Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Tư tưởng Hồ Chí Minh
 Diễn đàn :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh :Tư tưởng Hồ Chí Minh
Message Icon Chủ đề: Bình thơ Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Tác giả Nội dung
Hieutri
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 410
Trích dẫn Hieutri Replybullet Ngày gửi: 07 Nov 2011 lúc 6:31am
Đò Lèn


Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền cây Thị
Chân đất đi đêm xem lễ Đền Sòng.
Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
cái năm đói củ giong riềng luộc sượng.
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm
Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!
--------------------------------------
 

CẢM NHẬN ĐÒ LÈN - Trần Thái Diễm Chi

 

Cuộc sống có những điều được gọi là nỗi nhớ, cứ xa xôi vô hình ; có những hình ảnh được gọi là hoài niệm mãi miên man, dằng dặc ; và có những tình cảm được gọi là yêu thương luôn ấm nồng sâu sắc mà thường đi xa rồi người ta mới biết cách gọi tên chúng. Ta gọi chúng như là hoài niệm,là nỗi nhớ , yêu thương …

Cuộc đời người ngắn ngủi như chiếc lá, thoáng chốc thôi cũng đủ  để mầm non chuyển sắc vàng. Người ta lớn lên, bon chen nhau mà sống để rồi biết bao lần lại tìm về  tuổi thơ trong những nỗi nhớ xa xôi như thế. Với Nguyễn Duy đó lại là cả một thế giới của “ Đò Lèn ” - nơi lắng kết những giá trị vĩnh hằng – bài thơ mà cái tên thôi đã gợi lên giữa lòng người nhiều suy nghĩ. Những người đã biết sẽ thấy quen thuộc nhưng những người không biết lại dễ phân vân: cái gì là “ Đò Lèn”? Hai tiếng ấy vô tình trở thành một khái niệm khó hình dung trong khi thực chất nó lại vô cùng giản dị . Nó không phải là con đò, là dòng sông, bến nước hay cái gì đó chợt nảy ra khi lần đầu nghe đến. Đò Lèn là tên một miền đất như bao miền đất khác, nơi đã tạo nên tuổi thơ, hình thành hoài niệm trong bao lớp người xứ Thanh Hóa:

                                Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

                                níu váy bà đi chợ Bình Lâm

                                bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

                                và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần 

Tuổi thơ được tác giả gợi lên với hình ảnh của bà, với những trò chơi thuở nhỏ. Ở đó có cậu nhóc nào ham chơi mải mê câu cá, có cô bé nào nũng nịu: níu váy bà” ra chợ mua quà. Cái cống Na và chợ Bình Lâm hẳn đã là cả một thiên đường của nhà thơ. Ông viết nó giản dị và chân thật như vừa đem từ cuộc sống vào chứ không chỉ từ một nỗi nhớ thôi. Nào là đi bắt chim sẻ, rồi đi ăn trộm nhãn của chùa, ..., được lang thang trên đồng ruộng, trong những ngôi chùa,  khu vườn rộn ràng tiếng chim kêu. Không gian mở ra rộng lớn và mênh mông thỏa mãn tính hiếu động, đam mê khám phá của tuổi nhỏ, đưa chúng hòa nhập vào thiên nhiên, đất trời. Được chơi đùa, được nghịch ngợm thoải mái mới thấy hết niềm thích thú vô tận. Đó thật sự là tuổi thơ đúng nghĩa, khác hẳn với không gian nhỏ bé bao quanh bởi 4 bức tường chật hẹp bây giờ. Ta có thể hình dung ra trước mắt là hình ảnh một cậu bé tinh nghịch, lấm lem nhưng mắt sáng ngời. Không có quần áo đẹp, không có búp bê, siêu nhân , những tuổi thơ như thế hôm nay chỉ còn phảng phất trong nỗi nhớ người trưởng thành, trong ánh mắt lạ lẫm háo hức của trẻ con khi xem phim, đọc truyện ngày trước- cái thời của ba, của ông mình. Đoạn thơ như một cuốn phim quay chậm miên man , dằng dặc trôi đi: 

                             Thưở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

                             chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

                             mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

                             điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng 

Trở về tuổi thơ ta nhận ra niềm hạnh phúc ngây thơ, trong sáng với  đôi chân nhỏ bé thoăn thoắt khắp nơi, ru mình trong làn hương và điệu hát. Bàn “ chân đất “ đã trở thành hình ảnh không thể nào quên đối với mỗi người, cái cảm giác được trực tiếp chạm chân vào đất mát lạnh đến vô cùng, nó ghi dấu hành trình những đêm lễ xa xôi. Và cũng như thế, mùi huệ trắng , làn khói trầm, điệu hát văn đã đi vào từ vô thức ! Tất cả chúng góp phần hình thành tuổi thơ đầy hồn nhiên , tinh ngịch trong tâm hồn mỗi người đã đi qua tuổi thơ, nhiều khi phải xin “ cho tôi một vé đi tuổi thơ “. 

Từ ngày ấy  đến bây giờ là cả một quá trình con người lớn lên, hình thành nhận thức. Ngày còn nhỏ  vô tư, không lo nghĩ : 

                          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

                          bà  mò cua xúc tép ở đồng Quan

                          bà đi gánh chè xanh Ba Trại

                         Quán Cháo, Đồng Giao thập những đêm hàn

Bà hiện lên trong cuộc sống của cháu lặng lẽ, âm thầm… Cái đầu non nớt và trái tim nhỏ dại đâu biết thế nào là nỗi cơ cực, nhìn mọi việc rồi cũng sớm quên đi. Không trách được bởi lẽ trẻ con đâu thể sâu sắc như người lớn mà hoặc giả có sâu sắc thì tâm hồn đã chai sạn đi rôi đâu còn là trẻ con với nét thơ dại- cái thơ dại được ấp ủ bằng mồ hôi và nước mắt bà. Yêu thương cao thượng giúp cho tâm hồn tránh những bão giông .

Ngày còn nhỏ, yêu bà  là yêu những câu chuyện cổ tích lung linh huyền  ảo : 

                           Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

                           giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh , thần

Bà thổi vào tâm hồn non nớt cái hồn dân tộc bao thế kỉ trong dân gian. Truyện bà kể lung linh sắc màu cổ tích, mang cháu đến với thế giới của những phép màu kì diệu : Cô Tấm chui ra từ quả thị, Lọ Lem sánh duyên cùng hoàng tử . Bà có mái tóc bạc phơ, có nụ cười hiền như bà tiên trong truyện kể. Bà dọa cháu rằng chằn tinh rất dữ, bảo cháu phải nghe lời,… Nhiều, và nhiều lắm… Chính những câu chuyện đã giúp cháu biết yêu cái thiện, ghét điều ác, có ước mơ và hy vọng. Thỉnh thoảng, tìm về tuổi thơ là tìm đến những điều như vậy, nghe lòng mình kể lại lời bà ấm áp. Tâm hồn sẽ được thanh lọc và trong sáng hơn. Cái ranh giới hư thực trong suốt như chính tuổi thơ con người vậy. Dễ tin, dễ nhớ và cũng dễ quên .

Lớn lên một chút cũng là lúc phải đối mặt với hiện thực , cái  đói trở thành nỗi ám ảnh triền miên :

                            cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

                            cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Đọc câu thơ ta bỗng nhớ về khoảng thời gian : 

                              Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
                              Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
                              Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
                              Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
! 

Nạn  đói những năm 45 như một nỗi kinh hoàng rải khắp  đất nước. Củ dong, củ riềng cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ , đáng thương. Mùi huệ  trắng hương trầm cũng phảng phất như cái thoáng trở về bình yên… Những đứa trẻ ngây thơ mơ về một mùi hương đã lắng sâu vào đất, tâm hồn, thân thuộc và rất đỗi bình dị. Đói kém không làm mờ đục tấm lòng trong sáng của trẻ thơ mà ngược lại nó còn gợi nên những mơ ước , cảm tình thầm kín nhưng đáng yêu.

Còn lại gì giữa nỗi nhớ cái bình yên ngày  trước ? Nó có là hoài niệm thương đau , chua xót ?

                               Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

                               đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

                               thánh với phật rủ nhau đi đâu hết

                               bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Quê hương ngày khốc liệt in sâu vào tiềm thức khi mà những hình ảnh sự vật thân thuộc bị hủy hoại. Bom đạn không chỉ phá nát đất quê hương mà còn xóa nhòa đi tuổi thơ tươi đẹp. Bên cạnh không gian thiên đường thuở nào là đổ nát, hoang tàn. Nhà bà, đền, chùa, tất cả tan biến đi dường như quá nhanh đối với những đứa trẻ chưa kịp lớn hoàn toàn. “ thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết “ lay dậy niềm xót xa, như khẽ chạm vào vết đau nhạy cảm. Cái boăn khoăn hết sức trẻ con  lại là niềm đau trong lòng người hiểu chuyện như bà. Không còn quá ngây thơ, có lẽ lũ trẻ hôm nào đã hiểu được cái nguyên cớ đằng sau nó. Nhưng như chưa tin vào chính mình nên mới thành nỗi băn khoăn chưa dám hỏi. Không còn nữa thánh, Phật mơ hồ, huyền diệu, thực tế dữ dội đối lập lại hoàn toàn. Còn bà vẫn vậy, lam lũ tháng ngày: “ Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Khi lớn lên , con người nhận thức được đầy đủ hơn, làm thành một hành trình trở về man mác:                           Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

                                   dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

                                   khi tôi biết thương bà thì đã muộn

                                   bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi. 

Tình cảm tập trung hướng về bà, con người lam lũ ngập tràn yêu thương. Bà nuôi lớn cháu để hôm nay cháu trở về đây chững chạc, đàng hoàng. Cháu đã và đang là một người lính bảo vệ mảnh đất này, bảo vệ những tuổi thơ như cháu ngày xưa. Chút gì là hối tiếc, yêu thương muộn màng. Đời người mấy ai mà vẹn tròn tất cả! Con sông kia cũng bên lở bên bồi như người vậy. Bảo rằng đã muộn nhưng chưa bao giờ là quá muộn cả. Yêu thương đâu cần biểu hiện rõ, cháu lớn lên thành người đã là cách thương bà tuyệt diệu nhất. Giờ đây đứng trước mộ bà những vất vả hy sinh ngày xưa càng trở nên thấm thía. Bà đã đi mang theo tất cả những điều đẹp nhất của tuổi thơ cháu bình yên trong khó nhọc. Mất đi không phải là kết thúc. Bà không còn- cháu lớn lên cống hiến cho đất nước, đó là cách tiếp nối sự sống đầy ý nghĩa. Nấm cỏ của bà chôn chặt mọi niềm đau, giữ lại miền ký ức trong sáng cho con người tìm về lúc mỏi mệt.  

Đất nước mình có biết bao người bà như thế! Bà là hiện thân cho phụ nữ Việt Nam hiền hậu, tảo tần hôm sớm. Những ngày đất nước chiến tranh, bà thay cha mẹ nuôi nấng con cháu, giữ cho cháu trọn vẹn một tuổi thơ. Đâu đâu ta cũng nghe nhắc về bà như một hình ảnh thiêng liêng nhất. Người bà đi vào trái tim mỗi người như một lẽ tự nhiên, là miền ký ức vĩnh hằng :  

                                   “Tiếng gà trưa
                                   Mang bao nhiêu hạnh phúc
                                   Đêm cháu về nằm mơ
                                   Giấc ngủ hồng sắc trứng
.”
 

Bà , tuổi thơ và những hình ảnh thân thuộc bình dị trong cuộc sống tạo nên giá trị cao đẹp nhất. Đi tìm đâu cái xa xôi khi mà hạnh phúc luôn song hành trong cuộc đời mỗi người. Nó là tình yêu thương vô điều kiện, là những tháng ngày vui chơi thỏa thích. Chúng như mảng màu rực rỡ chiếu sáng tâm hồn, hướng con người về chỗ cái đẹp, cái thiện căn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện” .

Cùng với bà , quê hương Đò Lèn hiện lên sống động giữa tuổi thơ chan hòa. Nó hiện diện trong cái nghịch ngợm thiếu thời, trong từng giấc mơ trẻ thơ, là nơi con người vẫy vùng, ngụp lặn. Mảnh đất khi thanh bình, lúc đau đớn oằn mình vì đạn bom nhưng lúc nào cũng phảng phất hương huệ thơm ngần, cái thứ hương vị đã trở thành đặc trưng tồn tại giữa tiềm thức.Đò Lèn của cống Na, chùa Trần, con sông 2 bờ bồi lở , cái tên mộc  mạc mà chân tình thiết tha. Đò Lèn – nơi đó có bà, có cháu, có tất cả hoài niệm yêu thương tồn tại vĩnh hằng cùng nỗi nhớ !

 

 

IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 07 Nov 2011 lúc 6:00pm
Những mùa trăng mong chờ

Thư anh tin ngày về
Cho vầng trăng hẹn mọc
Trong ngần hoa cau thơm
Mây chớm màu tha thiết

Trăng non nghiêng qua rồi
Bom rung vầng trằng khuyết
Xô thuyền trong xa xôi
Giữa gập ghềnh núi biếc

Anh khoác ba lô về
Đất trời dồn chật lại
Em tái nhợt niềm vui
Như trăng mọc ban ngày


Gặp nhau tròn mùa trăng
Em trẻ như bầu trời
Vòng tay anh đằm thắm
Giấu lời ru trên môi

Mai lại tiễn xa nhau
Vầng trăng cong chẽn lúa
Đêm đêm chín ngàn sao
Rỏ vào tim giọt lửa

Mong chờ em mong chờ
Vầng trăng xinh - gương mặt
Sáng sáng đầy theo anh
Suốt chặng đường đánh giặc.


1973
 
Lê Thị Mây đã chiếm lĩnh bạn đọc một thời gian dài bởi những bài thơ xuất thần, tài hoa và sâu sắc khi nói về tình yêu, về thân phận của những người đàn bà đi qua chiến tranh.

"Anh khoác ba lô về
đất trời dồn chật lại
Em tái nhợt niềm vui
Như trăng mọc ban ngày".

Tôi đọc và yêu thơ Lê Thị Mây rất nhiều năm trước khi tôi biết chị. Biết chị rồi cũng khó gặp chị bởi lâu nay, sau khi lập gia đình, chị như sống ẩn mình. Tôi ví chị như một tảng đá nằm sâu trong núi cao, một tảng đá với những vỉa quặng quý báu. Một cái cây chắc chắn giữa đại ngàn, cây mang trong mình thứ gỗ quý tỏa hương.

Chị là "một người đàn bà làm thơ trong nén sâu và im lặng. Mỗi chữ là lệ của hạnh phúc, khổ đau". Không hiểu sao, tôi thích nhìn chị ở cái hình ảnh chị đã vẽ rất chính xác về cái bóng của mình: "Con cọp đang rình mồi tháng chạp".

Chị nói mỗi lần chị bước ra khỏi nhà, chị đi, chị thở và chị sống cái đời sống riêng của chị, thì chị thuộc về con cọp. Một con cọp quyết liệt, một mãnh hổ thu mình chờ đợi một sự bùng nổ từ chính mình.

Thơ Lê Thị Mây khác với cuộc đời thực của chị, khác đến mức tôi cứ tưởng tượng như người phụ nữ ngồi trước mặt mình chưa từng là người đàn bà trong thơ. Nhưng ngẫm cho sâu, cho kỹ thì đúng thật, người đàn bà thơ trong bồn bộn tác phẩm, bồn bộn trang viết ấy phải là chị chứ không thể là ai khác.



Sửa bởi Hoangtube - 07 Nov 2011 lúc 6:01pm
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 07 Nov 2011 lúc 7:26pm
Lòng Mẹ


Gái lớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không !
Nín đi ! mặc áo ra chào họ
Rõ quí con tôi ! Các chị trông !

Ương ương dở dở quá đi thôi !
Cô có còn thương đến chúng tôi
Thì đứng lên nào ! lau nước mắt
Mình cô làm bận mấy mươi người.

Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía
Này gương này lược này hoa tai
Muốn gì tôi sắm cho cô đủ
Nào đã thua ai đã kém ai ?

Ruộng tôi cày cấy, dâu tôi hái
Nuôi dạy em cô tôi đảm đương
Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả
Tôi còn mạnh chán, khiến cô thương !

Đưa con ra đến cửa buồng thôi
Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi !
Con ạ ! đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.

Nguyễn Bính
 
Bản thân cái tựa đề của bài thơ, Nguyễn Bính đã muốn nói với độc giả về lòng mẹ, vậy ta hãy xem lòng mẹ ra sao :

Gái lớn, ai không phải lấy chồng,

Can gì mà khóc, nín đi không !

Nín đi mặc áo ra chào họ,

Rõ quý con tôi, các chị trông !



Ương ương dở dở quá đi thôi,

Cô có còn thương đến chúng tôi

Thì đứng lên naò, lau nước mắt

Mình cô làm khổ mấy mươi người ".


Mở đầu bài thơ là một câu trách mắng của nguời mẹ. Và cả trong hai khổ thơ naỳ, vừa là trách mắng vừa là lý luận rất chặt chẽ và thuyết phục của bà mẹ đối với cô con gái trong ngày cưới . Những câu trách mắng ấy, cho dù cô con gái có học hành tới bằng cấp cao siêu gì đi chăng nữa, trong cái xã hội nào cũng vậy, cũng không thể cãi lại đuợc bà .

Trong cái thời khắc mà cô con gái yêu của bà cần phải chuẩn bị trang phục cô dâu để từ giã nhà mẹ đẻ của mình mà đi lấy chồng . Và vì nhà trai đã đến đón dâu,đang chờ cô dâu ở nhà ngoaì,hàng trăm con mắt đang đổ dồn vào cửa buồng, trong khi cô dâu vẫn đang trong tình trạng đầu không chaỉ, tóc không quấn, áo quần không thay,vùng vằng, nửa muốn đi, nửa muốn ở, và khóc sướt mướt.

Ở vào tình huống rất khó khăn ấy, chỉ có bà mẹ, vâng, không thể là ai khác, bà đã phải vào cuộc. Chỉ vì cô khóc lóc nhiều quá, và nấn ná không muốn rời, nên bà đã phải cao giọng đối với cô, viện những lý do rất chính đáng để xoa dịu và làm cho cô phải tỉnh táo laị, làm cho cô phải ý thức được cái việc chùng chình của mình, đang làm khổ cho biết bao nhiêu người và nguy hại hơn cả là bà sợ rằng nhà trai sẽ phật ý, vì cô con dâu đã sớm bộc lộ sự khó baỏ,một điều sẽ gây những mặc cảm không tốt của họ nhà trai đối với cô con dâu tương lai khi về ở nhà chồng .
Bà nói thế naò ? Thì đây, trước hết bà nói rằng, lấy chồng là một quy luật xã hội tất yếu của những cô con gái đến tuổi trưởng thành, không khác gì những quy luật tất yếu khác, như việc sinh tử ở đời chẳng hạn, nên dù muốn hay không, các cô cũng khó lòng mà né tránh được cái quy luật ấy.Trong xã hội loaì nguời, tạo hóa đã giao vào tay người con gái một sứ mệnh quan trọng vào bậc nhất không thể chối từ, đó là khả năng sinh sôi nảy nở và bảo tồn nòi giống cho muôn đời. Vì cái sứ mạng ấy, bà muốn nói với cô con gái ,không phải chỉ có mình con phải đi lấy chồng, mà tất cả những người con gái trong xã hội, kể cả mẹ của cô đây cũng không nằm ngoaì cái việc đương nhiên ấy.
Bà phải nói với con câu ấy,như là câu cửa miệng thường có mà bà đã được nghe từ những lời giáo huấn của ông bà, đã sinh ra bà thời trước. Nên đã không tránh được, thì can gì mà phải khóc ! Ở đây phải ngoaị trừ ngay yếu tố lịch sử trong baì, vì cái sự lấy chồng của các cô vẫn đang diễn ra trong mọi thời đaị.Nếu gắn với lịch sử, có thể có người đã vội vã cho rằng việc khóc lóc của cô là một minh chứng cho cuộc tình duyên mang màu sắc ép buộc trong chế độ cũ. Đấy là một ý nghĩ sai lầm, vì trong bài thơ naỳ, tác giả không hề đề cập đến việc tình duyên của cô gái bị ép buộc.

Rồi bà đã không ngớt lời thúc giục cô mau chóng sửa soạn những thứ cần thiết cho kịp giờ, kẻo nhà trai phải chờ đợi lâu. Một cách gián tiếp, bà muốn nói với cô rằng, hãy xếp những việc riêng tư nếu có của con laị,rằng cuộc tình duyên nào cũng sẽ có những điều không trọn vẹn, mà phải biết lo lắng cho cái việc lớn hơn, phải biết hy sinh mình vì mọi người .

Tục ngữ có câu " Con dại cái mang" . Quả là nếu cô không thuơng chúng tôi, thì rồi chúng tôi lại phải mang lấy cái dại của cô mà thôi. Và vì chúng tôi không thể sống mà nuôi cô mãi được,thì sau naỳ, khi chúng tôi khuất nuí, cô biết ở với ai, nhất là bấy giờ cô sẽ ở vào cái tuổi phải dựa dẫm khi đã là cây cao bóng cả, bóng xế chiều tà ?


" Này áo đồng lẫm quần lĩnh tiá,

Này guơng, này lược này hoa tai

Muốn gì tôi sắm cho cô đủ

Nào đã thua ai, đã kém ai ?



Ruộng tôi cày cấy dâu tôi hái

Nuôi dạy em cô tôi đảm đương

Nhà cửa tôi coi nợ tôi giả

Tôi còn mạnh chán, khiến cô thương !"

Hay cô buồn vì của hồi môn thua chị kém em ? Này nhé, những áo đồng lẫm, quần lĩnh tiá, gương, lược, và đến cả hoa tai bằng vàng....bà đã phải cố gắng để lo cho con được bằng chị bằng em , để cho cô không phải tủi thân trong ngày đi lấy chồng như những người con gái khác. Vì cái hoàn cảnh không lấy gì làm khá giả của gia đình cô, ở cái vùng đất nông thôn , với cái nghề làm ruộng, với đưa thoi , dệt lụa ấy giỏi lắm cũng chỉ đủ nuôi sống mấy miệng ăn đã chật vật lắm rồi, huống hồ phải chuẩn bị cho cô những của hồi môn ' nho nhỏ " kia,thật là một sự cố gắng lớn lao biết nhường nào , chưa biết chừng còn phải đi vay nợ của người ta nữa.

