nó đã hoà quyện với đất trời, tình yêu con người làm thay đổi cả tiếng chim, thay đổi vầng dương, gió cũng phải xao xuyến huống chi tình yêu chân thật mà anh đang muốn dành trọn vẹn cho em.

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
và cây đời vĩnh viễn xanh tươi (*)
Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười
Vĩnh viễn anh yêu em, như yêu sự thật


Tác giả vẽ lên một không gian rộng lớn rồi từ từ xích gần lại với đời thường để nâng giá trị đích thực của tình yêu trong đời sống hiện tại. Nói xa rồi lại nói gần, cái nguyên lý sự sống đã được nhào nặn một cách vuông vức “Vĩnh viễn anh yêu em”… Tình yêu anh mang đến cho em được chim ca , nắng cười khích lệ như một thiên thần đem hạnh phúc đến trao cho người.

Điệp từ "Vĩnh viễn" được nhắc đi nhắc lại ở phần đầu bài giúp cho ta hiểu được ý đồ tác giả - khẳng định một điều chắc chắn… nó đã thế, nó phải thế .

Ở bài bình của Ngô Minh Sơn, sự phán đoán ý đồ tác giả rất rõ nét “Cây đời xanh tươi” vừa là điều ước, vừa là lời chúc phúc, vừa là một trách nhiệm cho đời này phải luôn nối tiếp đời sau vun xới cho tình người, tình yêu dày thêm, cao thêm, xanh tươi mãi mãi… Tình yêu ví như một gốc cây được chăm sóc, vun xới, được tỉa cành bón phân, đủ đất, đủ nước thì sẽ đơm hoa kết trái.

Khi trái tim ấp ủ một tình yêu chân chính nó sẽ trở nên bao dung, sẽ vì đời mà không ngần ngại khó khăn, gian khổ… Rồi đây – cũng có lúc gió bão nổi lên, cũng có lúc dập vùi mưa nắng để rồi “gió rì rào… thổi vào tình ái muôn đời”. Nhà thơ đón nhận một tình yêu thật đẹp, gạn lọc những tinh tú nhất để chuyển những cái tầm thường vật chất thành tinh thần, thể thơ thứ hai không nặng triết lý nữa mà đã bay bổng chan chứa ân tình…

Với một lý lẽ khúc triết, thong dong. Khổ thơ cuối đã kết một cách mãn nguyện:

Mãi mãi môi em, nhụy đời vô hạn
Và cây đời, ôi ! xán lạn xanh tươi


Riêng với câu “Trong mắt đen em mãi mãi ánh trời” ẩn ý câu này có bạn đã thắc mắc – tôi đọc và hiểu rằng đôi mắt huyền khi nhìn ắn đèn hoặc ánh sáng (nắng) trong đồng tử thường có đốm sáng và nhà thơ nhìn nó lung linh ví như ánh trời.

Bài thơ này là một chân lý của tình yêu nếu không muốn nói nó là sự tất yếu của cuộc sống, càng biết chăm chút cho tình yêu thì cuộc sống càng đáng sống và đáng yêu.

Thân mến, cảm ơn các bạn đã nghe.
23/4/2008
IP IP Logged
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.141 giây.