Phải là một nguời mẹ biết lo xa lắm,biết thương con và chắt chiu lắm và đã phải tích cóp từng cái hào con, từng cái xu lẻ, trong suốt một thời gian dài của cuộc đời bà mới có hy vọng có được. Nhưng bởi cái ngày lên xe hoa của con , nó rất quan trọng, nó là một cái mốc lịch sử đánh dấu cái bước ngoặt trọng đại trong cuộc đời của một người con gaí, nên bà dứt khoát phải lo lắng chu đáo cho con, một mặt là để không có điều tiếng gì với người ta, mặt khác là nhân tố khởi đầu tốt đẹp cho hạnh phúc lâu dài của con gái mình.

Hay cô lo lắng vì thương mẹ già, em daị, hoặc tham công tiếc việc mà đi không đành ?Thưa rằng mọi việc trong nhà còn có tôi đây : " Vắng cô thì chợ vẫn đông, Cô đi lấy chồng thì chợ vẫn vui ". Như ngày xưa khi cô chưa sinh ra, tôi cũng phải trồng luá, trồng dâu, chăn tằm dệt vaỉ, đã có giờ phút nào được nghỉ ngơi, có việc gì mà không đến tay " Nghĩa là những công việc mà cô con gái cả của bà, trước đây đã đỡ đần mẹ được thì bây giờ tất cả lại dồn lên vai bà .Một điều chắc chắn là vẫn với những công việc ấy, nhưng sức lực của bà đã giảm sút và hao mòn quá nhiều vì chồng và con. Song để yên lòng cô, bà vẫn quả quyết với cô rằng bà còn rất "mạnh". Cái mạnh ấy như một con dao nhọn cứa vào lòng của những đứa con có hiếu và những người có lương tri.

Sau tất cả những điều mà bà mẹ đã nói và đã làm, cô còn cấn cá gì được nữa ? Hết nhé ! Vậy thì cô hãy lau nước mắt, trang điểm vaò, mà ra chào họ ! Và phải làm cái phận sự mà trước sau sẽ phải làm đó là lấy chồng . Nhưng :

" Đưa con ra đến cửa buồng thôi

Mẹ phải xa con khổ mấy mươi

Con ạ đêm nay mình mẹ khóc

Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi "

Khổ thơ này đổ ập cả cái tình mẫu tử nặng tựa non xuống bài thơ. Đây chính là cốt lõi của bài thơ. Nó làm cho người đọc phải sững sờ, trân trối, và bất ngờ trước cái tình ý thậm sâu sắc của bà mẹ . Theo tục lệ xưa và nay của người Việt ta, người mẹ đẻ của cô con gaí, không đi đưa dâu về nhà chồng . Có lẽ để tránh cho cô con gái và bà mẹ những sự xúc động không có lợi. Nhưng đứng trước cái cảnh kẻ ở người đi ấy, bà đã không thể kìm nén được lòng mình để trào dâng nước mắt.Tại sao bà lại khóc ?

Lẽ ra cái việc lấy chồng của con cái phải là một mừng vui mới đúng ! Nếu cứ u buồn như vậy thì ai còn dám đi lấy chồng nữa! Vâng , đó cũng là một thắc mắc không sai . Đúng là cái việc lấy chồng của cô con gaí, đối với nhiều người trong đó có mẹ của cô, là một niềm vui, mà không những là một niềm vui mà còn là song hỷ ( hai niềm vui đến cùng một lúc).Nhưng sau khi lo lắng cho cô từ tinh thần cho đến vật chất, từ đây bà mẹ đã làm tròn bổn phận của một người lớn đối với một người lớn, của một người làm cha mẹ đối với con cái mình, ấy là dựng vợ gả chồng.

Nhưng đồng hành với sự mừng vui ấy,là một nỗi buồn sâu kín trước sự mất mát không gì bù đắp về tình cảm của bà.Chỉ có người mang nặng đẻ đau,chỉ có người thường xuyên nâng niu chăm sóc, bế ẵm,cho bú cho mớm, vắt từng giọt sữa hiếm hoi và quý giá như những giọt tình sâu nặng của người mẹ mới thấu hiểu và thấm thía được sự mất mát và hẫng hụt to lớn ấy. Từ đây, cô con gái yêu đã tuột khỏi vòng tay của bà , tuột mất sự trinh trắng, thơ ngây, tuột mất cả caí khung trời hoa bướm tràn trề mơ mộng và thần tiên vốn đang lơ lửng trong không trung, để rơi bịch xuống mặt đất trần tục. Như cuộc đời của bà, vào cái đêm tân hôn, cái đêm động phòng ấy,những giọt nước mắt đã lăn. Đêm nay bà lại khóc vì con gái mình, khóc cho cái kiếp luân hồi của những người con gái không có hồi kết. Tình đến thế là cùng !

Nhưng không chỉ có thế, bài thơ còn một câu cuối cùng, dứt người ta ra khỏi sự bi lụy và nhớ thương. Nó đem lại một nhịp điệu bình thường của cuộc sống bằng một cái sự việc rất bình thuờng, đang diễn ra, vốn như cuộc sống cần phải thế, như cơm áo gạo tiền cần phải thế, không chỉ có thương nhớ mà thôi. Bà đã lại dồn hết cái tình cảm ấy vào trong công việc đưa thoi một cách cần mẫn, đều đặn hàng ngaỳ, vì những điều còn phải làm đang ở phía trước. Bà đã không chỉ là một người mẹ có trách nhiệm rất cao mà tình cảm của bà thật chứa chan " như nước trong nguồn chảy ra ".

Chỉ trong một sự việc lấy chồng rất thường tình của một cô con gaí, tức là một việc cụ thể mà tác giả đã khắc họa rất rõ nét bức chân dung lớn lao về người phụ nữ, người mẹ trên toàn thế giới những phẩm chất cơ bản rất quý giá : trách nhiệm và tình cảm hòa quyện vào nhau, xoắn xuýt đến mức khó có thể phân biệt được, làm rung động sâu sắc đến lòng người và rung chuyển cả vũ trụ .
IP IP Logged
Hieutri
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 410
Trích dẫn Hieutri Replybullet Ngày gửi: 07 Nov 2011 lúc 8:35pm
Màu Thời Gian - Đoàn Phú Tứ
 
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình

Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần Phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian.

Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh.

Tóc mây một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình muôn thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát...

Nếu đem thể “truờng đoản cú” nói trên mà so với bài “Màu Thời Gian” của Đoàn Phú Tứ thì có khác gì nhau bao nhiêu. “Màu Thời gian” cũng pha lẫn giữa ngũ ngôn, thất ngôn, thơ mới, v .v…

Tại sao Đoàn Phú Tứ không dùng những thể thơ cũ, như ngũ ngôn, tứ tuyệt, thất ngôn hay thể thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ thường làm…

Có gì đâu! Tại vì ông ta là một nhà viết kịch thơ. Trong kịch thơ, thường các câu nói của nhân vật phải viết bằng thơ. Những lời nói như vậy, không thể cứ phải giữ một thể thơ mà thôi được. Bên Tây phương cũng vậy. Nếu độc giả có đọc những vở kịch của Shakespeare, thiên tài kịch nghệ của Anh, độc giả sẽ thấy trong lời thơ của các nhân vật, cũng viết theo thể đại khái như “trường đoản cú” của ta vậy. Ông Đoàn Phú Tứ quen dùng thể “trường đoản cú” để viết kịch, thì nay ông dùng nó thể viết bài thơ “Màu Thời Gian” cũng không có gì là lạ để tán hươu tán vượn.

Điều rắc rối là bài thơ nầy khó hiểu. Khi thì ông nói tới hiện tại như “Sớm nay…”, khi thì ông nói tới quá khứ như: “Ngàn xưa, không lạnh nữa Tần phi” (tức cung phi đời nhà Tần (có thể là Tần Thủy Hoàng, ông có tới ba ngàn cung phi), bên Tầu; khi thì nói không gian: “Trời mây phảng phất”, khi thì nói thời gian: “Màu thời gian không xanh.”, khi thì nói “tình duyên trăm năm”, khi thì nói tinh duyên ngắn ngủi, tới thề nguyền: “Tóc mây một món chiếc dao vàng.”

Đọc lên thì thấy hay, mà hiểu cho hết thì khó hiểu.
Tướng Nguyễn Sơn là một người rất yêu văn nghệ có nói “không hiểu nổi” nhưng “cứ nhơ nhớ, nó thanh thoát, nó lâng lâng, như khi nhìn áng mây trôi, khi ngắm dòng nước chảy… nó lung linh như một khúc nhạc thiều…., nó chập chờn như một bóng Liêu Trai!”

Thật ra, bài thơ có nguyên ủy của nó, một động lực kín đáo khiến Đoàn Phú Tứ viết nên bài thơ nầy.

Đoàn Phú Tứ giải bày rằng là có một giai nhân bên Hồ Tây từng học nhạc ở Hà Nội, từng quyến rũ Đoàn Phú Tứ bằng tiếng dương cầm rất hay, nhưng khi ốm nặng, cô gái ấy đã khước từ, dấu mặt, không cho ông vào thăm (như Tần phi “Thà nép mày hoa, thiếp phụ chàng)

Thiên tài của nhà thơ là đem câu chuyện tình của người ông yêu ngày nay để ví với câu chuyện một cung Tần như đã nói ở trên. Người cung phi trong câu chuyện và cá tính của người yêu ông có những nét giống nhau, không chịu để người mình yêu thấy cái nhan sắc tàn tạ của mình, muốn để lại trong lòng người yêu những ấn tượng về vẽ đẹp, về tình yêu, về nhớ nhung. Làm sao nó giữ được nguyên vẹn như thuở ban đầu. Trong viễn tượng đó, nhà thơ còn bày tỏ được sự kín dáo, e lệ, và dịu dàng của giai nhân, bằng những hình ảnh, âm thanh, màu sắc, xưa nay, cũ mới, không gian, thời gian, yêu đương, nhớ nhung và tuyệt vọng trong một tình tự đặc biệt, qua những hình ảnh của cung nhân đẹp đẽ, trong cái lạnh lẽo của cung phòng, v.v… với những danh từ xưa nay lẫn lộn.

Ví dụ “phụng quân vương” là tiếng cổ, ngày nay nếu chúng ta có nghe tới thì cũng chỉ thấy trong những tuồng cổ (hát bội hay cải lương). Bên cạnh đó “thiếp phụ chàng” là những tiếng của thời đại ông. Tản Đà viết: “Vàng bay mấy lá năm hồ hết, Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.” Lại cũng qua đó, ta thấy hình ảnh cô Kiều cắt tóc thề bồi cùng Kim Trọng: “Tóc mây một món chiếc dao vàng.”

Một điều khác, rất đặc sắc và mới lạ của bài thơ của ông là màu sắc. Khi nói tới màu sắc, thường người ta nói tới không gian: Màu trời, màu chiều, màu núi sông, thành quách. Đoàn Phú Tứ có cái nhìn đặc biệt: Ông thấy màu sắc trong thời gian. Đó là màu tím, màu buồn; mà lại tím ngắt, là tím Huế, tím của thành quách cung đền miếu mạo, cũng có thể là màu của cung A Phòng nữa chăng, nên nó lại càng buồn hơn.

Đọc bài thơ nầy của ông, người đọc cảm thấy buồn, nhưng cái cảm nhận ấy, không phải ở món tóc cắt thề nguyền, không phải vì “cung lạnh”, không phải “tình trăm năm không vẹn”, mà chính ở màu thời gian buồn bã do ông vẽ ra trước mắt người đọc, trong trí tưởng của người đọc. Màu thời gian đó, cộng hưởng với hương thời gian, hai thứ quyện lẫn vào nhau, đan chéo vào nhau và đem lại cho người đọc một nỗi buồn nhẹ nhàng mà sâu lắng vô cùng.


Sửa bởi Hieutri - 07 Nov 2011 lúc 8:40pm
IP IP Logged
Hieutri
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 410
Trích dẫn Hieutri Replybullet Ngày gửi: 08 Nov 2011 lúc 2:58pm

Chinh Phụ Ngâm

Đoàn Thị Điểm-Đặng Trần Côn
412 câu thơ viết theo thể song thất lục bát, ta có thể chia ra làm 13 phần:

- Phần 1:
Nước nhà đang cơn biến loạn, làm trai phải tạm gác việc nhà để làm bổn phận với đất nước theo tiếng gọi của non sông. Làm gái đành tạm nhận lấy kiếp sống truân chuyên.

1- Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên.
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt.
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh..
Nước thanh bình ba trăm năm cũ,
Áo nhung trao quan vũ, từ đây;
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào.
Ðường dong ruổi lưng đeo cung tiễn.
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
16- Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

 

- Phần 2:
Giờ phút lên đường thân chinh ra biên ải. Người trai vốn giòng hào kiệt, với ý chí kiên cường, quyết đem thân mà trả nợ núi sông.

 

17- Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt.
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng.
Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời,
Chí làm trai dậm nghìn da ngựa
Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao,
Giã nhà, đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
Ngòi đầu cầu, nước trong như lọc,
Ðường bên cầu, cỏ mọc còn non.
Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
Nước trong chảy, lòng phiền chẳng rửa.
Cỏ xanh thơm, dạ nhớ khó quên.
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay.
Bước đi một bước giây giây lại dừng.
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên san;
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Săn Lâu lan rằng theo Giới tử;
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
40- Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

- Phần 3:
Cảnh chia tay ngậm ngùi trong lòng người chinh phụ. Có lẽ người đi ít buồn hơn kẻ ở.

 

41- Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay!
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng dương
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng.
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa.
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Ðoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn mầu mây biếc, trải ngần núi xanh
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãi trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu.
64- Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

- Phần 4:
Những tháng ngày gian khổ của chinh phu từ khi đi vào nơi gió cát.

 

65- Chàng từ khi vào nơi gió cát,
Ðêm chăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa nhường bao!
Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu!
Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon.
Ôm yên, gối trống đã chồn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.
Hình khe thế núi gần xa,
Ðứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
Sương đầu núi, buổi chiều như giội,
Nước lòng khe, nẻo suối còn sâu.
Não người áo giáp bấy lâu,
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ?
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi Hãn hải thì miền Tiêu quan.
Ðã trắc trở đòi ngàn xà hổ
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong,
Lên cao trông thức mây lồng,
88- Lòng nào mà chẳng động lòng bi thương.

- Phần 5:
Lòng hy sinh của người trai nơi chiến trường rất nhiều ngay cả việc đem thân đền nợ nước, da ngựa bọc thây.

 

89- Chàng từ sang đông nam khơi nẻo
Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây
Nức hơi mạnh ơn dày từ trước;
Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
Non Kỳ mộ chỉ trăng treo,
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa, nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai: già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ.
Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên treo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.
Áng công danh trăm đường rộn rã,
Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi,
Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?
112- Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.

-Phần 6:
Người chinh phụ buồn cho cái kiếp sống cô đơn của mình nhưng trong lòng vẫn chan chứa nỗi hẹn hò của ngày về gặp gỡ.

 

113- Trong cửa này, đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia, há kiếp chàng vay?
Những mong cá nước vui vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng há từng học lũ vương tôn?
Cố sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm, thôi hôm những sầu.
Chàng phong lưu đương chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng gian dối chữ duyên;
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
Quan sơn để cách hàn huyên cho đành?
Thuở lâm hành, oanh chưa bén liễu.
Hỏi ngày về, ước nẻo oanh ca
Nay quyên đã giục oanh già.
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo,
Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông,
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại đã bên sông bơ xờ.
Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy,
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm?
Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao.
Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ.
Chiều lại tìm nào có tiêu hao:
Ngập ngừng gió thổi chéo bào
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.
Tin thường lại người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp xung quanh,
Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ!
Thư thường tới, người chưa thấy tới,
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang.
148- Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?

-Phần 7:
Dù chồng đã đi xa, ngoài biên ải, chinh phụ vẫn làm tròn bổn phận của người ở lại.

 

149- Thử tính lại diễn khơi ngày ấy.
Tiền sen này đã nẩy là ba.
Xót người lần lữa ải xa,
Xót người nương chốn Hoàng hoa dặm dài.
Tình gia thất nào ai chẳng có,
Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.
Mẹ già phơ phất mái sương,
Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân
Nay một thân nuôi già, dạy trẻ,
Nỗi quan hoài mang mể biết bao.
Nhớ chàng trải mấy sương sao
Xuân từng đổi mới, đông nào có dư!
Kể năm đã ba tư cách diễn
Mối sầu thêm ngìn vạn ngổn ngang,
Ước gì gần gũi tấc gang,
Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay.
Theo cung Hán thuở ngày xuất giá
Gương lầu Tần, dấu đã soi chung.
Cậy ai mà gửi tới cùng,
Ðể chàng thấu hết tấm lòng tương tư.
Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía,
Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi.
Cậy ai mà gửi tới nơi?
176- Ðể chàng trân trọng dấu người tương thân.

-Phần 8:
Vắng tin chồng đã lâu, chinh phụ cảm thấy lòng mình dâng lên nỗi lo âu.

 

177- Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhàn luống tưởng thư phong.
Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi, không đường hồng tiện.
Xót cõi ngoài tuyết quyến, mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Ðề chữ gấm phong thôi lại mở.
Gieo bói tiền tin dở còn ngờ.
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài, xiêm dắt thẹn thùng,
Lệch vừng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng, thầm gieo từng bước.
Ngoài rèm thưa rủ, thác đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Ðèn có biết, nhường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương,
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc trời đằng đẵng bấy niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng,
Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên,
Non Yên dù chẳng tới miền.
212- Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

-Phần 9:
Tâm trạng người chinh phụ trong cảnh đợi chờ quá lâu. Cảnh vật chung quanh không còn là gần gũi với nàng, ngay cả việc trang điểm cho mình.

 

123- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ nhung đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa bổ mòn gốc liễu.
Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu,
Ðâu xiết kể trăm sầu nghìn não.
Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi,
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa,
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song;
Nương song luống ngẩn ngơ lòng.
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
Biếng trang điểm lòng người sầu tủi,
Xót nỗi chàng ngoài cõi trùng quan.
Khác gì ả Chức chị Hằng,
Bến Ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng.
Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối,
Mộng ôm đầy, hãy thổi làm cơm.
Mượn hoa, mượn rượu giải buồn,
Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.
Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng.
Ôm đàn tranh, mấy phím rời tay;
Xót người hành dịch bấy nay,
Dặm xa thêm mỏi, trắp đầy lại vơi.
Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua như đốt buồng gan.
Võ vàng đổi khác dung nhan,
253- Khuê ly mới biết tân toan dường này.

-Phần 10:
Chinh phụ mơ thấy mình đi bên chồng khắp mọi nơi. Ðó vẫn là giấc mộng.

 

153- Nếm chua cay, tấm lòng mới tỏ.
Chua cay này há có vì ai?
Vì chàng, lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng, thân thiếp lẻ loi một bề.
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng.
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn,
Duy còn hồn mộng được gần,
Ðêm đêm thường đến Giang tân tìm người
Tìm chàng thuở Dương đài lối cũ.
Gặp chàng nơi Tương phố bến xưa:
Xum vầy mấy lúc tình cờ,
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.
Giận thiếp thân lại không bằng mộng
Ðược gần chàng bến Lũng thành Quan.
Khi mơ, những tiếc khi tàn,
Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không!
Vui có một tấm lòng chẳng dứt.
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi!
Lòng theo nhưng chửa thấy người,
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe
Trông bến nam, bãi che mặt nước,
Cỏ biếc um, dâu mướt màu xanh.
Nhà thôn mấy xóm chông chênh,
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.
Trông đường bắc, đôi chòm quán khách,
Rườm rà cây xanh ngắt núi non;
Lúa thành thoi thóp bên cồn,
Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.
Non đông thấy lá hầu chất đống.
Trĩ xập xòe mai cũng bẻ bai,
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.
Lũng tây chẩy, nước dường uốn khúc,
Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu:
Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.
Trông bốn bể chân trời mặt đất;
Lên, xuống lầu thấm thoắt đòi phen;
Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn,
Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc quan.
Gậy rút đất dễ khôn học chước,
Khăn gieo cầu nào được thấy tiên,
Lòng này hóa đá cũng nên,
296- E không lệ ngọc mà lên trông lầu.

-Phần 11:
Chinh phụ có khi cũng mến tiếc tuổi xuân. Sợ tuổi trẻ sẽ qua nhanh mà chồng thì chưa gặp. Không biết chàng có nhớ đến thiếp chăng?

 

297- Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
Lòng thiếp nàp dám nghĩ gần xa;
Hướng dương lòng thiếp như hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng bởi tại bóng dương;
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần?
Chồi lan nọ trước sân đã hái,
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ.
Bóng Ngân hán khi mờ khi tỏ,
Ðộ Khuê triền buổi có buổi không.
Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc đẩu thôi đông lại đoài.
Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành khô.
Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu,
Gió mây hiu hắt trên đầu tường vôi.
Một năm một nhạt màu son phấn,
Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi:
Xưa sao hình ảnh chẳng rời,
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương?
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lối cũ rêu in.
Gió xuân ngày một vắng tin,
Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì.
Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy,
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau;
Nọ thì ả Chức, chàng Ngâu.
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.
Thương một kẻ phòng không luống giữ,
Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau;
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
Người đòi thấm thoắt qua mầu xuân xanh
Xuân, thu để giận quanh ở dạ.
Hợp ly đành buồn quá khi vui.
Oán sầu nhiều nỗi tơi bời,
Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.
Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước,
E đến khi đầu bạc mà thương.
Mặt hoa nọ gã Phan lang
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
Nghĩ nhan sắc đương chùng hoa nở,
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa!
Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng
Gác nguyệt nọ mơ mòng vẻ mặt,
Lầu hoa kia, phảng phất mùi hương.
Trách trời sao để nhỡ nhàng,
352- Thiếp rầu, thiếp lại rầu chàng chẳng quên.

-Phần 12:
Chinh phụ ước mơ mình sống có đôi, chỉ như loài chim muông cũng thấy hạnh phúc lắm rồi, mong rằng mình còn trẻ mãi và luôn gần gũi chồng.

 

353- Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội?
Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.
Chẳng xem chim yến trên rường,
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.
Kìa loài sâu hai đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
Liễu, sen, là thức cỏ cây,
Ðôi hoa cũng sánh, đôi dây cũng liền.
Ấy loài vật tình duyên còn thế,
Sao kiếp người nỡ để đấy, đây.
Thiếp xin về kiếp sau này,
Như chim liền cánh, như cây liền cành.
Ðành muôn kiếp chữ tình đã vậy,
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau,
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.
Xin làm bóng theo cùng chàng vậy.
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên;
Chàng nương vừng nguyệt phỉ nguyền,
372- Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn.

-Phần 13 ( kết ):
Biết chồng đã ra đi vì dân vì nước, thì còn gì mong hơn là ngày chinh phu trở về trong khúc ca chiến thắng. Còn gì hạnh phúc hơn khi vợ chồng sum họp và sống trong vinh dự, thái bình với làng, với nước.

 

373- Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt,
Sức tý dân dường sắt trơ trơ.
Máu Thuyền Vu quắc Nhục Chi,
Ấy thì bữa uống, ấy thì buổi ăn.
Mũi đồng bác đôi lần hăm hở,
Ðã lòng trời gìn giữ người trung.
Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải bắc, treo cung non đoài.
Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải,
Tiếng khải ca trở lại Thần kinh.
Ðỉnh non kia, đá đề danh,
Triều thiên vào trước cung đình dâng công,
Nước Ngân hán việt đồng rửa sạch,
Khúc Nhạc Từ giéo giắt lừng khen.
Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân,
Nền huân tướng đai cân rạng vẻ.
Chữ đồng hưu bia để nghìn đông.
Ơn trên ấm tử, thê phong
Phân vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.
Thiếp chẳng dại như người Tô phụ.
Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương.
Khi về đeo quả ấn vàng,
Trên khung cửi, dám rẫy ruồng làm cao.
Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
Xin vì chàng dũ lớp phong sương.
Vì chàng tay chúc chén vàng,
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.
Mở khăn lệ, chàng trông từng tấm,
Ðọc thơ sầu, chàng thấm từng câu.
Câu vui đổi lấy câu sầu.
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.
Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
Sẽ ca lần ren rén từng thiên
Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.
Cho bõ lúc xa sầu cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.
Ngâm nga mong mỏi chữ tình,
412- Nhường này âu hẳn tài lành trượng phu.

 

 

Thi ca là tiếng nói tha thiết nhất, mãnh liệt nhất khởi từ một thực trạng cô đơn(1) khủng khiếp. Người cầm bút chỉ có thể vẽ ra trang giấy nỗi lòng của mình một khi tâm hồn là đồi thông xanh mướt và mùa đông rét cóng chung quanh. Đồi thông là nỗi cô đơn ngạo nghễ, cô đơn với chính niềm hạnh phúc hay bất hạnh, cô đơn với đôi mắt ngó hân hoan hay bờ môi căm căm một niềm tủi cực tím ngắt... Sáng tạo đồng nghĩa với cô đơn trước tác phẩm nghệ thuật. Chấp nhận cô đơn là đã chuẩn bị cho một hoàn thành. Một tác phẩm mang theo những đường nét lẻ loi của kẻ sáng tạo chính nó. Như thế, thi ca nói riêng, là bào thai phôi dựng từ một cuộc hôn phối giữa niềm cô độc và dự phóng văn chương trong tâm trí nghệ sĩ. Đặng Trần Côn, kẻ đã vĩnh viễn cô độc trên chính tác phẩm mình. Chinh phụ ngâm khúc, tác phẩm đã bất tử để xác nhận những tháng ngày ông cô đơn trong lòng đất, trên ngọn bấc lay lắt một màu vàng bệnh hoạn. Từ dưới một hầm sâu, cô đơn với vuốt sắt cấu mạnh vào trái tim ông chảy máu. Và ông, đôi mắt sáng rực, thê thiết, đăm đăm ngó vào hồn mình. Nơi đó có gì? Máu, nước mắt và người chinh phụ ngày đêm vò võ nhớ chồng. Để từ đó, đôi mắt của thi sĩ dần dần hiu hắt mòn mỏi, xa vắng theo từng biến chuyển tâm tình của nàng chinh phụ. Hai đôi mắt, hai tâm hồn trong một thoáng chốc linh thánh đã hoà nhập, tan biến vào nhau để ứa ra giòng nước mắt nghẹn ngào bi thiết. Những giọt lệ ấy là những lời thơ bất hủ của họ Đặng. Lời thơ kêu xin một bóng dáng tuyệt vời trở về. Đó là hạnh phúc.

Hạnh phúc, một chiếc bóng mơ hồ chợt đi chợt đến. Là đất hứa của những bước chân trên hành trình tìm đến.

Tôi muốn nói hạnh phúc như một thiên đường. Thiên đường có bóng mây xanh là khói của chén cơm đoàn tụ, có suối ngọt ngào là giòng nước mắt vui mừng của ngày hội ngộ, có lá xanh là nụ cười, có cỏ cây là mắt ngó hân hoan. Thiên đường thật giản dị tầm thường nhưng có bao giờ chúng ta tìm thấy? Chưa một ai, không một ai. Câu nói có vẻ bi quan quá đỗi. Nhưng đó là thực sự. Bởi hồn người luôn luôn hướng đến tuyệt đối, cái tuyệt đối trong một khung cảnh tầm thường.

Và thiên đường đã mất đi trong trong đời người chinh phụ năm xưa, từ một thuở đất trời lên cơn gió bụi và nàng bắt đầu khoảng đời truân chuyên, lay lắt trong trái tim bát ngát quạnh hiu:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Tôi nghĩ: gió bụi của đất trời, binh đao của vận nước, hay bão tố của đời nàng?

Bão tố đã đến từ lúc “trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt”. Bão tố đến, cuốn đi những sáng mai xanh, những buổi chiều vàng, những môi hôn mắt liếc của hai tâm hồn son trẻ.

Bùi Giáng nói: biệt ly là qui luật, hội ngộ là ngẫu nhĩ. Và tôi đã thấy cảnh chia tay trong từng khắc một. Tương Phố với “Giọt lệ” trên bến tàu mùa “thu”, Nguyễn Bính với “Hôn nhau lần cuối” trên sân ga, Yên Thao với “Nhà tôi” từ giã... Tôi thấy và rung động. Nhưng chưa bao giờ muốn khóc như chứng kiến một lần cuộc giã biệt trong “Chinh phụ ngâm khúc” dưới ngòi bút thần thánh của Đặng Trần Côn, mặc dù đã bao lần tôi tự nhủ: biệt ly là qui luật, hội ngộ là ngẫu nhĩ. Cuộc đời có đó để tạo dựng những cách ngăn bi thảm. Và tôi, kẻ đã lắm lần khóc nuối một bóng hình vô danh đã cùng tôi giã biệt từng phút từng giờ. Nhưng, tôi vẫn bàng hoàng sửng sốt khi lần đầu thấy họ, chinh phu và chinh phụ xa xưa, cầm tay nhau bên dòng nước:

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc

Đường bên cầu cỏ mọc còn non

Đưa chàng lòng dặc dặc buồn

Bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền

Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa

Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên

Nhủ rồi tay lại trao liền

Bước đi một bước lại vin áo chàng

Tôi rùng mình khi thấy. Thấy, chứ không phải hình dung. Không cần hình dung vẫn thấy. Nầy đây: dòng sông chảy lặng lờ. Chiếc cầu chênh vênh như thân phận làm người. Nước trong vắt là biểu tượng của tình yêu trinh tuyền toàn bích. Và hạnh phúc, thơm ngon như cỏ cây xanh ngắt trên bờ. Nơi đó, họ chia tay nhau và đằng xa là đoàn quân, chân ngựa rộn rã. Nơi đó, bàn tay run run níu áo chồng. “Bước đi một bước lại vin áo chàng”. Bàn tay như muốn bấu víu, níu kéo lại lại một hạnh phúc sắp sửa tan vỡ. Bàn tay thanh xuân phiền muộn. Nàng ước ao gì? Chỉ ước được làm chiếc đò đưa chàng sang sông. Chỉ mong là con chiến mã theo chồng ra trận mạc. Một ước mong quá đỗi thê thiết và tội nghiệp. Có điều, thực và mộng không là một. Nàng muốn đem hạnh phúc hôm qua về để vơi bớt xót xa, gọi nụ hôn nồng nàn đã mất trở lại để phôi pha cay đắng.

Tôi hiểu được, có thể bờ cỏ đã lên hương gây mùi nhớ, dòng nước trong vắt đã gợi hình đến niềm hạnh phúc mất tăm. Tôi không muốn chú giải thi ca. Nói như một ai đó, cánh cửa của vũ trụ thi ca mở ra đồng thời khép lại trước mọi công trình chú giải. Mọi mưu toan chú giải thi ca đều bất lực(2). Thi ca có đời sống riêng của nó. Hãy đến bằng bước chân của cảm nhận. Tôi đã cảm nhận và viết ra. Có thể tôi đã giết chết hồn thơ và còn lại một mớ ký hiệu ngôn ngữ rạc rời. Tôi biết. Tuy có điều, chữ viết như muốn vọt ra ngoài, do một thôi thúc kỳ lạ và tôi phải chìu nó. Bởi làm sao tôi giam giữ một hình ảnh thê thiết như thế được trong lòng? Hình ảnh của máu lửa đằng xa, trong đôi mắt nàng. Máu và lửa. Biểu tượng kinh khủng của chinh chiến.

Tự bao giờ, chinh chiến là hố sâu ngăn cách. Đại dương của chia rẽ. Con chim uyên đã gãy cánh bên này dòng sông và chim ương mải miết với thanh kiếm nơi dặm xa heo hút. Nàng đã trở về để nghe “sầu lên ngọn ải”, để thấy “oán ra cửa phòng”.

Chinh chiến là thế, “nhất khứ” có thể “bất phục phản”. Nàng đã thấy gì ở khoảnh khắc vĩnh cữu trong lòng nàng? Một thoáng mà thiên thu tích tụ, nàng thấy gì? Có phải trước mắt là năm tháng quạnh hiu? Có phải sau lưng là nỗi hạnh phúc ngậm ngùi và hiện tại là xót xa cay đắng?

Tôi thấy tôi là cánh bèo lênh đênh trên dòng tâm khấp của nàng. Bởi hơn bao giờ hết, trong ngày tháng cô đơn rã rời nầy, với những tình cảm mong manh, tôi cơ hồ có những thoáng chốc gặp gỡ ngọt ngào như một giấc mộng chợt đến chợt đi. Tôi cũng nhớ đến Huy Cận: “tình đi mau, sầu ở lại lâu dài...”, “vì ta đợi nên người chẳng đến, người xa ta xa từ buổi sơ sinh”. Tôi rưng rưng khi đọc những câu thơ buồn bã ấy. Mùa xuân của hạnh phúc đã chết khi mới phôi thai. Cuộc đời bày ra ly biệt để ước mong hội ngộ. Nhưng không còn gì đớn đau hơn khi cuộc ly biệt xảy ra giữa lòng người. Cuộc biệt ly của đôi tình nhân trong vòng ôm trìu mến. Gần nhau đó nhưng cách biệt muôn trùng.

Chinh chiến khiến chia ly. Nàng đã oán hận máu lửa. Nhưng tôi còn căm hận hơn cuộc thánh chiến trong lòng mình. Cuộc chiến tranh không máu lửa nhưng chan hoà nước mắt. Yêu nhau có phải là một âm thanh hoà điệu tuyệt vời giữa hai tâm hồn? Có phải là “gặp gỡ rồi phút bỗng chia tay”?

Trong đêm xa xăm, trắng toát, câu thơ trở về như một ám ảnh ray rứt, băn khoăn.

Tạm biệt có thể là muôn đời không gặp gỡ. Mùa xuân chỉ thoáng hiện để còn lại một mùa đông lê thê buốt rét.

Chiến tranh, như thế đã là tội ác dù được nhân danh bởi một chủ nghĩa nào (3). Là khởi nguồn cho những đớn đau căm giận. Điều đó hiển nhiên để trở thành sáo ngữ khi nói đến.

Đến đây ta thấy hờn chinh chiến

Trong mắt em chiều lệ chảy quanh

              (Lê Nguyên Ngữ)

Đôi mắt của người em trong thơ hôm nay còn phảng phất đôi mắt xa xưa của nàng khi tâm hồn trông vời theo bóng nhỏ của người chồng yêu dấu:

Dấu chàng theo lớp mây đưa

Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà

Chàng thì đi cõi xa mưa gió

Thiếp lại về buồng cũ gối chăn

Đoái trông theo đã cách ngăn

Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại

Bến Tiêu tương thiếp hãy trông sang

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh chỉ mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Từ đây, mùa giông bão bắt đầu trong lòng nàng. Cái nhìn của luyến lưu chỉ bắt gặp những mây xanh núi biếc. Có lẽ núi mây như đồng loã với chiến chinh để ngăn chận chút hạnh phúc cuối cùng. Giòng sông trôi hoài một nhịp thở càng lúc càng não nùng ai oán. “Núi cao chi lắm núi ơi, núi che mặt trời không thấy người thương”. Bóng tối nhuộm đen đúa hồn nàng đang vội vàng thu lấy hình ảnh của người chồng yêu dấu càng lúc càng mịt mờ cho đến khi mất hút. Có ai nhìn thấy đôi mắt ấy? Đôi mắt như bấu víu, như van nài, ràn rụa nước mắt. Màu xanh của núi rừng, ngàn dâu là màu đen u ám thê lương của lòng nàng.

Bóng chàng đã mất hút thực sự. Nàng còn lại một hồn đầy tưởng tượng mơ màng. Chuỗi liên tưởng từ phút giây đó như sức sống linh thiêng, như hơi thở của trái tim nàng căng đầy một ước vọng đoàn tụ ấm nồng, nhưng thực tại là nỗi cô đơn rét buốt ngóng trông:

Chàng từ đi vào nơi gió cát

Đêm trăng này nghỉ mát phương nao

Câu thơ khiến tôi liên tưởng dễ dàng đến hình ảnh của người lính thú hôm nay trong thơ Phạm Ngọc Lư:

Chiến trường ném binh như vãi đậu

Đoàn quân ma bay khắp bốn phương

Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi

Núi mang cao điểm ngút oan hờn

Đá mang dáng dấp hồn chinh phụ

Trơ vơ chóp núi đứng bồng con

Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy

Đá vọng phu mọc khắp biên cương

Biên cương biên cương đi biền biệt

Chưa hết thanh xuân đã cùng đường

Trông núi có khi lầm bóng vợ

Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương

Thôi em sá chi ta mà đợi

Sá chi hạt cát giữa sa trường

...

Ngày về không hẹn ngày hôn lễ

Hay là ngày mắt nhắm tay buông

Hình ảnh của chiến chinh bao giờ cũng như bao giờ, có khác chăng là ở hình thức chiến đấu. Nhưng lòng vẫn một. Đó là lòng mong muốn ngày về. Là nỗi khát khao tột độ. Là tiếng gào thét giữa núi rừng nghìn năm cô tịch kêu đòi một mùa xuân hạnh phúc đến gần. Hơn bao giờ, người lữ khách, kẻ viễn chinh tha thiết nhớ đến hơi ấm gối chăn gia đình. Tôi nhớ đến người lính trong tác phẩm của Erich Maria Remarque, kẻ đã có một chiều qua xóm lạ, chợt bắt gặp mùi hương soan của cố xứ. Và sau một đêm thao thức nhớ nhung đến mẹ già, đến quê hương, đã mất tích. Chàng đi theo tiếng gọi của trái tim, của mùi hương cố quận.

Ngày về. Nỗi mong ước thê thảm mà rực rỡ trong lòng người chinh phu thuở đó và của muôn kẻ muôn đời. Ngày về. Có lẽ đó là niềm hạnh phúc bao la, choáng ngợp của người lính thú. Nhưng hôm nay, chiến trường không chỉ là nơi quan ải, biên trấn. Chiến trường mọi nơi, mọi chỗ. Chiến tranh có mặt từng phút từng ngày. Từ thôn quê hẻo lánh đến thành phố cuồng nộ. Từ đèo cao dốc thẳm đến vùng biển xa xôi. Từ trong đến ngoài biên cương quốc gia. Tất cả như sẵn sàng đổ nát trước bom đạn rập rình. Ngày về chưa hẳn là mùa xuân như ý, có thể là nỗi đau đớn thống khổ. Ta có thể gặp nỗi ê chề căm hận trong “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan:

Một chiều rừng mua

Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc

Được tin em gái mất

Trước tin em lấy chồng

Hôm nay, Vũ Hữu Định gặp một tình cảnh bi đát hơn, hầu như nỗi thống khổ tăng dần với tốc độ tiến triển của kỹ nghệ chiến tranh:

Thôi chẳng về chi thôn xóm quạnh

Nhà xưa giờ chắc cũng điêu tàn

Đứng đây đường cái quan bên núi

Ta cũng đã trầm lòng mê mê

 

Chiều dựng mùa xưa trên vách núi

Chiều neo sương khói buổi ta về

Mẹ chị đàn em không có mộ

Thăm ai? Thăm ai? Ta về quê

Chiến tranh tự nó là vết ung thư ghê khiếp trên quê hương và trong trái tim người. Nàng chinh phụ ngày xưa có tâm hồn loang lổ vì chờ trông, héo hắt vì mong ngóng. Dù cách xa muôn dặm, vẫn nhớ thương chồng, thương hơn bao giờ hết là đằng khác.

Tình gia thất nào ai chẳng có

Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương

Mẹ già phơ phất mái sương

Con thơ măng sữa vả đương phù trì

Lòng lão thân buồn khi tựa cửa

Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam

Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân

Nay một thân nuôi già, dạy trẻ

Nỗi quan hoài mang mể xiết bao!

Với hôm nay, người vợ hiền có thể khác xưa. Không còn là người chinh phụ Đông phương thuở trước. Không còn “sinh con là một cuộc liều, liều bao nhiêu cuộc bấy nhiêu đoạn trường” (Trần Tuấn Kiệt). Người chinh phụ hôm nay có thể một sớm một chiều mà đổi khác. Bởi như nhận định của một nhà thơ: chiến tranh không nằm một nơi nào nhất định. Chiến tranh ngay trên hè phố đầy lon hộp ngoại nhân. Chiến tranh trong ổ điếm. Trên môi trẻ con ngậm điếu Salem. Ngay trong tòa building cao ngất... Cho nên, ngày trở về có thể như khúc hát hôm nay:

Rớt tú tài anh đi trung sĩ

Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con

Một mai xong việc nước non (4)

Anh về anh thấy Mỹ con anh bồng

Câu cuối nói lên sự chấp nhận cay đắng. Bởi không phương cách nào khác. Cái bi đát của cuộc chiến nầy là thế đó.

Tôi muốn trở về với người chinh phụ thuỷ chung kia. Bởi tôi đã thấy được một tấm lòng trong cảo thơm lần dở. Có lẽ đó là một thái độ bi quan, tuy nhiên vẫn là thái độ thích nghi nhất để trấn an lòng mình. Còn gì cảm động hơn:

Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá

Gương lầu Tần dấu đã soi chung

Cậy ai mà gởi tới cùng

Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư

Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía

Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi

Cậy ai mà gởi tới nơi

Để chàng trân trọng dấu người tương thân

Kỷ niệm luôn luôn được nhắc nhở đến hình ảnh cũ, gợi lại chút dư âm của hạnh phúc để cuối cùng rưng rưng trong hoài niệm. Có thể kỷ niệm là chiếc bùa hộ mệnh cho khoảng ngày còn lại giá băng, lay lắt. Bây giờ nàng có đó, với đời sống hoang phế dù còn mẹ già và đàn con trẻ. Tuy thế, vẫn còn một chút hạnh phúc nhỏ nhoi mà hôm nay ta khao khát, bởi bom đạn đã khiến:

Những người đàn ông không có thì giờ để làm ái tình

Những người đàn bà không có thì giờ để cưu mang

Những bào thai không có thì giờ để ra đời

Những thân thể non không có thì giờ để yêu đương

Những người lớn tuổi không có thì giờ để già nua

Những kẻ bạc đầu không có thì giờ để chu toàn cái chết

                                      (Kiệt Tấn)

Quê hương bây giờ với thành phố:

Xe plát-tít nổ giữa phố đông

Giữa phố đông người tung từng mảnh thịt

Với thôn quê:

Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm

Nơi vải thô không đủ để chít đầu con trẻ

                        (Trần Dạ Từ)

Bởi thế, cây hy vọng hầu như trơ trụi, không xanh um những chồi non lộc biếc như vườn hoa trước nhà nàng chinh phụ thuở trước.

Con người sống, cần phải thắp sáng ánh lửa hy vọng trong lòng giữa trí, bởi lẽ thiếu hy vọng con người sẽ hiu hắt sống đời sống của một nỗi chết buồn rầu, lạnh lẽo. Và hơn đâu hết, nghệ thuật là hiện thể cao độ nhất của ước mơ. Thiếu ước mơ, đời sống khô cỗi và nghệ thuật tiêu trầm. Nói cách khác, hy vọng chính là sức sống.

Người chinh phụ cũng thế. Niềm tin tưởng hướng về một ngày về của chồng được bày tỏ tha thiết, man mác sầu trong khúc ca đẹp và thực, huyền hoặc và uyển chuyển, diễn tả qua hành động mê tín đầy tính chất đàn bà:

Màn mưa trướng tuyết xông pha

Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài

Đề chữ gấm phong thôi lại mở

Gieo bói tiền tin dở còn ngờ

Trong tác phẩm, ta còn bắt gặp những chi tiết tương tự như thế. Tất cả đều nói lên một tâm trạng được nuôi dưỡng bằng hơi thở của hy vọng. Hy vọng một ngày căng tràn nắng ấm, chan chứa tiếng cười hoan lạc của mùa xuân hạnh phúc:

Anh đã tin và tôi đã tin

Ngày quê hương cười bát ngát

               (Tần Hoài Dạ Vũ)

Và khi đó:

Anh sẽ dạy con biết yêu tiếng Mẹ

Đem ca dao làm khúc hát tỏ tình

Sẽ cày ruộng ươm tằm nuôi chí trẻ

Bên bếp hồng kể sự tích Rồng Tiên

                           (THDV.)

Vì:

Đời chúng ta mưa nên đời con phải nắng

Thân thể chúng ta tật nguyền nên con phải đầy đủ chân tay

                                 (THDV.)

Ước vọng, nói như một khẳng định, sẽ không bao giờ chết trong lòng người dù thực tế đã tận cùng bi đát. Lúc nào còn hơi thở là lúc đó niềm hy vọng còn thơm ngát như hương cau mỗi sớm.

Chiến chinh đồng nghĩa với giọt lệ. Nhưng trong giọt lệ ta còn tìm thấy nắng hồng của hy vọng, “trong tiếng khóc” còn tìm được “nụ cười xanh non” (Du Tử Lê).

Người chinh phụ vẫn chờ một sớm mai từ đằng xa thấp thoáng bóng người tình nàng nâng khăn sửa sửa áo. Dù bây giờ vẫn:

Trời hôm, tựa bóng ngẩn ngơ

Trăng khuya, nương gối bơ phờ tóc mai

Há như ai hồn sai bóng lẫn

Bóng thơ thơ thẩn thẩn hư không

Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng

Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo

Hình ảnh tiều tuỵ đó đã gây một chấn động trong lòng người đọc. Từng chữ là một tiếng nấc khô, héo hắt. Đọc từng câu để nghe cảm xúc dâng tràn.

Dưới một đêm trăng, trong một khuya về sáng, lẻ loi một mình, người chinh phụ như mất hồn thất bóng. Trái tim nàng như bay theo gió bụi bên chồng trên dặm trường thiên lý. Dung nhan từ đó vô ích:

Mặt biếng tô miệng càng biếng nói

Sớm lại chiều dòi dõi nương song

Nương song luống ngẩn ngơ lòng

Vắng chàng điểm phấn tô hồng với ai

Thời gian là con dao hai lưỡi. Ở đây, đã rạch nát trên mặt nàng những nét nhăn gấp nếp vì sầu nhớ tương tư. Là bàn tay đã ngắt đi những búp hoa trên thanh xuân nàng. Câu thơ chứa rất nhiều ẩn dụ đã nói lên điều đó:

Cảnh buồn người thiết tha lòng

Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun

Sương như búa bổ mòn gốc liễu

Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô

Giọt sương phủ bụi chim gù

Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi

Câu thơ chảy dài cảm xúc như tiếng khóc cô đơn tha thiết nhất. Alfred de Musset đã nói: tiếng khóc trầm thống nhất là bài thơ hay nhất. Đây chính là đoạn thơ hay nhất. Cái hay của ngôn từ chải chuốt, đẽo gọt để chính xác diễn tả. Sương là biểu tượng của thời gian, đã bổ mòn gốc liễu là căn phần, thân phận nàng. Tuyết là nỗi băng lạnh cóng buốt của căm căm cô độc, xẻ héo cành ngô là màu xanh hy vọng trong trái tim nàng loang lổ, tả tơi.

Bao giờ cũng thế, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tiếng chim hót là tiếng mỉa mai. Hồi trống vọng là lời châm chích vào tâm hồn quạnh quẽ nàng:

Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt

Trống tiều khua, như đốt buồng gan

...

Vì chàng, lệ thiếp nhỏ đôi

Vì chàng, thân thiếp lẻ loi một bề

Quá đau đớn, nàng đâm nghi ngờ. Ở đây, người đọc có thể bắt gặp được nỗi lòng của nàng, tâm lý của người nữ với ánh mắt cho đi quá nhiều thương nhớ nhưng nhận được chỉ bóng hư vô:

Hướng dương lòng thiếp như hoa

Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương

Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái

Hoa để vàng bởi tại bóng dương

Hoa vàng hoa rụng quanh tường

Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần?

Nghệ thuật tuyệt vời khi láy đi láy lại tiếng “hoa”, khiến cho người đọc cảm thấy màu vàng của hướng dương bay tan tác, mênh mang, và thấy rõ được một dung nhan tâm hồn, một tấm lòng vàng rơi tàn từng cánh, từng cánh.

Gió bụi của chinh chiến khiến một hồng nhan tuyệt vời thành một kẻ già nua buồn bã. Nụ cười trở thành hiếm muộn và dư thừa giọt lệ mỏi mòn sầu nhớ.

Tâm hồn của nàng đã được vẽ lại thành một dòng thơ chan chứa những hình ảnh màu sắc buồn rầu, khô chết. Thơ như thế không còn là thơ, đó là một hành động mãnh liệt và nhiệt tình nhất để phản đối chiến tranh. Tài hoa của Đặng Trần Côn quá đỗi tuyệt vời. Dòng tâm khấp của người chinh phụ được dàn trải bằng chính máu của thi sĩ.

Trở lại trong hầm tối của ông năm xưa, tôi thấy một bóng hình tiều tuỵ, bơ phờ đang gục trên bàn, vách lay lắt ngọn đèn vàng úa sắp tắt. Người đời vẫn nghĩ theo một truyền thuyết, Nguyễn Du khi sáng tác tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” đã phải lót sách để nằm, và từ đầu hôm cho tới sáng, khi dòng cuối dứt, người đã già đi hai mươi tuổi, tóc râu thậm thượt, xác xơ, trắng xoá. Tôi tin chắc Đặng Trần Côn cũng thế, và mọi nghệ sĩ đều khổ như một câu thơ của người xưa:

Người đẹp phận thường hay chết yểu

Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai

Bên ngọn đèn cạn dầu, Đặng Trần Côn với đôi mắt trắng đục, người đã thấy gì ở chung quanh? Có phải mỗi phân vuông trên bức vách của căn hầm ẩm thấp, lạnh lùng là một đôi mắt nhưng của muôn ngàn chinh phụ đang căm căm não nuột ngó nhìn?...

 

Tôi đã hỏi, đã tưởng tượng rồi chẳng bao giờ có thể tự đáp cho chính mình. Bởi tôi váng vất, say mê, choáng ngợp trước vẻ toàn bích của tác phẩm đong đầy máu lệ đó. Tôi rong ruổi, lết lê theo từng chữ từng câu. Những thoáng của hiện tại hoà nhập với từng giây của thuở xưa xa lắc. Tôi quên và nhớ. Tôi sáng suốt đến ráo hoảnh và u mê như bóng đêm đen đúa. Tôi lạc loài trong tác phẩm. Giòng chữ nầy được viết ra trong một tâm trạng như thế nên có thể đảo lộn, xoá bỏ mọi trật tự thông thường. Có thể đặt tên cho nó là gì? Biên khảo, tuỳ bút, tâm bút vân vân. Tôi gọi đó là giao bút, là một thoáng gặp gỡ giữa hồn và hồn, trong tháng ngày quạnh quẽ tôi sống hôm nay...

... Hégel nói: thơ là ngôn ngữ mới nhất. Một nhà thơ nói: thơ là hành động mới nhất. Tôi muốn nói: thơ là nơi hẹn hò gặp gỡ mới nhất trong cuộc bụi lầm thống khổ này.

Nói theo một triết gia: không ai tắm hai lần trong một giòng sông. Một học giả nói: không ai đọc hai lần một tác phẩm. “Chinh phụ ngâm khúc” trên bàn viết của tôi ngày mai sẽ thế nào? Không biết, nên trân trọng ghi lại và đọc lớn cho bạn bè cùng nghe cảm giác hôm nay để đánh dấu một bước đi trong cuộc đời của người viết./.

Đêm 08.02.1973

Trần Xuân An

 

IP IP Logged
Hieutri
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 410
Trích dẫn Hieutri Replybullet Ngày gửi: 08 Nov 2011 lúc 3:16pm
Hãy yêu đi khi ta còn có thể
Thủy Hướng Dương
 
 
      Hãy yêu đi, khi ta còn có thể!
     Vĩnh biệt rồi ta còn nói được chi
     Sống trên đời ta đâu màng danh lợi
     Chết đi rồi ta mang chúng được đâu?
     Cuộc đời này còn đầy những thương đau
     Sao ta nỡ để bạn mình oan ức
     Lỡ mai này ta sa chân xuống vực
     Ai là người muốn cứu vớt ta lên
     Hãy gom nhiều từng giọt nắng ngoài hiên
     Đem tưới hết những ngọn xanh chồi biếc
     Rồi một hôm nụ hồng bừng tỉnh giấc
     Hương ngọt ngào lan tỏa khắp bao la
    
Ta sẽ cười và nhắm mắt đi xa...

Thủy Hướng Dương, cái tên nghe như một niềm khao khát. Tôi chợt nghĩ, có lẽ đây là một cô gái giàu cá tính và khá mạnh mẽ. Nhưng khi đọc những bài thơ mềm mại của Thủy Hướng Dương, tôi mới nhận ra, ẩn sâu trong những bài thơ, vẫn là vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm của một cô gái.

 

Chị hóa thân vào từng số phận con người, cùng với những chiêm nghiệm sống của bản thân để nâng niu, chắt lọc nên những gì tinh túy của hồn thơ. Tình yêu cuộc sống, con người… trong thơ của chị, dường như không bao giờ cạn. “Hãy yêu đi, khi ta còn có thể” như một lời tuyên ngôn, một triết lý sống cho  những trang thơ :

 

“hãy yêu đi khi ta còn có thể

Vĩnh biệt rồi, ta còn nói được chi

 

Sống trên đời ta đừng màng danh lợi
Chết đi rồi, ta mang chúng được đâu”

(Hãy yêu đi khi ta còn có thể)

 

Những câu thơ giản dị, đã gởi vào cuộc sống một thông điệp nhân văn cho lẽ sống làm người. Có lẽ vì thế, mà những câu thơ cứ rưng rưng trong lòng người đọc, mang nặng ưu tư, một  nỗi thương đời:

 

“Hãy gom nhiều từng giọt nắng ngoài hiên

Đem tưới hết những ngọn xanh chồi biếc

Rồi một hôm nụ hồng bừng tỉnh giấc

Hương ngạt nào lan tỏa khắp bao la”

(Hãy yêu đi khi ta còn có thể)

 

Tình yêu trong thơ Thủy Hướng Dương, không chỉ là  tình yêu cuộc sống, với những vui buồn chung chung; Chị dành khá nhiều bài thơ viết về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Mỗi bài thơ mang một sắc thái riêng của tình yêu, nhưng dù ở sắc thái nào, thì tình yêu vẫn luôn khát khao, đến khắc khoải về hạnh phúc:

 

“Khắc khoải sống, khắc khoải yêu

Cả đời khắc khoải một điều : Có nhau !”

(khắc khoải)

 

Hạnh phúc là gì ? Có rất nhiều định nghĩa, hay  khái niệm về hạnh phúc, nhưng với Thủy Hướng Dương hạnh phúc lứa đôi thật giản dị: Hạnh phúc, ấy là khi “có nhau”. Chân lý nhiều khi  giản dị đến không ngờ. Tương tự như vậy, trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn,  hai người yêu nhau, được ví như “Trời với Đất”, nhưng:

 

“Nhưng anh có biết không: trời-đất

Sẽ chả là gì nếu thiếu nhau”

(Phan thị Thanh Nhàn)

 

Vâng, tất cả “ sẽ chả  là gì nếu thiếu nhau”. Hạnh phúc chỉ đong đầy khi “có nhau”. Hai cách viết khác nhau về cùng một vấn đề, nhưng đã có sự đồng cảm, giao thoa giữa hai cây bút nữ: Thủy Hướng Dương và Phan Thị Thanh Nhàn. Dường như, cách nhìn về hạnh phúc của người phụ nữ, thường giản dị, thiết thực và khiêm nhường hơn đàn ông thì phải ?

 

Hành trình đi đến hạnh phúc trong thơ Thủy Hướng Dương, là một hành trình đầy trăn trở, ưu tư. Thơ của chị, như lăn mình vào những trăn trở, ưu tư, để mà  đồng cảm, để mà sẻ chia, với  những yêu thương, nhung nhớ:

 

“Giá mà tôi chẳng gặp em

Đừng cho bút nhớ tô viền mắt nhau

 

Giá em tôi, mắt đừng sầu

Thế nào tôi cũng bớt đau trong lòng

 

“Bây giờ ngồi đứng cũng mong

Nghe khúc nhạc cũ cứa lòng em ơi”

(Giá mà…)

 

          Với cách sử dụng hình tượng nỗi đau trong thơ như “cứa lòng”, làm câu thơ  hay, nhưng cũng thật đau. Nỗi đau như còn đang rỉ máu….

 Con đường tình yêu đi đến hạnh phúc, không chỉ là con đường trải lụa với rực rỡ hoa hồng; mà còn là con đường yêu thương, mang theo đầy ắp sự trăn trở, suy tư, nhung nhớ, giận hờn, có khi pha một chút ghen tuông. Hơn thế, con đường tình yêu còn mang theo cả niềm đau, vị đắng của sự đổ vỡ, chia ly, và cả nỗi cô đơn mênh mông như biển cả. Để rồi qua đó, tác giả như muốn gởi gắm, nhắn nhủ: Hạnh phúc không dễ dàng, mỗi người  hãy biết sống yêu thương và nâng niu hạnh phúc, như là một báu vật trong đời.

 

Thơ Thủy Hướng Dương, mang đến cho bạn đọc một thế giới tình yêu giàu cảm xúc. Đan xen với tình yêu đôi lứa, tình yêu con người, là tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên vô bờ. Từ giọt mưa, hạt nắng, nhành hoa trong thơ Thủy Hướng Dương, cũng như ăm ắp tâm hồn; Thiên nhiên trong thơ, cũng như  người bạn tri kỷ, sẻ chia:

 

“Ta ngắm bạn thơ dưới áng mây

Một chén tri âm rượu rót đầy

Ngước mắt lên nhìn trời trong vắt

Hồn thu đã chiếm trọn tim này”

(Giấc mơ thơ)

 

“Hãy yêu đi khi ta còn có thể”. Đó là thông điệp đầy khao khát về tình yêu con người, tình yêu đôi lứa, tình yêu cuộc sống và thế giới quanh mình. Đó là tư tưởng, là tình cảm, là cảm xúc xuyên suốt, nhất quán trong thơ Thủy Hướng Dương.

 

Thơ Thủy Hướng Dương không cầu kỳ, nhưng giàu cảm xúc. Có những trang thơ, cảm xúc như là ngập tràn, như là  bề bộn. Tác giả để cảm xúc tràn vào trang viết một cách hồn nhiên, rồi  xếp chúng lại  thành thơ. Câu thơ có thể không thật chau chuốt, đôi chỗ ngữ nghĩa chưa thật tròn ý tứ,  nhưng dễ  đi vào lòng người, bởi sự chân thật và dung dị.

 

Với một bài viết, tôi chỉ hy vọng đưa ra vài nét phác họa. Còn nhiều điều muốn nói trong thế giới thơ của Thủy Hướng Dương, đang chờ đợi dâng tặng cho bạn đọc. Tôi hy vọng, thơ Thủy Hướng Dương, sẽ mở ra cho các bạn yêu thơ, nhiều điều mới mẻ và thú vị.  

Tác giả bài viết: VIỆT AN

IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 08 Nov 2011 lúc 3:21pm
THƠ CHO NGƯỜI MONG GẶP

Có một ngày đá bỗng thấy nhớ nhung,nỗi nhớ vu vơ từ nơi nào xa thẳm,mây như mướt hơn khoe trời ngọt nắng, ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ.

 Ngỡ qua rồi những run rẩy xa xưa,thời phấn trắng bảng đen tươi nguyên màu áo,tình yêu ngàn đời vẫn trái tim mách bảo, thuở tinh khôi lại chập chững tìm về.

 Em rưng rưng đón nhận đam mê,khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp, có phải anh thực hư...hư thực,dan díu này mặc định những đa đoan.

 Đêm trống đêm em hờn giận thời gian,mà thời gian thích đùa dai đến lạ,em như chấm buồm nhỏ nhoi giữa trùng trùng biển cả,nào biết dưới biếc xanh kia ẩn chứa những gì...

 Chợt bàng hoàng khi khép nhẹ hàng mi,ẩn hiện bóng hình người em mong gặp, biết đâu...biết đâu ở một nơi xa lắm,anh cũng như mình...lặng lẽ...biết đâu...

LỜI BÌNH của Nguyễn Thị Bình:

  THƠ CHO NGƯỜI MONG GẶP - bắt đầu từ cái tên bài thơ đã lôi cuốn và gợi trí tò mò trong tôi. Đọc dòng thơ đầu, rồi những dòng tiếp theo, câu chữ, ý thơ cứ gọi mời, đan cài, níu kéo nhau theo mạch cảm xúc tuôn trào của một tình yêu rất đỗi thơ ngây và vô cùng trong trẻo. Đó là cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc THƠ CHO NGƯỜI MONG GẶP của Trần Mai Hường. Đi sâu vào thế giới nghệ thuật của bài thơ, tôi càng thấy thú vị bởi cách dùng câu chữ, cách diễn đạt vừa giản dị vừa duyên dáng của tác giả.

          Câu thơ đầu tiên Trần Mai Hường đã làm cho người đọc chú ý bằng cách dùng từ rất lạ, có vẻ phi lý nhưng lại hoàn toàn có lý trong tình yêu:đá bỗng thấy nhớ nhung. Từ đá được dùng theo lối ẩn dụ chỉ trái tim con người đã đến độ trơ lỳ cảm xúc. Nhưng rồi Có một ngày đá bỗng thấy nhớ nhunghơn thếtừ đá còn được dùng theo lối nhân hoá chỉ trạng thái đột biến của tâm trạng. Có một tình yêu "sét đánh" chăng? Nếu không thì làm sao đá cũng thấy nhớ nhung được? Tôi tin là thế, hẳn là có một điều kì diệu đã và mới xảy ra, nên trái tim tưởng như hoá đá, ngủ quên đã bừng dậy, trở về với cảm giác tinh khôi của tình yêu đầu đời - tình yêu của một thời phấn trắng bảng đen tươi nguyên màu áo. Bắt đầu là nỗi nhớ, cho dù chỉ là nỗi nhớ  vu vơ từ nơi nào xa thẳm, nhưng đó mới chính là căn bệnh của tình yêu. Bởi tình yêu, nhiều khi cũng chỉ bắt nguồn từ những cái vu vơ và không sao lý giải nổi như vậy. Nhưng làm gì có ai đoán định trước được tình yêu? Thế nên, khi bắt gặp tín hiệu của tình yêu thì trong con mắt của kẻ đa tình, vạn vật xung quanh đều trở nên mới lạ:mây như mướt hơn khoe trời ngọt nắng, ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ. Một không gian trong trẻo, nên thơ và tình tứ. Thiên nhiên, vũ trụ đều trở nên có hồn. Ai đó đã nói Tình yêu là nỗi đam mê không quy phục một điều gì, trái lại mọi thứ đều quy phục nó, có phải thế không mà tất cả như đồng thanh phụ họa cho điều kì diệu của tâm hồn khi tình yêu đột ngột đến?

          Ở hai câu thơ trên, tác giả hay sử dụng những từ chỉ thời gian quá khứ "xa lắm" và "xa xưa". Thông thường, cách dùng từ như thế là để nói về những cái đã qua khó trở lại. Nhưng ở trong trường hợp này, nó lại có ý nghĩa chỉ sự so sánh giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái đã qua và cái đã đến: tình yêu, để khẳng định một sự thật hiển nhiên:

tình yêu ngàn đời vẫn trái tim mách bảo,thuở tinh khôi lại chập chững tìm về. Bởi thế cho nên, cảm giác "run rẩy" của tình yêu tinh khôi buổi đầu vẫn y nguyên. Chỉ có điều, cái cảm giác ấy đã được người thơ diễn tả rất khéo bằng từ chập chững kết hợp với   tìm về cho nên tạo được cảm giác tự nhiên chân thực cho người đọc.
Hai câu thơ trên, mặc dù nhân vật trữ tình cố ẩn mình nhưng nỗi nhớ, sự đam mê thì không giấu nổi, tất cả đã phát lộ ra qua từng con chữ để rồi ngay câu thơ sau, sự đam mê đã đi đến tuyệt đích và đúng lúc này em xuất hiện để đối diện trực tiếp với tình yêu "sét đánh" như một lẽ tất nhiên:Em rưng rưng đón nhận đam mê,khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp, có phải anh thực hư...hư thực,dan díu này mặc định những đa đoan. 

 Có phải  tình yêu đến đột ngột quá và thiêng liêng quá nên người thơ không cần và không thể che giấu cảm xúc của mình? Từ rưng rưng diễn tả nỗi xúc động  nghẹn ngào không thể kìm nén của em. Trước anh, dường như em không điều khiển nổi con tim của mình. Nhưng ở đây có sự can thiệp tỉnh táo của lý trí một cách thật khó khăn để ngăn chặn cảm xúc đang dâng trào. Với lời thú nhận dễ thương: khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp, người thơ đã rất thật thà và táo bạo khi bộc bạch điều này. Cái hành động lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp ấy mà lại chỉ khẽ thôi thì làm sao chặn được khi trái tim đã lỗi nhịp? Tôi bỗng nhớ đến câu nói của Tagor: "Hãy tin ở tình yêu dù nó mang đến sự thống khổ. Chớ khép kín con tim". Đúng vậy! Tình yêu và đau khổ luôn đồng hành, điều đó ai cũng biết nhưng ai cũng muốn dấn thân. Ở bài thơ này, người thơ cũng đã tiên lượng điều đó và chấp nhận dù biết: dan díu này mặc định những đa đoan. Từ mặc định có thể hiểu tình yêu của anh và em như một sự lập trình có sẵn không thể thay đổi. Cũng có thể hiểu    tình yêu này cũng đồng nghĩa với những đa đoan em phải chấp nhận. Dù thế,  không thể đi ngược lại quy luật của tình cảm, em đã chủ động đón nhận sự đam mê với tất cả tâm hồn và trái tim, bất chấp đa đoan mặc định, bất chấp đau khổ. Phải là một người mạnh mẽ, dám yêu và yêu hết mình mới có được sự đam mê  cháy bỏng trong tình yêu như vậy. Nếu ai đã từng đọc thơ tình của Trần Mai Hường hẳn sẽ nhận thấy ở đây một sự đắm say chân thành - rất dịu dàng đáng yêu, nhưng cũng mạnh mẽ và không kém phần quyết liệt. 
Nếu ở hai câu thơ đầu, nhà thơ đắm chìm trong thời gian cảm xúc thì ở  những câu thơ sau, người thơ đã trở về với thời gian hiện tại để nếm trải những cung bậc hạnh phúc và đau khổ của tình yêu. Và khi ấy, sự thật thà sẽ càng thật thà hơn, sự đáng yêu sẽ càng đáng yêu hơn:Đêm trống đêm em hờn giận thời gian,mà thời gian thích đùa dai đến lạ. Với câu thơ thứ ba thật duyên dáng, trẻ trung này, nhân vật trữ tình đã đem đến cho người đọc cảm giác dễ chịu bởi cách dùng từ rất mới lạ: Đêm trống đêm và cũng rất "trẻ con" khi yêu: hờn giận thời gian: Tôi rất thích cách lặp từ đêm ở đây và còn thích hơn khi tác giả dùng từ trống (chứ không phải từ trắng). Từ trống vừa diễn tả được thời gian hiện tại chậm chạp, kéo dài, vừa thể hiện sự cô đơn trống vắng của tâm trạng, và như vậy thời gian hiện tại đã biến thành thời gian tâm trạng với những khắc khoải mong nhớ và âu lo. Cùng với cách dùng từ: hờn giận thời gian; thời gian thích đùa dai... ta thấy, thời gian dưới con mắt của người đang yêu đã trở thành đối tượng để trút hờn trút giận hờn một cách vô lý mà… có lý. Đắm chìm vào tình yêu, người thơ vẫn tỉnh táo để ý thức đúng về thân phậnem như chấm buồm nhỏ nhoi giữa trùng trùng biển cả,nào biết dưới biếc xanh kia ẩn chứa những gì...

 Sự so sánh giữa em như chấm buồm giữa biển cả mênh mông đã là một sự tương phản rồi, tác giả còn cụ thể hơn cái mong manh bé nhỏ, cô đơn và bất lực của em bằng từ láy nhỏ nhoi thì xem ra sự cô đơn sẽ càng cô đơn hơn, nhưng sự khao khát sẽ càng mãnh liệt hơn. Không chỉ là sự đắm mê tuyệt đích, mà vẫn có gì lo lắng đâu đây trước tình yêu đột ngột đến? Điều này thật dễ hiểu bởi đó chính là sự chân thật của tình yêu.
Câu thơ kết khép lại tứ thơ và mở ra bao niềm hy vọng:Chợt bàng hoàng khi khép nhẹ hàng mi,ẩn hiện bóng hình người em mong gặp, biết đâu...biết đâu ở một nơi xa lắm,anh cũng như mình...lặng lẽ...biết đâu...
 Không phải ngẫu nhiên mà hai lần anh xuất hiện đều ở trạng huống không thật rõ ràng, vừa thực vừa hư, dường như có dường như không vậy (có phải anh thực hư hư thực và, ẩn hiện bóng hình người em mong gặp). Nhưng chính điều này đã cho hiểu rằng tình yêu mãnh liệt ấy đã đến với em. Vậy nên, anh luôn thường trực trong trái tim em, kể cả khi hàng mi khép lại, em chợt bàng hoàng nhận ra bóng hình anh luôn hiện hữu trong em. Và em luôn tràn trề hy vọng  ước thần giao cách cảm, anh cũng bắt được tín hiệu của em, như em: biết đâu... biết đâu... ở một nơi xa lắm, anh cũng như mình...lặng lẽ...biết đâu...
 Câu thơ này với cách lặp từ biết đâu kết hợp với cách sử dụng dấu chấm lặng (…) kéo dài như nối dài thêm hy vọng.  Bài thơ khép lại trong niềm hy vọng trong trẻo. Mong sao hy vọng của em sẽ trở thành hiện thực để tình yêu được đáp đền tình yêu. Biết đâu…?
Có phải tình yêu đến đột ngột là tình yêu lâu nguôi ngoai nhất? Tôi tin như vậy ít nhất là trong trường hợp này.
Bài THƠ CHO NGƯỜI MONG GẶP của Trần Mai Hường là một bài thơ hay và   có kết cấu lạ. Cách dùng từ ngữ hình ảnh rất trau chuốt và trong sáng. Lắng lại trong từng câu chữ là một tình yêu nồng nàn đắm say và thanh khiết. Chọn thơ văn xuôi để diễn tả cảm xúc chân thật đến ngây thơ của người con gái đang yêu, người thơ đã trải lòng mình trên từng con chữ để nói với mình, với mọi người về ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU qua bài THƠ CHO NGƯỜI MONG GẶP. 
 
Nguyễn Thị Bình (Ninh Bình).
Tháng 10/2011.


Sửa bởi ThuyTien - 08 Nov 2011 lúc 3:22pm
IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 08 Nov 2011 lúc 3:24pm

VỚI THẢN NHIÊN ANH             

      Trần Mai Hường
 
Nước mắt âm thầm chảy
Đưa tiễn những ngày trong trẻo ấy
Em vẫn thế
Ngàn sau vẫn vậy
Nguyên vẹn lửa tình như thuở mới đôi mươi
  
Tháng năm trôi
Năm tháng dần trôi
Ta bên nhau mà lạc mất nhau rồi
  
Đêm
Từng đêm
Đếm tiếng mọt gồng mình trong thớ gỗ
Tiếng tích tắc giọt thời gian bỏ ngỏ
Và đếm thản nhiên anh trước rạn vỡ chúng mình
  
Nép vào khuya đợi một bình minh
Trốn chạy khổ đau
Tưởng thoát vòng tục lụy
Nhưng trốn đời đâu dễ
Em ngậm ngùi
đối diện thản nhiên anh
  
Thôi
Mặc sương níu mây xanh
Mặc sóng khát vỗ bờ cuồng vọng
Quanh ta- khoảng trống
Lấp đầy bởi những…
thản
nhiên
anh.
 
THẢN NHIÊN ANH… CHUYỆN CỦA CẢ MAI SAU…
    Chậm rãi, thật trầm tĩnh ngẫm ngợi rồi tự nối kết các đoạn cách lớp trong thi phẩm  "Với thản nhiên anh” của Trần Mai Hường ta sẽ hình dung ra tình trạng khó dung nạp tại một không gian bé mọn- Nơi từng được mang cái tên yêu thương "tổ ấm”.  Nhiều năm ở đó đã tồn tại cặp "cộng sinh" đúng nghĩa vợ-chồng. Cuộc đời vốn muôn nỗi "Bát đũa còn có khi xô", mấy ai tránh khỏi. Mà hạnh phúc thì luôn bao hàm những nhu cầu thiết yếu cả vật chất và tinh thần. Song, bài thơ lại không hề đề cập đến bất cứ sự đòi hỏi nào dù rất nhỏ về vật chất, mà hé lộ trên trang giấy điều thấm kín khó nói rất đời thường; Chuyện ấy… ẩn tàng sự quên lãng, thiếu hụt trường diễn, rạn nứt, hình thành hố cách ngăn mà hai bờ mỗi ngày mỗi xa, khó bề níu kéo… Người đọc cảm thấy nỗi day dứt, chịu đựng khá  nhọc nhằn trong tâm trạng người vợ đêm đêm:
          "Nước mắt âm thầm chảy
          Đưa tiễn những ngày trong trẻo ấy”
    Hậu quả đã được khẳng định, dùng làm tiền đạo trực diện dẫn đề, chẳng e dè dấu diếm. Hai câu thơ vắng chủ ngữ lại chứa những thán từ, nên càng u ám, trĩu nặng. Cuộc  "Đưa tiễn” tại đây có cả  "nước mắt" kèm theo! Thế là ngọt ngào trăng mật vĩnh viễn chia ly! Không khí ấm áp nồng nàn của thời hấp dẫn trẻ trung giờ sắp nguội tàn hoá thành niềm đau âm ỉ. Bản thân thì chưa mãn chiều xế bóng nên người vợ chẳng kìm nổi thở than:
          "Nguyên vẹn lửa tình
          Như thuở mới đôi mươi”
    Cơ thể trong thơ vẫn hừng hực, dồi dào sung sức, vẹn toàn yếu tố nội sinh.Vì thế người đọc cảm thông nỗi khát khao bỏng cháy bản năng đang bị kìm nén- Một nhu cầu quan trọng dường như không thể thiếu trong đời sống khoẻ khoắn lành mạnh của lứa đôi.
    Đọc câu thơ trên có thể nhận ra yếu tố nóng đối diện với yếu tố lạnh, nghịch chiều:
          "Tháng năm trôi
          Năm tháng dần trôi
          Vẫn bên nhau mà lạc mất nhau rồi”
    Ba dòng thơ buồn thườn thượt như tiếng thở dài, lại có sự lặp từ nghịch đảo "tháng năm”  và "năm tháng" nhằm nhấn mạnh sự mất mát triền miên trôi vào quá khứ.Tâm lí, tình cảm, sở thích, nhu cầu cuộc sống đang xa dần, lắng vào quên lãng.   Cận kề nhau mà ân ái chẳng được rót đầy, trái lại tích tụ sự lệch hướng, gây "Stress" tiềm tàng.
    Và đây nữa: "Đêm…từng đêm" nhịp thơ tuần tự chảy xuôi hệt "Tháng năm trôi, năm tháng dần trôi " ở khổ trên, cho thấy chủ điểm bài thơ xoáy vào khoảng tĩnh lặng của bao đêm trắng.Ta biết, trong chu kì nhật nguyệt, thì đêm chiếm tới nửa phần. Dường như Tạo hoá  cố tình ưu ái, dành đêm cho thư giãn, nghỉ ngơi hồi sức và ấp ủ sinh sôi…? Chính bóng tối thuận lợi cho cơ hội gần gũi, làm lành. Từ đó nảy sinh  chất xúc tác gắn kết, xoá ranh giới cách ngăn… Nhưng tại căn phòng này thì ê ẩm đêm dày.Tiếng mọt nhởn nhơ, gồng lên đục khoét tàn phá giữa đêm thanh. Khuyết rỗng hình thành từng giây từng phút.Tiếng tích tắc như có trọng lượng, có kích thước hình hài, liên tưởng thành những "giọt" hẳn hoi. Nó rơi tõm xuống rất rõ- rơi liên tiếp từng giây, thẳng góc vào khoảng trống hun hút, khôn cùng. Càng khuya khoắt dàn tích tắc càng hoà cùng tiếng mọt, đồng thanh gậm sâu, buốt óc .
    Mà thật lạ, dữ kiện thì quá nghèo nàn? Cảm nhận thiếu thốn chỉ đơn phương phía nữ, còn thái độ rất hờ hững, lạnh nhạt lại hiện rõ phía tương quan? Rõ ràng không phải là cá tính vô tâm hiển nhiên, thiên bẩm của phu quân. Bởi họ từng say sưa thụ hưởng "những ngày trong trẻo ấy"… Ở  khổ  thơ  này xuất hiện động từ "đếm" ở  hai câu thơ  "Đếm tiếng mọt…” rồi  "đếm thản nhiên anh". Giúp ta nhận thấy thần kinh phụ nữ khá nhậy cảm, họ đo đếm được sự thản nhiên…ấy, qui ra hao khuyết từng giai đoạn, và liệt kê con số nứt rạn cụ thể trong đời.
    Đối mặt với mất mát, người đương thời càng thấm thía sự hoang lạnh giữa đêm trường, rất muốn trốn chạy nỗi niềm khổ đau, muốn nhắm mắt ngủ quên đi cái sự đời bất hạnh. Cứ tưởng có thể úp mặt ẩn náu vào góc tối để tránh nỗi đau, song đâu thoát! Đêm trở nên đáng sợ nhường nào:
          "Nép vào khuya đợi một bình minh
          Trốn chạy khổ đau
          Tưởng thoát vòng tục lụy
          Nhưng trốn đời đâu dễ”
    Đúng, trốn đời chẳng hề dễ, vì "Em vẫn nguyên vẹn lửa tình như thưở mới đôi mươi”. Tại căn phòng quen thuộc ấy, vẫn hai người, đêm vẫn nặng nề trôi. Tâm tư thì đắng chát thường trực. Nhưng duy chỉ có một người đối diện với khoảng trống không ấy. Gần mặt cách lòng… nên  lời than vãn thành thực buột ra:
          "Em ngậm ngùi
          Đối diện thản nhiên anh ”
    Mãi rồi cường độ chịu đựng cũng chạm ngưỡng tột đỉnh:
          "Thôi
          Mặc sương níu mây xanh
          Mặc sóng khát vỗ bờ cuồng vọng"
    Khát vọng bay bổng thăng hoa bị chùng bõng, mất cảm xúc, rã rượi đến nhược cơ. Chán ngán, rời rã  đành "Thôi- Mặc”. Điệp từ đơn "mặc ” đặt đầu câu thể hiện sự bất lực, vô vọng và cuối cùng là cam chịu.
    "Xung quanh ta khoảng trống”. Trống trải bao trùm kín xung quanh, không xác đinh nổi phạm vi khoảng trống hạnh phúc của cuộc đời. Nó được lấp đầy bằng những gì chẳng có… chính xác hơn là vô cảm, dửng dưng, lạnh nhạt…của "thản nhiên anh” chất chồng,  khó mà đong lường được bấy nay.
    Ngẫm nghĩ về "Thản nhiên anh" người đọc nhận ra xung quanh mình cũng không ít mái nhà tưởng chừng có văn hoá nhưng đó chỉ là mẽ bề ngoài. Mà phần lõi được che đậy sau sự giả tạo ấy. Nó ủ đầy những phản xạ âm tính cay đắng về tình cảm vợ chồng, hết sức bất lợi với sức khoẻ tâm thần. Thiết tưởng thà bung nổ khoảnh khắc để giải toả có khi đỡ tồi tệ hơn sự ổn định hình thức mà choán hết cuộc đời.
    Toàn bài thơ của Trần Mai Hường không thấy một lời oán thoán, trách cứ, qui kết… chỉ đơn độc cảm nhận, có thở than, và âm thầm chịu đựng nỗi buồn thân phận. Bài thơ giầu nữ tính mạnh mẽ, phù hợp hợp với tình cảm, tính cách đang phổ biến của Phụ nữ Việt hiện đại. Ta cũng không tìm được sự đối thoại, làm lành, hay van nài của cả hai bên. Có lẽ vì xa giai đoạn thanh minh, thuyết phục từ lâu.
   Tôi đã đọc tập thơ "Đó là em” của Mai Hường, nhưng tôi không chịu tin "Thản nhiên anh" tồn tại trong căn phòng của chị. Bởi người đã viết nổi bài thơ khá tâm đắc này đủ thông minh hàn gắn, sắp xếp, thay đổi tình thế từ trầm cảm - tới bình thản - rồi nâng lên hưng cảm nhờ luồng hơi từ lồng ngực chính mình thổi vào lớp tro nguội tàn,  cơi hồng lên hòn than tình yêu, lấy lại sự ấm áp của không gian sống. Đó còn là trách nhiệm bù đắp tình thương yêu tròn đầy, tránh mất mát cho những đứa con. Phải chăng chị đã nói thay bao người phụ nữ? Để chứng minh, tôi dành lại câu thơ "Ngàn sau vẫn vậy" ở khổ đầu, để làm luận cứ cho suy nghĩ của mình. Như vậy "với thản nhiên anh" còn là một phát hiện , cảnh báo của Mai Hường đối với tình cảm vợ chồng trong xã hội đương đại bị vội vã, cuốn hút vào nhu cầu vật chất tất bật hôm nay. Nó là vấn đề xã hội, chuyện của cả muôn sau…
    "Thản nhiên anh"  ba từ ấy , ngoài việc Mai Hường dùng làm đầu đề, còn xuất hiện 3 lần làm khoá đuôi kết thúc cho 3 khổ thơ. Nhưng để ý thấy "Thản nhiên anh" được kết hợp với "đếm”, rồi "đối diện” và cuối cùng là "khoảng trống lấp đầy bởi…” dụng ý tăng mức độ chịu dựng của con người trước nỗi dửng dưng, đồng thời làm căng sức nén của bài thơ. Đó cũng là kiểu cách tân hay gặp trong thơ của Mai Hường thời gian gần đây. Nhưng tôi thú vị nhất khi "thản nhiên anh"được chị cắt rời ra xếp vào 3 dòng cuối. Nó giống hệt như ba động tác chị dập vào phím đàn dương cầm. Từ đó âm thanh "thản-nhiên-anh” sẽ vang lên xuyên qua hệ thống thính giác tác động tới cân não, nỗi người …!
 Hải Phòng, Mùa Đông Canh Dần
IP IP Logged
ThuyTien
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 263
Trích dẫn ThuyTien Replybullet Ngày gửi: 08 Nov 2011 lúc 3:26pm
YÊU DẤU ƠI 

Có giấc mơ buồn vương tuổi lớn
Ngược về hái biếc trái tinh khôi
Sân trường mỏng nắng xòe ô gió
Mắt liếc dọc mùa – yêu dấu ơi

Tự dưng nụ nhớ ngày xưa lạc
Giờ khẽ bung mình nảy sắc hương
Ta ngỡ thiếp đằm trong cảm thức
Bỗng lật nghiêng đời nghe tim run…

(Trần Mai Hường)

Tình yêu nơi cõi người vốn hàm chứa nhiều cung bậc khác nhau của tình cảm. Không chỉ thế, nó còn khác nhau bởi sức biểu đạt, biểu cảm mang dấu tích giai thời. Chính vì vậy, mà ở mỗi tác phẩm và mỗi khúc đoạn trong cuộc đời, cũng có những ngưỡng mức khác nhau. Song, cái run rẩy thơ ngây, thánh thiện và vương vấn nhất vẫn là tình yêu thủa học trò, dễ có mấy ai chưa từng một lần nếm trải.


Tình cảm thuở đầu đời thơ dại ấy thật thiêng liêng , trong trẻo. Nó vừa nồng nàn, e ấp vừa đắm say, ngọt ngào mê mụ mà ai đã mang nỗi tơ vương cũng không thoát khỏi tao đoạn phập phồng với những buồn vui thầm kín. Và cái tình yêu tươi mơ, non dại của thời trong trắng ấy tưởng đâu theo thời gian khuất lấp, nhòa mờ, thì nay đột nhiên cựa mình hiển lộ đau đáu khi vẳng lên đâu đó từ xa vắng tiếng gọi bồi hồi, tha thiết " Yêu dấu ơi!” qua bài thơ mà nhà thơ Mai Hường đã mở lòng và ký thác hồn mình trong từng con chữ.
Bài thơ vẻn vẹn tám câu, ngắn gọn, cô đọng nhưng tác giả đã chuyển tải được bao tình cảm và tiếng lòng của chị. Men theo từng con chữ, người đọc như bị ngợp hồn giữa miền cảm thức nào đó,- nơi xưa xa có một tình yêu trong ký ức dội về. Thiết nghĩ, tám câu trong " Yêu dấu ơi” không có câu nào lạc điệu hay nằm ngoài "từ trường” cảm hứng của bài thơ. Điều này được khẳng định ngay từ cách nhập đề.


" Yêu dấu ơi!”- Tiếng gọi tha thiết như một âm thanh được cất lên từ đỉnh cao của nồng nàn, lãng mạn mà rất đỗi thân thương, gần gũi đã hút người đọc ngay từ khắc đầu khi chạm bài thơ. Thơ của chị khá hàm súc. Một bức tranh thơ rất ít nét. Với chỉ một vài chấm phá phớt mỏng, nhẹ mà bức tranh không gian hiện lên ở khổ thơ đầu của chị đã khá sinh động. 
Có giấc mơ buồn vương tuổi lớn

Động từ sở hữu "có” án ngữ đầu câu thơ thứ nhất đã hướng tâm cảm người đọc vào miền kí ức tươi sáng, thơ mộng. Một không gian đầy ắp kỉ niệm với những ai đã từng qua vòm trời tuổi ngọc . Sau động từ "có” là hàng loạt các động từ với mức độ mạnh, nhẹ khác nhau tạo nên nhiều liên tưởng kì diệu, tạo hiệu ứng mĩ cảm trong thơ cho người đọc. 


Người thơ đang sở hữu một "giấc mơ buồn”. Ta tự hỏi: phải chăng, đó là nỗi buồn nghiệp chướng của thi sĩ? Chẳng phải họ vẫn từng mơ mộng, rồi tự buồn, tự hụt hẫng đó sao? Thật hồn nhiên, dịu nhẹ khi ta bắt gặp nỗi buồn "vương tuổi lớn”- lứa tuổi trắng trong và đáng nhớ nhất trong đời. Động từ "vương” nhẹ như sương khói, như vô tình, không chủ động, đặt trước đối tượng mang tính ảo, trừu tượng "tuổi lớn” khơi gợi trường liên tưởng của người đọc trên một giao diện rộng.

Ngược về hái biếc trái tinh khôi
Sân trường mỏng nắng xòe ô gió

Đó là bức tranh tươi sáng mà người thơ đã tạo ra sau khi phác những nét nhẹ, mềm mại, uyển chuyển. Kí ức thần tiên nơi bóng nắng như tấm voan mỏng trải ra một không gian mộng mơ với những vòm cây xòe tán rộng chung chiêng, nơi chốc chốc rộ lên những chuỗi cười giòn tan lách từng kẽ lá, nơi những bím tóc đung đưa trong gió, nơi những cặp mắt nai đăm đắm mơ màng…tất cả, tất cả luôn chấp chới trong tâm tưởng và như tiền đề dẫn ra một hiện tượng minh họa tất yếu, đặng đừng: " Mắt liếc dọc mùa yêu dấu ơi!”


Cảnh thanh trang, nét ít, gợi nhiều. gợi nhớ lâu như một sự lựa chọn của tiềm thức vậy. Động từ "ngược về” là một động thái có chủ định đặt trước động từ cụ thể "hái”, những tưởng sẽ có một kết quả nhỡn tiền nào đó. Ngờ đâu, đằng sau đó là một danh từ trừu tượng "trái tinh khôi” khiến ta luôn ngỡ ngàng trước không gian mơ hồ, vừa xác định mà như giả định. Có lẽ vì thế, cái dĩ vãng tình yêu càng da diết, ám ảnh hơn. "Trái tinh khôi” chẳng phải là trái non tơ, trái chín bói ở đời cây mới đơm hoa, kết trái mùa đầu sao? Khi ấy "trái tinh khôi”( nếu không muốn nói là trái cấm) được kết hợp với tính từ " biếc” chỉ sắc độ khác nhau của màu xanh càng tôn vẻ nõn nường, tươi mới cho một cái gì đó đương thì nảy nở, tích chứa, căng mọng tràn đầy nhựa sống, hứa hẹn mùa dâng hương. Và tình yêu tuổi hồng luôn mang dáng dấp, hình hài, hương vị "trái tinh khôi” là vậy.


Câu thơ " Mắt liếc dọc mùa yêu dấu ơi!” bâng khuâng buông xuống kết khổ thơ thứ nhất gợi tả đôi mắt mở to, trong veo với ánh nhìn hồn nhiên mà đeo đẳng và dễ thương biết mấy! Thích thú vô cùng trước cách đặc tả ánh nhìn của tác giả. Ánh nhìn tinh nghịch, hồn nhiên mang vẻ gì đó rất Mai Hường. Ánh nhìn tưởng vu vơ sao mà đằm lắng và mơ mộng thế! Chợt nghĩ: Sao không phải là cái " liếc xéo” hay "liếc ngang” theo kiểu "Ghé mắt trông sang” của Hồ Xuân Hương nhỉ? Nếu thế, cái nhìn ấy mới chỉ dừng lại ở sự nhìn, dừng lại ở khoảnh khắc nào đó dễ tiêu tan. Sức ám ảnh liệu có được là bao? Cái "Liếc dọc mùa yêu dấu…” gợi cảm giác xa xăm, hun hút theo bao mùa thời gian, mùa chờ đợi cho "trái tinh khôi” nồng chín. Chỉ một ánh nhìn thôi, đủ gợi cảm giác chơi vơi, dịu nhẹ mà đau đáu găm cài trong tâm tưởng, khiến ánh nhìn mãi vương vấn, nuối dõi về chốn thẳm xa.


Những thi liệu sắc sảo, kì công chọn lọc: ( giấc mơ buồn, tuổi lớn, trái tinh khôi, mùa yêu dấu…) luôn là những điểm nhấn tồn tại, lắng đọng trong tâm khảm người đọc. Nhất là những ai đã bước qua tuổi hồng và từng có những khắc khoải luyến thương, iu ấp. Nó là những điểm tựa níu giữ chính xác một khoảng khắc của cảnh, của một thời đã thuộc về dĩ vãng. Đúng là cảnh của cõi nhớ nên sao mà gợi cảm đến vậy!
!
Tự dưng nụ nhớ ngày xưa lạc
Giờ khẽ bung mình nảy sắc hương

Khổ thơ thứ nhất như một bản lề tinh tế , đảm trách chức phận"tiền hô” thì khổ thơ thứ hai là sự "hậu ủng” vẹn toàn, ăn ý. Bài thơ dướn lên một đợt thứ hai về giai điệu, lấy lại sự thanh nhẹ, êm ái nhưng không kém phần mãnh liệt của tình yêu tuổi ngọc. Tình yêu tinh khôi, mới chớm, đượm nét khiết thuần và cảm tính ấy được "hậu ủng” bằng "nụ nhớ”, "ngày xưa lạc” thì quả là sự liên tưởng thần tình. Dường như cái nỗi nhớ ngày xưa ấy cũng văn vắt trong và chúm chím, e ấp hệt cặp môi thiếu nữ buổi ngập ngừng, bỡ ngỡ..... "Nụ nhớ” ấy chưa dám hé nở, chưa dám phô túm nhụy nồng nàn hương sắc, mướt mát đê mê, mà ẩn kín đâu đó sau những cánh hoa, nương nhờ sự chở che, bao bọc. Nào đâu dám hé - dẫu chỉ một lần(!) 


Người đọc thích thú đến ngỡ ngàng khi chạm sự nối kết uyển chuyển giữa hai câu thơ liên tiếp nhau. Tưởng chừng chỉ là khoảng cách giữa dòng trên và dòng dưới, vậy mà lại chất chứa cả quãng thời gian đằng đẵng của đời người. Quãng thời gian ấy được đặc tả chỉ ven vẹn trong hai từ "ngày xưa” và "giờ” thì quả là đắc địa. Mỗi thi liệu ( nụ nhớ, ngày xưa, lạc, giờ, khẽ bung mình, nảy sắc hương…) lần lượt xuất hiện như những trường đoạn lô gic trong điện ảnh vậy. Sự xuất hiện vừa liên tục, vừa mờ chồng, vừa song hiện thật khéo léo tạo điệp khúc của thời gian.Tiếng thì thầm khe khẽ trong trái tim người thơ đủ sức lay động lòng người, thức dậy miền cảm thức đôi khi tưởng như có những rung lắc chông chênh nhưng thật đẹp đẽ và vững bền.


Cái "nụ nhớ” ngày xưa miên man đâu đó, lặng lẽ ngủ quên trong khu vườn thần tiên đầy hoa thơm, trái ngọt, gió ấm, chim ca. "Nụ nhớ” ấy những tưởng đã "thiếp đằm trong cảm thức”, để rồi một ngày kia, chẳng biết nhờ sự gọi mời của những tia nắng xuân ấm áp hay sự đánh thức của những giọt mưa xuân mát lạ, run rẩy bỗng trỗi dậy niềm khát khao dâng tặng, đón đợi sự chiêm ngưỡng, tận hưởng hưởng của thế giới xung quanh. Sự diễn tả quả tình đạt đến mức độ tinh diệu khi những động từ "bung”, "nảy” và tính từ "khẽ” được kết hợp một cách hài hòa, ý nhị . Cái "nụ nhớ ngày xưa” ấy, qua tất cả những gì đã trải nghiệm, những gì từng thao thức, sau sự "thiếp đằm” miên man kia, giờ chợt "bung mình nảy sắc hương” là một điều kì diệu. Cái niềm yêu xưa đã tự thanh lọc, tích tụ và kết trái. "Trái yêu” ấy đã hẹn giờ. Âm thầm( khẽ) mà quyết liệt, dữ dội( bung mình, nảy).Cho dù sự cưạ mình có khẽ khàng đến mấy cũng thừa khảng định sức quyết liệt trong ý thức hết mình cho sự tách hé, dâng trao…


Đến đây, thực tình người đọc không yếu bóng vía cũng chẳng tránh khỏi sự giao động về mạch nhịp và huyết áp khi chạm câu thơ cuối cùng. Chiếc chìa khóa của buồng tim xuất hiện thông qua tình thái từ " bỗng”! Hoảng quá! Phải chăng đây là một sự vỡ òa tột đỉnh của một mối tình sau bao ngại ngùng, kìm nén? Có lẽ, sau sự chờ đợi, tích chứa, dồn nén; rồi sự trỗi dậy đầy phán quyết của tình cảm, lí trí…chỉ còn chờ đợi cái phút chót huy hoàng ấy. Chỉ cần chạm nhẹ vào "nút hẹn giờ” thì "trái tinh khôi” ấy sẽ nổ. Một cái gì đó thật bất ngờ sẽ đến trong sự tích lũy đủ đầy cả về lượng và chất. "Nụ nhớ ngày xưa” sẽ lạc vào mê hồn trận tình yêu của thế giới tự nhiên với bao điều kì thú trong niềm khát khao mọng chín. Niềm khát khao tưởng chừng được nén dồn từ thủa hồng hoang, khởi thủy. Ai mà biết được(!) Nhưng không. Ta thở phào nhẹ nhõm khi tiếp cận toàn bộ câu kết thú vị này. Vâng! "Bỗng!” Nguy hiểm là thế nhưng chỉ "lật nghiêng đời” để "nghe tim run” thôi thì thật không chỉ đáng trân trọng lắm mà còn đáng nể phục nữa kia! Câu thơ cuối thật đẹp, hàm chứa sức khơi gợi. Sau sự đấu tranh, giằng kéo của thế giới nội tâm đầy mẫn cảm, người thơ hướng cảm xúc vào sự vang động của hồn người để lắng nghe từng nhịp con tim yếu mềm của mình đang run rẩy, chông chênh….Chị lắng nghe tiếng lòng đang thổn thức, cảm xúc của mình đang trỗi dậy mơ man. Cảm nhận ở đây vượt xa cảm nhận của các giác quan thông thường. Chị lắng tâm can để cảm nhận được những biến đổi run rẩy, âm thầm mà mãnh liệt tận nơi khuất lấp nhất của lòng mình. Đó là biểu hiện của tình yêu vẹn nguyên chưa một lần sao lãng. Câu thơ cuối bài như một nốt nhạc ngân rung da diết..Ta cảm thấy hình như trong thanh điệu ấy có hơi run rẩy bởi cảm xúc, nhưng lại là điểm sáng huyền diệu nhất của bản tình ca đâu chỉ thuộc về một thời quá vãng.


Bài thơ thực sự là tiếng vọng của tình yêu nơi tâm khảm mỗi người. Trong bài có điểm xuyết nỗi buồn phảng phất, nỗi buồn mơ hồ tiêu tao, dịu nhẹ luôn vương vấn bởi một tình yêu trong sáng, thiêng liêng khởi nguồn từ tuổi học trò trinh trắng. Bài thơ của chị ngắn gọn, chặt chẽ, ngôn từ tinh lọc tránh được những trơn mòn, đơn điệu không hiếm gặp ở nhiều bài thơ viết về tình yêu thủa đầu đời . Bài thơ đưa người đọc đến với cảm giác run rẩy, bồng bềnh tựa lạc vào cõi yêu đương thánh thiện. Cảm giác êm đềm, sâu lắng ấy vuốt ve trái tim đa cảm của ta, đưa ta trở về sân trường ngợp gió, về với cánh cổng trường thanh sạch, vô tư. Bài thơ tựa ca khúc đam mê về tình yêu, dìu ta vào dạ hội yêu thương với bao cảm xúc ngây say, quyến luyến; Gọi ta về với miền yêu dấu, thân thương – nơi bằng lăng vẫn ngăn ngắt sân trường, nơi tiếng trống mãi bập bùng trong kí ức.

Cảm ơn Trần Mai Hường – nhà thơ nữ đa tài với bài thơ tình ngọt ngào đầy phong cách. Đến với thơ tình của chị, ta như được tiếp cận luồng sinh khí mới, một luồng gió ấm mang theo bao đam mê và khát vọng . Nhà thơ đã, đang khẳng định một phong cách thơ tươi mới, ấn tượng mà bạn đọc luôn nâng niu và đón đợi.

Đặng Diệu Thoa(Ninh Bình)

IP IP Logged
Giaolang
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 28 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 133
Trích dẫn Giaolang Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 12:57pm
THIẾU NỮ NGỦ NGÀY
 

Trưa hè hây hẩy gió nồm đông

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng

Lược trúc biếng cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm

Một lạch đào nguyên nước chửa thông

Quân tử dùng dằng không nỡ bước

Đi thì cũng dở, ở không xong.

 

Tôi nhớ hồi đó khi giảng đến bài này (chỉ giảng phớt qua thôi, vì hồi đó chủ yếu học thơ Tố Hữu và thơ Cách mạng) thì thầy giáo nói rằng bài thơ phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội ngày xưa, như con gái ngủ ngày, lại còn hớ hênh nữa, lộ hết cả “hàng” (khiếp!). Thì đó, “yếm đào trễ xuống dưới nương long” còn gì, mặc dù chẳng ai giải thích cho học sinh cái nương long nó là cái gì, nằm ở đoạn nào? Rồi bài thơ còn tố cáo thói dâm ô của bọn phong kiến nữa, bằng chứng là có thằng quân tử “dùng dằng không nỡ bước, đi thì cũng dở, ở không xong”. “Quân tử” thì chắc chắn là bọn phong kiến, bọn con nhà giàu rồi! Lẽ ra thấy gái “lộ hàng” như thế thì phải …e hèm… đi cho nhanh, còn lảng vảng ở đó làm gì? Thế mà cũng đòi làm công tử, đúng là phong kiến thối nát!

Rồi một thời gian sau, khi đã lớn hơn một chút thì cái cảm giác ngờ ngợ mơ hồ khi nghe thầy giảng năm nào càng rõ trong tôi, cùng với một cảm nhận khác về bài thơ này, khác hẳn với những gì đã học. Và cũng khác với cảm nhận chung về những bài thơ khác cũng của chính nhà thơ.

Cảm nhận chung của tôi về thơ Hồ xuân Hương, ngoài cách viết đa nghĩa rất đặc trưng “Hai xe hà chàng gác hai bên, thiếp sợ bí thiếp liền ghểng sĩ”…(Bài Đánh cờ người), còn thường làm người đọc liên tưởng tới một phụ nữ có vẻ đanh đá, hay chua ngoa, nhiều khi ẩn chứa nỗi uất ức vì những khát khao bị kìm nén cứ chờ chực bùng lên. Tôi không dám đưa dẫn chứng hay nói sâu về khía cạnh này vì đã có rất nhiều người đã nghiên cứu và đã nói rồi.Tôi chỉ nói về cảm nhận của tôi trong bài thơ “thiếu nữ ngủ ngày”, một cảm nhận hơi lạ về thơ Hồ xuân Hương. Trong bài thơ này, lối viết đa nghĩa vẫn là một đặc trưng của bà:

Đôi gò bồng đảo sương con ngậm

Một lạch đào nguyên nước chửa thông

Không định bình luận nhiều về hình ảnh ẩn dụ vừa thanh khiết vừa hoang sơ mà nhà thơ vẽ nên, tôi chỉ muốn nói trong bài thơ này không hề có chất giọng chanh chua, đanh đá thường thấy ở thơ bà. Mở đầu bài thơ chỉ là một bức tranh quê tĩnh lặng trong một buổi trưa hè, với giấc ngủ của một cô bé mới lớn vô tư.

Trưa hè hây hẩy gió nồm đông

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng

Xen vào cái tĩnh lặng, bất động đó chỉ có một gã trai làng vô tình đi ngang qua, đu đưa trong yên lặng: muốn đi nhưng không đi nổi, muốn đứng lại thì cũng không xong. Vì cái gì nhỉ? Cảm giác như nhà thơ đang mỉm cười, cái cười hiền hậu, bao dung của một người từng trải nhìn thấu tận tâm can và biết hết cả những mánh khóe vụng dại của đám trẻ con đang làm trò:

Quân tử dùng dằng không nỡ bước

Đi thì cũng dở, ở không xong

Bài thơ đã khép lại, nhưng một nỗi bâng khuâng mơ hồ của tôi về một trưa hè xa xưa, mỗi khi tôi được về thăm quê hồi còn bé vẫn còn ám ảnh. Và vẫn vương vấn về một cái gì đó tuy rất đẹp, gần gũi nhưng lại huyền bí như ở cõi tiên, cảm thấy được nhưng không bao giờ với tới được…

Chợt thấy thương cho gã trai làng kia, không được sống vào thời nay, thời mà chị em khi ra đường thường mặc những chiếc áo không chỉ “trễ xuống dưới nương long” mà còn xẻ tới tận chấn thủy. Chắc gã sẽ không cần phải dùng dằng ở đâu đó nữa, chỉ cần ngồi quán bên đường là nhìn thấy vô tư … đủ thứ!

Rồi chợt thấy thương cho tôi, không được sống vào thời xưa, khi chỉ vô tình thấy một đôi gò bồng đảo còn đang thấp thoáng mà trong lòng đã xao động vấn vương như sắp được lên tiên cảnh…

Rồi có chợt thương cho ai nữa không?

 



Sửa bởi Giaolang - 09 Nov 2011 lúc 12:58pm
Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương.....
IP IP Logged
Giaolang
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 28 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 133
Trích dẫn Giaolang Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 1:12pm
BÁNH TRÔI NƯỚC

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn,

Bảy nổi ba chìm với nước non.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Bài thơ “Bánh trôi nước” là bài thơ đa nghĩa.

Tác giả tả thực cái bánh trôi nước, làm bằng bột nếp, nhân bằng đường phen (lòng son), dạng bánh “tròn”, sắc bánh “trắng”, được luộc trong nồi nước sôi “bảy nổi ba chìm”. Nữ sĩ viết về một món ăn dân tộc, với tất cả lòng yêu mến tự hào bản sắc nền văn hóa Việt Nam. Bài thơ giàu tính nhân dân.

Bài thơ còn mang hàm nghĩa độc đáo.

Câu 1 có 2 tiểu đối: “Thân em vừa trắng” // “lại vừa tròn”, gợi tả chất bánh ngon lành, tinh khiết, chiếc bánh xin xắn, dân đã bình dị đáng yêu, hàm ẩn sự duyên dáng, trinh trắng, vẻ đẹp xinh xắn của người thiếu nữ Việt Nam. Hai tiếng “Thân em” không chỉ nhân hoá chiếc bánh trôi nước, thể hiẹn một cách nói đậm đà màu sắc dân gian (“thân em” như hạt mưa sa…, thân em như tấm lụa đào…) mà còn ngợi ca đức tính khiêm nhường, kín đáo duyên dáng của người con gái làng quê.

Hai câu 2, 3, ngôn ngữ tương phản: “rắn” với “nát”, nghĩa đen là bánh ngon hay bánh không ngon; nghĩa bóng là hạnh phúc hay bất hạnh, đều tuỳ thuộc vào “tay kẻ nặn”, vào người cha, người chồng… vào lễ giáo phong kiến, vào số phận. Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” được vận dụng tài tình nhằm gợi tả số phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ.

Hai câu 3, 4 cấu trúc: “mặc dù… mà … vân …” nhằm khẳng định một tâm thế.

“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

“vẫn giữ” biểu thị một thái độ kiên trinh, bền vững. “Tấm lòng son” tượng trưng cho phẩm chất sắt son thuỷ chung, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc đời. Câu thơ thể hiện niềm tự hào và biểu lộ khá đậm tính cách Xuân Hương. Bài thơ nói về bánh trôi nước, một món ăn dân tộc bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, dân gian. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã được Việt hóa hoàn toàn. Thơ hàm súc đa nghĩa giàu bản sắc Xuân Hương. Bài thơ biểu lộ niềm cảm thông và tự hào đối với số phận, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, nó có giá trị nhân bản đặc sắc.

Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương.....
IP IP Logged
Hoangtube
Senior Member
Senior Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 11 May 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 950
Trích dẫn Hoangtube Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 1:17pm
MỜI TRẦU
 
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi.
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại.
Đừng xanh như lá bạc như vôi.
 
Bình tặng Thảo Nhi
 
“Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Vâng, từ lâu chuyện ăn trầu, mời trầu đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa của dân tộc ta. Chúng ta đã từng nhìn thấy ông bà, cha mẹ mời trầu nhau trong lễ hội, vào năm mới hay các cuộc vui gia đình. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương - người được Xuân Diệu mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” sống vào thời cuối Lê, đầu Nguyễn cũng đã một lần đưa chuyện trầu cau vào trong thơ. Nhưng không phải là một cách mời trầu bình thường, có giá trị khác lạ khiến ta cứ ngẫm nghĩ, vì thế nó mãi hấp dẫn, cuốn hút. Hãy cùng nhau đọc lại bài thơ “Mời trầu” của thi sĩ tài hoa này:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi

Chú ý đến miếng trầu và cách mời trầu của Xuân Hương. Chẳng phải “trầu quý, trầu thơm”, chẳng phải quả cau to, đẹp mà là “quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi”. Một miếng trầu thật là đạm bạc, xoàng xỉnh. Câu thơ mở đầu khiến người đọc phải suy nghĩ. Tại sao nữ sĩ Xuân Hương là một người đa tài, đa tình, đi khắp đó đây, biết nhiều, hiểu nhiều mà lại mời tài tử giai nhân bằng một miếng trầu đạm bạc, nếu không muốn nói là tầm thường như vậy? Phải chăng Xuân Hương đang tự giới thiệu về mình một cách khiêm tốn. Xuân Hương đây, Xuân Hương rất giản dị... hay đó cũng chính là chủ ý của tác giả: Trong chuyện tình duyên, điều quan trọng không phải là hình thức giao đãi; cái chính là sự gắn bó thắm thiết, thủy chung... Miếng trầu mà nữ sĩ giới thiệu đã phần nào thể hiện được tính cách ngang tàng, bướng bỉnh của người mời. Chưa hết, hãy quan sát cách mời trầu của chủ nhân: “Này của Xuân Hương đã quệt rồi”.
Nhấn mạnh vào các từ “này”, “quệt”, ta thấy đây không phải là kiểu mời trầu mềm mỏng, dịu dàng và bẻn lẻn như tập tục mà dõng dạc xưng tên “Này của Xuân Hương mới quệt rồi”. Trong thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa được phát triển, cái tôi cá nhân, bản thân nó không được xem là một giá trị được coi trọng. Hồi ấy, trong phép xã giao, thái độ của người có lễ giáo là phải giấu cái tôi của mình đi, hoặc hạ nó xuống đến mức thấp nhất. Ở người đàn bà, phép tắc ấy lại càng phải coi trọng hơn nữa, vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta lại dõng dạc: Này của Xuân Hương... Dường như một cử chỉ đánh thức, táo bạo. Táo bạo mà sôi nổi. Trầu đây, của Xuân Hương mới quệt tất cả đã sẵn sàng. Rõ ràng, nữ sĩ đã đóng dấu ấn cá nhân vào miếng trầu. Đọc lại lần nữa, ta lại ngẫm ra: Sao Hồ Xuân Hương không bảo là “têm” mà nói là “quệt”. Có gì đó nghe mạnh mẽ, mộc mạc, bướng bỉnh và ngang ngược hơn... Nhưng cũng lạ thay, trong thái độ và cử chỉ có vẻ xấc xược ấy vẫn lấp lánh một vẻ đẹp chân tình quen thuộc. Phải chăng, đó chính là trái tim nồng nhiệt trong lời cầu duyên.

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi

Hai câu thơ vừa chứa đựng hành động hỏi, cầu khiến, vừa có hành động bộc lộ. Dường như tất cả tâm tư thầm kín của thi sĩ, của người phụ nữ đều được gói gọn vào dòng thơ. Cũng như âm hưởng của hai câu trên, lời thơ ở đây đọc lên nghe dứt khoát. Mời mà lại răn đe gay gắt cái nhân tình thế thái... quả là một Xuân Hương với cá tính ngang tàng không chịu khuất phục. Tuy nhiên, lời thơ không chỉ thể hiện cá tính ngang tàng của Xuân Hương. Ở cái thời phong kiến trai thì năm thê, bảy thiếp, gái thì chính chuyên một chồng, tìm được tình yêu chung thủy ở người đàn ông thật khó. Xuân Hương biết vậy, nên sau lời cầu duyên là một lời thách thức. Éo le thay, mời trầu của bà lại là sự trao duyên và cầu hôn. Ta biết rằng, Xuân Hương vốn là con người không chịu khuất phục một ai, nhưng đối với tình yêu đang khao khát, dù đã bị bao lần nhạt nhẽo và phụ bạc, hai lần làm lẻ, hai lần đổ vỡ vẫn lệ thuộc. Nhưng biết làm sao khi trái tim vẫn đang sôi nổi, khát khao! Cho nên đọc kỹ, lắng nghe bài thơ, đằng sau cái đanh đá, chua ngoa đáo để vẫn bắt gặp một tấm lòng thiết tha (Có phải duyên nhau thì thắm lại), một giọng khiêm tốn, nhún nhường (quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi), một sự xót xa cay đắng không che giấu nổi, (Đừng xanh như lá, bạc như vôi), có gì đó e dè, rụt rè và mông mênh niềm hy vọng và tâm trạng hơi sợ hãi trong tình yêu. Vâng, chính tình yêu và số phận đã làm cho Hồ Xuân Hương có lúc không làm chủ được mình... Ấy là một tấm lòng son nổi lên giữa dòng đời đen bạc, một tình yêu chân thật đối diện với một cuộc sống phủ phàng.

Có thể nói, với vẻ đẹp dân gian, “Mời trầu” đã thể hiện rõ cá tính, cuộc đời, số phận của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Đọc lại bài thơ, ta hiểu hơn một Hồ Xuân Hương với tấm lòng tươi rói trẻ trung, đầy ắp xuân tình đi liền với bao cay đắng, tủi hờn của số phận. Tiếng nói vọng lên từ sau lớp vỏ ngôn ngữ là tiếng nói khát khao, lời nhắn gửi với những ai đã, đang và sắp yêu với một tình yêu chung thủy. Đó chính là bức thông điệp gói trọn tâm tư, ước vọng của nữ sĩ đa tài và muốn vẹn tình.

Cùng với thời gian, trầu cau, mời trầu... mãi mãi là chuyện muôn thủa của dân gian. Những miếng trầu và cách mời trầu vừa táo bạo, vừa e dè như của “Bà chúa thơ Nôm” thì quả là hiếm lạ, có một không hai.


Sửa bởi Hoangtube - 09 Nov 2011 lúc 1:18pm
IP IP Logged
Chubengheokho
Newbie
Newbie


Gia nhập: 05 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 13
Trích dẫn Chubengheokho Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 4:21pm
Đèo Ba Dội
 
Hồ Xuân Hương
 
 
Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân, quân tử ai là chẳng ...
Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo

Cái ngày còn mài đũng quần trong trường phổ thông tôi được học bài "Qua Ðèo Ngang" của bà Huyện Thanh Quan, sự thật không có gì xuất sắc lắm nhưng muốn có điểm cao cứ phải khen lấy khen để, thực ra bà Huyện thấy gì tả nấy, như thấy con cóc trong hang nhẩy ra, ngồi đó, nhẩy đi, rồi lại ngồi đó, thì làm sao có thể so sánh với bài "Ðèo Ba Dội" của Bà Phủ Vĩnh Tường, rất ví von, nhẹ nhàng, thanh thoát, hóm hỉnh, tượng hình, tượng thanh. Chúng ta thử theo gót Bà Huyện Thanh Quan đến Ðèo Ngang vào một buổi chiều, mặt trời xế bóng, nhìn phong cảnh bao la, hùng vĩ của sông núi, những tia nắng vàng yếu ớt xuyên qua từng kẽ lá phản chiếu trên mặt nước long lanh của một con suối róc rách chẩy, tạo thành một bức tranh sơn thủy tuyệt vời, âm thanh dịu dàng, tâm hồn người thơ như chìm đắm trong cái đẹp mơ màng của buổi hoàng hôn. Vậy mà Bà Huyện chỉ viết được:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Nhìn xuống dưới thung lũng thấy cỏ cây hoa lá chen chúc mọc, bà đề:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Xa hơn nữa vài chú tiều ốm-o gầy còm đang lom khom làm rẫy:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Chung quanh vài căn nhà lác đác trên bờ sông:

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Thú thật tôi chẳng có một tí.. rung động nào hết!! Làm thơ như vậy ai làm mà chả được!! Ta hãy để tâm hồn lắng đọng lại, tưởng tựơng mình đang đi về miền quê ngoạn cảnh, qua miền đồi núi hương thơm ngào ngạt, xa xa con đường đất nhỏ uốn khúc chạy xuyên qua hết đèo này tới đèo khác lên cao bất tận, Bà Phủ Vĩnh Tường đã phải dùng ba lần chữ "một đèo" để tả cảnh non nước hữu tình trùng trùng điệp diệp này của Ðèo Ba Dội:

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạo cảnh cheo leo


Ðến đây khách lữ hành xin hãy dừng chân ở một quán nước bên đường uống ly trà xanh nóng hổi, nhìn lại con đường cheo leo vừa trèo lên mà tự khen thầm "mình còn dẻo dai lắm chứ! ". Khác với bà Huyện , bà Phủ đến Ðèo Ba Dội lúc bình minh, mặt trời bừng sáng mở ra một vũ trụ mênh mông tươi mát, tiếng chim hót líu lo trên cành chào mừng một ngày mới, những cánh hoa muôn sắc đua nhau nở rộ như muốn quênđi cơn bão lốc đêm qua, đâu đó còn sót lại vài cành thông còn rơi tơi tả điểm những giọt sương mai trắng xóa long lanh trên cành liễu u sầu!

Lắt lẻo cành thông, cơn gió thốc
Ðầm đìa lá liễu giọt sương mai

Ai qua cảnh Ðèo Ba Dội nên thơ hữu tình như vậy mà không xúc động, làm ngơ cho được:

Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

Cũng chẳng phải hiền nhân quân tử , đến như kẻ phàm tục như chúng ta cũng vẫn muốn trèo để thưởng lãm cái đẹp, cái nên thơ của tạo hóa!! Tôi rất tiếc không có tài làm thơ để có thể họa lại bài này, và tôi cũng chưa được đọc bài thơ nào từ đông sang tây tả cảnh " trèo đèo" hay như thế, tình tứ , lãng mạn như vậy. Ðỗ Phủ, Lý Bạch, Thôi Hiệu .. làm sao sánh bằng! Quả thật thiên tài như Bà Phủ chỉ có một.



Sửa bởi Chubengheokho - 09 Nov 2011 lúc 4:26pm
IP IP Logged
Chubengheokho
Newbie
Newbie


Gia nhập: 05 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 13
Trích dẫn Chubengheokho Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 4:51pm

LÁ ĐỎ

 

Nguyễn Đình Thi

 

Gặp em trên cao lộng gió

Rừng lạ ào ào lá đỏ

     *

Em đứng bên đường như quê hương

Vai áo bạc quàng súng trường

                *

Đoàn quân vẫn đi vội vã

Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa

               *

Chào em, em gái tiền phương

Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn

 

Mùa thu 1974

 Lời bình:

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi kể lại: mùa thu 1974, ông đã cùng mấy văn nghệ sĩ vượt Trường Sơn vào mặt trận Tây Nguyên, rồi Nam Bộ để sáng tác, kịp thời phục vụ chiến trường nóng bỏng. Chứng kiến cảnh bộ đội cứ nườm nượp tiến bước, ông hiểu sắp có trận đánh lớn. Điều đặc biệt là ở những nơi trọng điểm luôn có những đội nữ TNXP sửa đường và nhiều cô gái luôn đứng ở những cung đường nguy hiểm để dẫn đường cho người, xe đi qua được an toàn. Rồi vượt qua những con đường giáp Lào, lại thấy những cánh rừng như vô tận cây cối toàn lá đỏ, rất lạ và rất đẹp. Bài thơ Lá đỏ đã được viết vào một đêm trên chặng đường hành quân năm ấy.

Cấu trúc hình thức bài thơ xinh xắn như cùng tương hợp với vẻ đẹp nhỏ nhắn của chiếc lá đỏ và vẻ dịu dàng, duyên dáng của những “em gái tiền phương”. Nhưng với tình cảm thơ chất chứa thì có thể xem đây là bức phù điêu, bức tượng chạm khắc vào đá. Bởi vì, với giọng điệu hào sảng vốn có, nhà thơ đã làm rõ cảnh và người của những binh đoàn lớn đang tiến quân vào sào huyệt của kẻ thù. Mùa thu chiến trường, rừng đại ngàn Trường Sơn cứ “ào ào lá đỏ”, bước chân thần tốc những đoàn quân như hòa vào gió cuốn, bụi bay “nhòa trời lửa”, hòa vào cái không khí hối hả, náo nức “đường ra trận mùa này đẹp lắm”(Phạm Tiến Duật). Trên cái phông nền ấy, hiện lên thật đẹp hình tượng những cô gái TNXP “đứng  bên đường”, “trên cao lộng gió” trong cái tư thế “vai áo bạc quàng súng trường”… Những chàng trai, cô gái tuổi mười tám đôi mươi gặp nhau nơi đây chỉ kịp trao nhau nụ cười, lời chào và lời hẹn ước, tin vào chiến thắng ngày mai  đang đến rất gần. 

Là một nghệ sĩ thường có mặt nơi chiến trường, Nguyễn Đình Thi luôn sẵn có những cảm xúc say mê và nhiệt thành để phát hiện và ngợi ca cái đẹp của con người, của quê hương đất nước trong vất vả và gian lao, trong khổ đau và quật khởi: Từ những năm đau thương chiến đấu/ Đã ngời lên nét mặt quê hương. (Đất nước). Dễ thấy hai câu thơ bình dị mà tài hoa ở khổ 2 tả cái đẹp của cô gái đã làm ta suy nghĩ để rồi nhớ mãi. Toàn bài đều là thơ 6 tiếng với nhịp 2/4 và 3/3. Nếu câu nệ thì viết: Em bên đường/như quê hương(3/3) hoặc: Bên đường/em như quê hương(2/4). Cả hai câu không là gì nữa. Là nhà thơ bậc thầy về ngôn ngữ, Nguyễn Đình Thi đã hạ một câu 7 tiếng với nhịp 4/3 vào đây thật là thần tình, mà không hề gây cộm cho nhạc tính của thơ: Em đứng bên đường/như quê hương(4/3). Phép tu từ so sánh và chữ “đứng”đặt đúng chỗ quả là đắc địa. Nó chiếu lên câu mở đầu để làm rõ cái tư thế đẹp, tư thế chiến đấu, kiêu hãnh làm người!  Chữ “bạc” trong “vai áo bạc” cũng là một nhãn tự, gợi ra nhiều ý nghĩa và tình cảm trong ta.

Thơ Nguyễn Đình Thi vốn rất kiệm lời, đặc biệt là kiệm lời trong sự mô tả. Bài thơ ít câu, mỗi câu lại it chữ mà sức vang động của ngôn từ thật nhiều. Tình cảm mãnh liệt như được dồn nén để rồi bùng nổ cho trường liên tưởng thẩm mĩ từ hình tượng cứ lan tỏa. Trong 4 khổ thơ này, chỉ khổ thứ 3 tả đoàn quân, bụi đường và trời lửa, ba khổ dành để nói về em, chào em và hẹn em ngày hội ngộ; và hình ảnh lá đỏ cũng chỉ xuất hiện một lần ở câu thứ 2. Thế mà bài thơ lại mang tên là Lá đỏ chứ không phải một tên nào khác. Phải chăng, “Em” là một chiếc lá đỏ trong muôn ngàn lá đỏ, làm đẹp cho cuộc sống Trường Sơn gian khổ mà oanh liệt. Ta nhận ra cái màu đỏ rực rỡ kia là ẩn dụ, tượng trưng cho màu chiến đấu, cho sự đổ máu hi sinh, để cờ đỏ Tổ quốc mãi mãi thắm tươi!

Cũng theo tác giả, bài thơ được đọc lần đầu ở Cục Chính trị Tây Nguyên và sau đó  nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã phổ nhạc. Thế là nhạc ngữ và ca từ hòa quyện, để giai điệu vang lên hào hùng, thiết tha và điềm tĩnh, như thế và lực của ta lúc này. Thơ và nhạc Lá đỏ đã có mặt kịp thời ở chiến trường, cùng với nhiều tác phẩm khác, động viên toàn quân toàn dân bước vào trận chiến cuối cùng như lời tiên cảm: Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn. Và sau ngày toàn thắng, 30/4/1975, Lá đỏ là khúc khải hoàn ca thống nhất đất nước. Lá đỏ sẽ còn sống mãi với thời gian!

 

Phạm Văn Chữ

 

IP IP Logged
Honghanh
Guest
Guest
Ảnh đại diện

Gia nhập: 25 Jul 2010
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 140
Trích dẫn Honghanh Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 6:48pm
Hàng Buồm - thơ Nguyễn Ngọc Phú
 
 
Ta là chàng trai xứ biển
Về đây sống với phố phường
Lòng ngổn ngang sóng sóng
Giơ tay chạm hàng Buồm.

Ta một thời phiêu dạt
Thuyền xuôi bến vu vơ
Xếp buồm thành lá số
Chèo buông mái ơ hờ.

Ở phố lòng nghe nhạt muối
Ta thành người lạ ngu ngơ
Đêm sao trời bủa lưới
Ta dạt về ngoại ô.

Khói lên hàng cây cơm nguội
Hàng Buồm vắng cánh buồm nâu
Hay buồm em đem giấu
Để ta neo đến bạc đầu.


Lời bình:

Cảm tưởng của tôi khi đọc bài thơ là: trẻ, khỏe, tinh nghịch, và… ầm ào sóng biển, nhưng lại rất xa xưa Hà Nội.

Bài thơ ngắn, lối viết biến hóa, nhưng cuốn xoáy vào chủ đề. Cả bài nhào đi nhào lại cũng chỉ là hàng Buồm- một trong ba mươi sáu phố phường xưa cũ của Hà Nội.

Ngọc Phú quê biển Bắc đèo Ngang, từng được giải ba cuộc thi thơ Báo Văn nghệ(1995). “Hàng Buồm” được rút trong tập “Giấc mơ lưới” xuất bản năm 1997. Bài thơ viết rất chắc, với những liên tưởng rất thật của dân xứ biển, nhưng có thể là rất mới lạ đối với lối sống thanh lịch của người Hà thành.

Không hề rào đón, Nguyễn Ngọc Phú mới vào bài đã nói thẳng điều dó.

Ta là chàng trai xứ biển
Về đây sống với phố phường
Lòng ngổn ngang sóng sóng
Giơ tay chạm hàng Buồm.

Phố cổ Hà Nội xưa rất nhỏ. Ba mươi sáu phố, năm cửa ô, đi dập dập tàn vài điếu thuốc đã hết. Viết “giơ tay chạm hàng Buồm” là viết rất tài hoa về sự chật chội dễ với tới, dễ gần gũi của Hà Nội.

Vừa mới chạm một góc nhỏ Hà Nội, bài thơ đã nhảy sang trường liên tưởng, với lối viết bớt chữ so với khổ một, rất có ý đồ.

Ta một thời phiêu dạt
Thuyền xuôi bến vu vơ
Xếp buồm thành lá số
Chèo buông mái ơ hờ.

Dường như Ngọc Phú muốn nói tới lá số đời anh gắn với biển. Bởi vậy sang khổ ba anh vẫn tiếp tục phát triển trường liên tưởng cho bài thơ, dẫn dắt bài thơ đi xa khỏi phố hàng Buồm chật chội.

Ở phố lòng nghe nhạt muối
Ta thành người lạ ngu ngơ
Đêm sao trời bủa lưới
Ta dạt về ngoại ô.

Đừng nghĩ rằng anh chàng dân xứ biển quen ăn sóng nói gió, quen ăn mặn nên nhớ muối. Sự thật, khổ thơ phản ánh cái nhìn rất tinh tế của tác giả. Người Hà thành xưa nay vẫn tự hào là dân lịch lãm, thanh lịch, họ thường ăn nhạt chứ không ăn mặn như dân lao động chân tay. Thoang thoáng đâu đó trong câu chữ, dường như tác giả có vẻ như không thật thích, không thật hài lòng với lối sống “nhạt nhạt về xã giao” của dân kinh kỳ thì phải.

“Dạt về ngoại ô” bủa lưới sao trời, thơ viết rất tráng khí, rất thật với tính cách của những con người từng phỉ sức tung hoành trên biển rộng. Nhưng Nguyễn Ngọc Phú không hề vì những điều đó mà lãng quên phố nhỏ cũ xưa của Hà Nội.

Chủ đề bài thơ được chốt lại một cách tài hoa đến độ sững sờ vì hay và đẹp:

Khói lên hàng cây cơm nguội
Hàng buồm vắng cánh buồm nâu
Hay buồm em đem giấu
Để ta neo đến bạc đầu.

Phố hàng Buồm vẫn còn tới ngày nay, nhưng nó không còn chuyên về bán buồm như ngày xưa nữa- ngay cả vóc dáng phố xá cổ kính ngày xưa cũng không còn. Công cuộc đô thị hóa nhanh chóng mặt đã biến đổi tất cả một cách không tính toán thận trọng. Khổ thơ thoáng một chút buồn, một chút trách móc. Hình như Nguyễn Ngọc Phú cũng học theo kiểu lịch lãm Hà thành mà nói cho ý nhị: Ta yêu hàng Buồm xa xưa một thời biết mấy. Yêu tới bạc đầu. Nhưng hàng Buồm xưa nay còn đâu!

Bài thơ xòe một đốm lửa soi vào qúa khứ Thăng Long, Đông Đô, hà Nội. Lòng ta sáng lên một tình yêu rất cổ xưa mà rất mới.

Hồ Tĩnh Tâm
IP IP Logged
Chubengheokho
Newbie
Newbie


Gia nhập: 05 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 13
Trích dẫn Chubengheokho Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 9:09pm
Bàn chân thầy giáo
(Trần Đăng Khoa)
 
 
Thầy ngồi ghế giảng bài
Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ
Một bàn chân đâu rồi
Chúng em không rõ

*

Sáng nào bom Mỹ dội
Phượng đổ ngổn ngang, mái trường tốc ngói
Mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi
Thầy cầm súng ra đi
Bài tập đọc dạy chúng em dang dở
Hoa phượng
Hoa phượng cháy một góc trời như lửa

Năm nay thầy trở về
Nụ cười vui vẫn nguyên vẹn như xưa
Nhưng một bàn chân không còn nữa
Đôi bàn chân
Ôi bàn chân
In lên cổng trường những chiều giá buốt
In lên cổng trường những đêm mưa dầm
Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo
Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo
Như nhận ra cái chưa hoàn hảo
Của cả cuộc đời mình

Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh
Hay Tây Ninh, Đồng Tháp?
Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc
Cho lẽ sống làm người
Em lắng nghe thầy giảng từng lời
Rung động bao điều suy nghĩ
Nghe thầm vọng bàn chân đi đánh Mỹ
Nghe âm vang tiếng gọi của chiến trường
Em đi suốt chiều dài yêu thương
Chiều sâu đất nước
Theo những dấu chân người thầy năm trước

Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất
Vẫn dẫn chúng em đi trọn vẹn cuộc đời...
 
 

Bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh giản dị thường ngày của người thầy.

Thầy ngồi ghế giảng bài

Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ

Một bàn chân đâu rồi

Chúng em không rõ…

Một câu chuyện cảm động lớn lao được gợi mở sau hình ảnh giản dị, đơn sơ ấy. Câu chuyện về một ngôi trường trong chiến tranh. Bom Mỹ dội xuống. Phượng đổ. Trường sập. Mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi. Người thầy cầm súng ra trận, tạm biệt những học trò ngây thơ và trang giáo án còn dang dở để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, quê hương.

Sáng nào bom Mỹ dội

Phượng đổ ngổn ngang, mái trường tốc ngói

Mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi

Thầy cầm súng ra đi

Bài tập đọc dạy chúng em dang dở

Hoa phượng cháy một góc trời như lửa

Tàn lửa bom, khói đạn, người thầy trở về với những học trò xưa, vẫn vẹn nguyên tình cảm, vẹn nguyên tấm lòng. Nhưng: “một bàn chân không còn nữa”, máu xương người thầy đã hoà cùng đất mẹ cho ngày hoà bình của đất nước.

Năm nay thầy trở về

Nụ cười vẫn nguyên vẹn như xưa

Nhưng một bàn chân ko còn nữa

Ôi bàn chân

In lên cổng trường những chiều giá buốt

In lên cổng trường những đêm mưa dầm

Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo

Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo

Như nhận ra cái chưa hoàn hảo

Của cả cuộc đời mình

Đọc những bài thơ của Trần Đăng Khoa trong “Góc sân và khoảng trời”, dễ nhận thấy một hồn thơ rất thiếu nhi, con trẻ với nhiều sự vật, sự việc, con người được ngắm nhìn, miêu tả đầy sáng tạo, hồn nhiên. Nhưng trong đó không phải không có những câu thơ với sự chiêm nghiệm đong đầy mà ít ai có thể nghĩ rằng, người viết ra nó mới chỉ là một cậu bé 10 tuổi. “Bàn chân thầy giáo” là một ví dụ. Hình ảnh của người thầy thương binh với chiếc nạng gỗ bên mình mỗi giờ lên lớp đã tạo thành sự ám ảnh lớn trong tâm trí của cậu học sinh nhỏ tuổi. Hình ảnh ấy không trôi qua trong thờ ơ, vô cảm, nó đặt ra trong tâm trí trẻ thơ biết bao câu hỏi, để rồi tìm ta lời giải đáp ý nghĩa cho chính mình.

Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh

Hay Tây Ninh, Đồng Tháp ?

Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc

Cho lẽ sống làm người

Em lắng nghe thầy giảng từng lời

Rung động bao điều suy nghĩ

Nghe thầm vọng bàn chân đi đánh Mỹ

Nghe âm vang tiếng gọi của chiến trường

Em đi suốt chiều dài yêu thương

Chiều sâu đất nước

Theo những dấu chân người thầy năm trước

Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất

Vẫn dẫn chúng em đi trọn vẹn cuộc đời...

Có nhà phê bình đã từng cho rằng, câu chuyện về người thầy của Trần Đăng Khoa trong bài “Bàn chân thầy giáo” có thể viết thành một truyện ngắn, hơn thế, có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết đẫm chất bi hùng. Nhưng trước hết, với tuổi của Trần Đăng Khoa lúc đó, nó là những tiếng lòng chân thật, cảm động được bật lên từ trái tim yêu thương chân thành đằm thắm hơn là một câu chuyện được nhào nặn qua những mỹ miều ngôn từ. Điều đó lý giải sức sống mãnh liệt của thi phẩm này trong tiềm thức của bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam. Và, với lứa tuổi và chất thơ riêng có ấy, thơ của Trần Đăng Khoa đã góp một hương sắc riêng trong dòng thơ viết về những người lính, người chiến sĩ, thương binh - một đề tài văn học có sức sống bất diệt trong văn chương Việt Nam.

Nguồn: cpv.org.vn

IP IP Logged
Chubengheokho
Newbie
Newbie


Gia nhập: 05 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 13
Trích dẫn Chubengheokho Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 9:39pm
Chất Hóm Hỉnh Trong Ca Dao Tình Yêu Nam Bộ

 

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam Bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.
Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề chau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành "liều mạng":

"Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông"


Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình "hú vía" vì kịp thời nhận ra "chân tướng" đối tượng:

"May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng Cao Ly sâm bên Tàu"


Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:

"Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền"


Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.

Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

"Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này"

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái "thật thà tội nghiệp".
Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

"Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên"


Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

"Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!"


Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

"Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều"


Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng "xạo" cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.
Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

"Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương".


Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen "mình dễ thương" mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên - trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời - tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ - rồi mới bước qua thế giới của loài người - trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính - "mình". Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết "chuyện gì đây", cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ... Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!
Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

"Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái "quệt", biểu ưng cho rồi"


Những người nghe câu "xúi bẩy" này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.
Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi "rầu thúi ruột" mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

"Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em"


Quả là "khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan", nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!
Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

"Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng không xe"


Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

"Chẳng thà lăn xuống giếng cái "chũm"
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?"


Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

"Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu"


Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

"Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa"


Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng - "Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường" - đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu - "Mà có chắc là tu được không đấy?".
Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

"Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về"


Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ... sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại "nhát gan" đến bật cười:

"Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy... tôi chèo vô"


Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ - Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người "Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu"...
IP IP Logged
Chubengheokho
Newbie
Newbie


Gia nhập: 05 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 13
Trích dẫn Chubengheokho Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 9:41pm
Nét mộc mạc và tinh tế trong ca dao Nam bộ

So với các vùng miền khác, ca dao Nam bộ có cách dùng từ mộc mạc gần như “bê nguyên xi” từ cuộc sống chứ ít dụng công gọt giũa cho bóng bẩy, êm ái, nhưng vẫn không mất đi sự tinh tế.Người Nam bộ chuộng cách nói thẳng, nói thật nên đã mang vào trong ca dao lời ăn tiếng nói hằng ngày của mình. Nhiều câu vì thế đọc lên cảm thấy rất trúc trắc, “thô ráp” nhưng có sự ý vị, ngọt ngào ẩn chứa bên trong. Chẳng hạn, khi nói về nỗi niềm đơn chiếc, trống vắng, người dân Nam bộ mượn hình ảnh con cá, con tôm có cặp, có đôi, đối lập với hoàn cảnh của mình:

Ví dầu cá bống hai mang
Cá trê hai ngạnh, tôm càng hai râu
Anh về bên ấy đã lâu
Để em vò võ canh thâu một mình”.

Quả là hay về ý, đẹp về vần. Không cần những từ ngữ bóng bẩy, những lời hoa mỹ đẩy đưa cũng nói lên tâm trạng của người con gái chờ đợi nhớ thương người yêu. Một chàng trai buồn vì mẹ mình đã mượn những khẩu ngữ hằng ngày của người Nam bộ để tâm sự:

“Gió đưa bụi chuối tùm lum
Mẹ dữ như hùm ai dám làm dâu”
.

“Tùm lum”, “tà la” là những từ rặt Nam bộ không lẫn vào đâu được, là từ láy rất đặc trưng cho miền đất này, cũng như "te rẹt, tét lét, tèm lem"... Tất cả những từ này rất khó tạo vần để thành thơ, thế mà dân gian Nam bộ đã không chỉ làm được mà còn làm hay. Chẳng hạn, để chỉ hình ảnh trai gái chọc ghẹo nhau, dân gian sẵn sàng dùng những từ rất ư là bình dân:

“Con chi rột rẹt sau hè
Hay là rắn mối tới ve chuột chù?”.


Nếu nói về sự vụng trộm của các đấng ông chồng khi cuộc sống đã có phần ổn định thì:

Đói cơm lạt mắm tèm hem
No cơm ấm áo lại thèm nọ kia”
.

Từ “tèm hem” ở đây được dùng rất đắc địa. Cái phép dụng vần cho thơ không phải cốt để đọc nghe trơn tru mà cao hơn, nó phải tham gia thể hiện chiều sâu của ý, phải góp phần tạo hình tượng cho thơ.

Người Nam Bộ mang vào ca dao lời ăn tiếng nói hằng ngày của mình.

Hay như từ “thắt thẻo” được dùng trong câu ca dao này làm cho người đọc cảm thấy buồn đến đứt ruột, đứt gan:

“Gió mùa đông trăng lồng lạnh lẽo
Năm canh chày thắt thẻo ruột gan”
.

Đâu chỉ là sự gieo vần thuần túy, sự góp mặt của từ này đem đến cho ta nỗi cô quạnh, lạnh lẽo, tê buốt trong lòng. Chỉ một từ thôi mà câu thơ như sắp òa khóc, như ướt đẫm nước mắt đêm trường. Lối gieo vần trong ca dao Nam bộ quả là biến hóa linh hoạt, nhưng rất gần gũi với đời thường.

Người Nam bộ cũng sử dụng những từ ngữ vay mượn từ các dân tộc sống trên địa bàn để vào ca dao. Đặc biệt, sự ghép đôi giữa một từ tiếng Việt với một từ tiếng Hoa làm cho nhiều câu ca dao trở nên độc đáo và hay đến lạ thường:

“Gió đưa chú tửng từng tưng
Gặp chị bán gừng na nả nị ơi”
.

Câu đầu được hiểu là ngọn gió khởi lên sự vui vẻ từ lòng người chú Tiều (Từng Náng) khi gặp gỡ cô gái. “Nị” là đại từ ngôi thứ hai theo âm Quảng Đông, “na” là từ chỉ phụ nữ, "nả" được dùng tương tự như từ "đấy, nhé" ở cuối câu tường thuật của tiếng Việt.

Chờ đợi là một nghệ thuật kỳ diệu. Câu ca dao có khi là cách tỏ tình, giãi bày nỗi niềm của người thiếu nữ khắc khoải trong đêm, chờ đợi người tình. Cánh đồng thì mênh mông, trại ấp thì thưa thớt, người của đất Ngồ Ố, Láng Dài nói lên sự xa cách của đôi lứa:

“Chim kêu Ngồ Ố, Láng Dài
A hia xùa bố a mùi ùm chai”

(Chim kêu Ngồ Ố, Láng Dài
Anh cưới vợ rồi em chẳng được hay!)
.

Cho nên đã yêu là phải chủ động, là phải “tam tứ núi cũng trèo".

Có những câu ca dao Nam bộ cải biên từ một câu của người Việt, thay một từ tiếng Hoa, rất ngộ nghĩnh và độc đáo:

“Ta về ta “xực” cơm ta
Dầu hơi quá lửa cơm nhà vẫn hơn
”.

“Xực”, tiếng Quảng Đông có nghĩa là ăn. Như vậy câu ca dao thuần Việt là:

“Ta về ta ăn cơm ta
Dầu hơi quá lửa cơm nhà vẫn hơn”.

Ca dao Nam bộ cũng sử dụng một lượng lớn các từ Hán Việt, làm cho nên những vần thanh thoát, mượt mà và vô cùng sang trọng. Chẳng hạn, gặp nhau, chàng trai hỏi cô gái:

“Anh gặp em vừa mừng vừa hỏi
Phụ mẫu ở nhà có mạnh giỏi hay không?”
.

Cô gái đáp lại:

“Tại gia đàng phụ mẫu em cũng được bình an
Em xin hỏi lại phụ mẫu của bạn lang thế nào?”
.

Từ Hán Việt xuất hiện nhiều cũng khiến ca dao Nam bộ bớt đi phần nào “nôm na” về mặt hình thức:

“Cây gie bần ngã
Bất khả viển vông
Tới đây em nói cho anh vừa lòng
Em đây có chốn loan phòng từ lâu”.

Khi muốn thể hiện sự trách móc, giận hờn trong tình yêu, các tác giả dân gian Nam bộ mượn từ Hán Việt để cho lời trách móc đó trở nên ý vị hơn, không lộ liễu mà lại bộc lộ được niềm tiếc nuối, xót xa cho sự nhầm lẫn của người yêu:

“Bình tích thủy đựng bông hoa lý
Chén chung vàng đựng nhụy bông ngâu
Trách ai làm trai hữu nhãn vô châu
Chim oanh không bắn, bắn con sâu đậu nhành tùng”.


Từ Hán Việt trong ca dao Nam bộ còn khá đắc dụng khi khắc họa tâm trạng, tình cảm phức tạp của tình yêu đôi lứa:

“Mưa sa, lác đác, gió táp lạnh lùng
Thấy em lao khổ anh mủi lòng nhớ thương
Đường đi biết mấy dặm trường
Hỏi em đã kết cang thường đâu chưa?”
.

Và lời đáp của cô gái cũng là một lời hẹn ước:

“Ngọc trầm thủy thượng anh ơi
Bách niên giai ngẫu ở đời với em”.

Những từ Hán Việt xuất hiện khá nhiều trong ca dao Nam bộ còn cho thấy, không chỉ có tầng lớp nhân dân lao động mà cả các ông đồ Nho, những người đã qua “cửa Khổng sân Trình” cũng tham gia đặt lời làm phong phú cho ca dao.

Theo Báo Cần Thơ
IP IP Logged
Chubengheokho
Newbie
Newbie


Gia nhập: 05 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 13
Trích dẫn Chubengheokho Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 9:42pm
Phương ngữ Nam Bộ trong ca dao về tình yêu

Phương ngữ Nam Bộ là một dạng từ ngữ địa phương của vùng đất Nam Bộ. Nó thể hiện cách nói, cách sử dụng từ ngữ, kiểu phát âm riêng của con người Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ còn là nơi chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội của con người và vùng đất Nam Bộ. Tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ được thể hiện qua ca dao Nam Bộ là một cách nhằm khẳng định thêm tính độc đáo, sắc sảo, phong phú và đa dạng của con người Nam Bộ xưa trong việc sử dụng lời ăn tiếng nói của mình.

1. Ca dao Nam Bộ trước hết là ca dao của người Việt ở Nam Bộ nên nó mang đầy đủ yếu tố của vùng đất Nam Bộ, trong đó có việc sử dụng từ ngữ của con người ở đây. Sống giữa thiên nhiên hài hòa và đa dạng với rừng tràm bạt ngàn và một vùng sông nước bao la cho nên trong lời ăn tiếng nói của con người ở đây không khỏi ảnh hưởng của các hình tượng thiên nhiên này. Cho nên, có thể nói, giàu tính hình tượng là một đặc điểm trong cách dùng từ của ca dao Nam Bộ:

Chồng chèo thì vợ cũng chèo
Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

“Đụng” ở đây là “lấy”, “lấy nhau” hay nói cho văn hoa một chút là “kết duyên” nhau. Với các từ trên, người Nam Bộ có thể hoàn toàn sử dụng được, nhưng đôi khi con người ở đây không dùng những khuôn mẫu có sẵn đó, mà lại dùng từ “đụng” rất giàu hình tượng này để tạo điểm nhấn, mang sắc thái mạnh. Chính điều này đã làm phong phú thêm cho kho tàng phương ngữ Nam Bộ.

2. Giàu tính so sánh và cụ thể cũng là một đặc điểm của ca dao Nam Bộ. Nam Bộ là một vùng sông nước, có hệ thông sông ngòi chằng chịt nên hình ảnh chiếc ghe, con đò, con cá, con tôm, cần câu, cái lờ... là những vật rất quen thuộc đối với người dân nơi đây. Quen thuộc đến mức đã đi vào tâm thức của họ và được thể hiện qua lời ăn tiếng nói hằng ngày, cũng như đã âm thầm đi vào ca dao:

Thân em như cá trong lờ
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

“Cá - lờ” là một hình tượng cụ thể, tác giả dân gian đã lấy hình tượng cụ thể này để làm đối tượng so sánh với con người, cụ thể ở đây là cô gái. Trường hợp này, ta cũng sẽ bắt gặp rất nhiều trong ca dao Nam Bộ.


3. Một đặc điểm nữa trong việc sử dụng phương ngữ Nam Bộ trong ca dao Nam Bộ là tính giàu cường điệu, khuếch đại. Đây là cách nói thể hiện rõ nét sự lạc quan và tính cởi mở của con người Nam Bộ. Tính giàu cường điệu, khuếch đại này được con người Nam Bộ sử dụng mang tính chất phác, mộc mạc, độc đáo, gây được ít nhiều cảm xúc cho người đọc:

Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình
Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao huỳnh vội xếp vi.


Rõ ràng, chỉ than có một tiếng mà “nát miễu xiêu đình” thì quả là nói quá. Nhưng chính cách nói quá này mới tạo được ấn tượng, gây được cảm xúc, tạo được sự chú ý cho đối phương.

Hay để bộc lộ tình thương của mình, người Nam Bộ không ngại nói thẳng, nói quá, nói cường điệu, nói khuếch đại. Họ nói cốt sao cho hết cái thương đang cháy bỏng trong lòng mình:

Anh thương em,
Thương lún, thương lụn,
Thương lột da óc,
Thương tróc da đầu,
Ngủ quên thì nhớ,
Thức dậy thì thương

4. Giàu tính dí dỏm, hài hước cũng là một trong những đặc điểm trong cách sử dụng từ ngữ trong ca dao Nam Bộ. Ca dao Nam Bộ, ngoài những cách nói cường điệu, giàu hình tượng, đôi lúc có phần thâm trầm, sâu lắng còn có những cách nói mang tính hài hước, dí dỏm. Đây là tinh thần lạc quan trong tính cách của con người Nam Bộ. Chính tinh thần lạc quan này đã tiếp thêm cho họ sức mạnh trong việc chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt, với thú dữ hoành hành. Tuy là nói dí dỏm, hài hước nhưng không hẳn là một cách nói chơi, mà là có ngụ ý, ngụ tình. Đó cũng là kiểu nói: “nói chơi nhưng làm thiệt”:

Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

Rõ ràng, đây là cách nói mang tính chất vừa nói chơi lại vừa nói thiệt. Bông đùa đấy nhưng cũng là thật đấy. Nếu đối phương không chịu thì bảo là “nói chơi”. Còn nếu ưng thuận thì tiếp tục lấn tới tán tỉnh. Và trong bài ca dao sau, cũng không hẳn là dí dỏm, hài hước, nói cho vui một cách đơn thuần:

Trời mưa cóc nhái chết sầu
Ễnh ương đi cưới nhái bầu không ưng
Chàng hiu đứng dựa sau lưng
Khều khều móc móc cứ ưng cho rồi.

5. Có cách nói hài hước, dí dỏm, lại có cách nói cường điệu, khuếch đại, ca dao Nam Bộ cũng có những cách nói rất giản dị, chân tình. Trong hoàn cảnh tự tình với nhau, đôi khi họ không dùng những từ hoa mỹ, không nói những từ chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, mà chỉ nói một cách mộc mạc, bình dân, cốt sao bày tỏ được lòng mình:

Anh về em nắm vạt áo em la làng
Phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.

Quả là mộc mạc, quả là chân tình. Trong từng câu từng chữ không có gì khó hiểu cả, tạo được sự cảm thông và gây được cảm xúc cho người đọc.

Hay:

Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Ai dè giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây

Qua tới đây không cưới được cô hai mày
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô.

Phương ngữ Nam Bộ ra đời tuy có muộn hơn so với phương ngữ của các vùng khác, nhưng không vì thế mà nó nghèo nàn, hời hợt, mà trái lại nó rất đa dạng, phong phú và sâu lắng. Nó chứ đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán cùng tính cách của con người Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ không chỉ đơn thuần là khẩu ngữ của người Nam Bộ mà nó đã bước vào văn học nghệ thuật với một tư thế rất đường hoàng. Những câu ca dao Nam Bộ vừa dẫn trên là một minh chứng cho điều này.


Trần Phỏng Diều
Giảng viên Khoa Ngữ văn,
Trường Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ

IP IP Logged
Chubengheokho
Newbie
Newbie


Gia nhập: 05 Nov 2011
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 13
Trích dẫn Chubengheokho Replybullet Ngày gửi: 09 Nov 2011 lúc 9:47pm
Những câu ca dao hóm hỉnh

Gần chùa gọi Bụt bằng anh,
Thấy Bụt hiền lành, bế Bụt đi chơi.



Tục ngữ ta cũng có câu 'Bụt chùa nhà không thiêng'. Câu tục ngữ có nội dung biểu hiện là những người quen biết nhau, chung đụng với nhau hàng ngày thì dễ xem thường nhau. Nhưng cái nghĩa gốc của câu nói này, đối chiếu với nội dung câu ca dao mà chúng ta đang bàn đây, vẫn thấy có sự gần giống nhau. Vì Bụt ở chùa gần nhà nên không phải xem thường mà vì gần gũi, thân thiết, do đó mới gọi Bụt bằng anh: 'Anh Bụt!' Một cái tên gọi thật lạ và vui tai ghê! Nhưng chưa hết. Lại còn mang Bụt từ bàn thờ Phật xuống để bế Bụt đi chơi, vì thấy Bụt hiền lành, dễ thương... Câu ca dao cho ta thấy đạo Phật đối với người dân Việt Nam trước đây thật gắn bó, gần gũi và có đặc điểm dân dã rõ rệt: Phật và người chẳng có gì cách biệt nhau! Câu ca dao toát lên một tình cảm thương yêu chân thực mà lại rất hóm.


Đàn ông một trăm lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.



Trong bài viết Những câu tục ngữ thông minh, tôi đã nói đến một câu nói mang nội dung ý nghĩa gần như câu ca dao này. Đó là câu 'Đàn ông như cái nơm, bạ đâu úp đấy'. Câu ca dao đây không ví đàn ông như cái nơm, mà nói thẳng 'đàn ông một trăm lá gan'. Vế này của câu ca dao nói rằng người đàn ông có rất nhiều lá gan, dĩ nhiên là nói một cách văn chương thôi và con số 100 không phải là một con số xác định ở đây. Nhưng tại sao câu ca dao lại nói lá gan, mà không nói đến 'trái tim' chẳng hạn. Ta biết 'trái tim' thường biểu hiện về tình yêu, về tâm hồn con người. Còn 'lá gan' thường biểu hiện về sự gan dạ, sự can đảm. Tức là ở đây không nói đến việc người đàn ông yêu nhiều người đàn bà khác, ngoài vợ mình (tuy rằng trong thực tế không phải không có những người đàn ông như thế!) mà nói lên là đàn ông 'có gan' ăn ở với cả vợ mình và 99 người đàn bà khác. (Chúng ta không nói đến chế độ đa thê ở đây!?). Đối với vợ, ngoài tình yêu, người đàn ông cũng phải 'có gan' ăn ở với vợ ('lá ở cùng vợ' mà!). Nhưng cái chính mà câu ca dao muốn nói đến là 99 lá gan mà anh ta toan ăn ở cùng những người đàn bà khác. Chỉ 'toan' thôi, nghĩa là chỉ mới có ý định, ý muốn thi gan 'cùng người' thôi. Nhưng cái ý muốn, cái ý định ấy cũng thật 'ghê gớm'! (những 99 lá gan cơ mà!).


Câu ca dao quả là thâm thúy mà thật hóm hỉnh.


Chẳng tư túi, chẳng trăng hoa,
Cớ sao lại thiết việc nhà người dưng?



Đọc câu ca dao, ta hiểu là nó biểu hiện về một tình yêu nam nữ kín đáo, vì nó không biểu hiện trực tiếp và cách nói của nó có phần hơi 'lắt léo'. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu: thế nào là 'không tư túi'? Thế nào là ”không trăng hoa“? Và thế nào là 'thiết việc nhà người dưng'? Sau khi nắm được ý nghĩa của các vế câu trên đây, ta thấy câu ca dao nói là không muốn lợi dụng để lấy của người khác ('không tư túi'), cũng không phải để quan hệ trai gái lăng nhăng, không đứng đắn ('không trăng hoa'), vậy thì tại sao lại quan tâm tha thiết đến việc nhà, việc cửa của người không phải họ hàng, thân thích gì với mình? Ta thấy ngay đó chỉ do tình yêu chân chính mà thôi! Như vậy, quả là câu ca dao có chiều sâu suy tưởng, thể hiện một lối nói dí dỏm, thông minh của dân ta.





Chẳng tham nhà ngói rung rinh,
Tham vì một nỗi anh xinh miệng cười.




Câu ca dao này cũng nói về tình yêu, nhưng không nói 'quanh co' như câu ca dao trên đây, mà nói thẳng vì sao em yêu anh: em yêu anh, vì anh có cái miệng cười duyên. Đây là một câu ca dao rất đẹp: có những hình ảnh gợi cảm và cách biểu hiện đặc sắc: Nhà ngói rung rinh và tham vì một nỗi anh xinh miệng cười. 'Nhà ngói rung rinh' là nhà cửa tòa dọc dãy ngang, giàu có, sung túc, tiền của, thóc lúa rủng rỉnh trong nhà. 'Tham vì nỗi anh xinh miệng cười' có từ tham dùng rất đắt, tỏ rõ tình cảm say mê vì con người anh duyên dáng, vì cái miệng anh cười rất có duyên. Người con gái trong câu ca dao nói không úp mở: em yêu anh không phải vì nhà anh giàu có, sang trọng, mà chỉ vì anh duyên dáng, đẹp trai. Đó là một tình yêu đẹp: không vụ lợi, chỉ xuất phát từ một tình cảm chân thành, thể hiện đúng tâm lí của tuổi trẻ.



Đây cũng là một câu ca dao có chiều sâu suy tưởng, nhưng chiều sâu ấy đã bộc lộ trên cái vẻ chân thực, hồn nhiên của nó.





Chúng ta hãy đi vào câu ca dao đùa vui sau:


Chồng còng lấy vợ cũng còng,
Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.




Câu nói có vẻ hơi 'ác khẩu' một chút, nhưng đó chỉ là một sự đùa vui vô hại. Hai vợ chồng còng khi nằm quay mặt vào nhau (để nói chuyện tâm tình với nhau, chẳng hạn) thì rõ ràng hai người đã tạo thành một vòng cung, một vòng tròn khá tròn. Cho nên, hai vợ chồng ấy nằm trong một cái nong thì vừa vặn, hơn là nằm trên một chiếc phản gỗ hình chữ nhật. Nhìn cái cảnh hai vợ chồng còng đó nằm trên một chiếc nong khi tâm sự cùng nhau trông thật là vui mắt!



Có một câu ca dao đùa vui theo kiểu như trên nữa có vẻ ít 'ác khẩu' hơn, vì bệnh hen mà câu ca dao nói đến không phải là một cái tật xấu về hình thể như tật còng:


Chồng hen mà lấy vợ hen,
Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi



Cứ tưởng tượng nghe hai vợ chồng hen ấy nằm cùng giường mà thở khò khè khó nhọc như rên rỉ thì đúng là hai chiếc kèn rè cùng nhau 'cò cử', hòa âm với nhau, lúc bổng, lúc trầm, trong đêm vắng. Nếu có điều kiện, hai vợ chồng đó nên cùng nhau dọn đến ở một nơi có khí hậu ôn hòa, ít ẩm ướt và ít rét, như các tỉnh miền Nam Việt Nam chẳng hạn; khi ấy thì tiếng kèn cò cử thổi đôi trong đêm vắng sẽ bớt đi thôi!
IP IP Logged
<< Trước Trang  of 32 Tiếp >>
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.188 giây.