In trang này | Close Window

Bình thơ

In từ: My Website
Category: Phổ biến kiến thức
Tên diễn đàn: Kiến thức Văn học
Giới thiệu: Văn học là Nhân học
URL: http://ttgdtxlaocai.vn/forum/forum_posts.asp?TID=1934
In ngày: 21 Feb 2019 lúc 7:46pm
Phiên bản Software: Web Wiz Forums 8.03 - http://www.webwizforums.com


Chủ đề: Bình thơ
Viết bởi: Thao nhi
Tiêu đề: Bình thơ
Ngày viết: 02 Sep 2010 lúc 7:56pm

 

Xin mạn phép mở chuyên mục này, trước hết là vì sự phong phú của sinh hoạt diễn đàn, thứ đến để giúp cho những ai yêu thích văn học có vài phút tĩnh tại nội tâm , cùng đồng cảm với cái đẹp đằng sau những vần thơ đặc sắc, ý nhị.
Những bài bình sưu tầm ở đây không mang tính chất là "chuẩn". Đơn giản đó chỉ là những ý kiến riêng có người đồng ý có người không. Rất mong các bạn góp thêm ý kiến để chúng ta cùng thấy hết nét hay, vẻ đẹp của các bài thơ "bất hủ".
 
 
'Dịu và nhẹ' - hay thơ tình gửi tới người tóc đã muối tiêu

 

 

Đọc bài thơ "Dịu và nhẹ" của Nguyễn Duy

Tạo hóa sinh ra người Nam và người Nữ để yêu nhau. Tình yêu sẽ đồng hành với con người trong suốt cuộc đời, dẫu qua thời gian nó lớn lên và biến đổi. Từ cái háo hức, nồng nàn thuở ban đầu tới sự đằm thắm, sâu nặng, dần dần hai người đã thành tính thành nết của nhau, tình yêu vẫn vậy, chẳng cũ đi bao giờ. Hoa theo mùa và tình yêu theo tuổi...

Ai từng đi qua cái trẻ trung của tình yêu đôi lứa cũng không khỏi ngỡ ngàng trước vị ngọt ngào, ấm áp của tình yêu lúc tuổi già đứng bóng, khi yêu thương đã hóa thành tình nghĩa.

Nguyễn Duy mang cái tâm thế ấy khi ông viết "Dịu và nhẹ" - một bài thơ nghe như tiếng tâm tình gửi tới người tóc đã muối tiêu.

Nhàm tai nghe rối tiếng ầm
dọn tai ta lắng tiếng ầm thế gian
Mùa xuân trở lại dịu dàng
Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều
Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
má hồng về xứ hồng hoang
tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi
Dịu dàng vang tiếng mắt cười
bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm
Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

Câu thơ đầu như một lời tự sự - làm lối mở để đi vào một thế giới dịu và nhẹ mà nhà thơ đã "lắng" được trong "tiếng thầm thế gian". Câu thơ tiếp mở ra một không gian mà thời gian đã tự nhiên chảy trôi vào trong đó: "Mùa xuân trở lại dịu dàng". Thiên nhiên vẫn tuần hoàn, không phải một mùa xuân đầu tiên nhưng đây là cái khoảnh khắc xuân đọng lại để nghe tiếng sự sống tí tách đâm chồi:

Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều

Ba dòng thơ cắt ra từ một câu thơ, lại cứ quấn quýt vào nhau bởi cái lối lặp từ tràn từ dòng trên xuống dòng dưới "nhẹ nhàng hương bay", "nhẹ nhàng lộc cựa". Sự trở lại, cái bắt đầu của một mùa xuân nhu nhú trong những hương và lộc... Sức sống như lây lan, như truyền dẫn, như tỏa vào không gian. Nếu theo cái logic ấy, mạch thơ ấy, thì bỗng dưng, dòng thơ thứ ba như bất ngờ, bởi tự nhiên nó ngưng đọng:

dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều

"Vương" chứ không phải là đang trôi. "Tím mây" chứ không phải là mây tím. Câu thơ tám chữ đang xuôi trong âm điệu thanh bằng bất chợt vút cao lên giữa dòng bởi hai thanh trắc và lối đảo từ độc đáo. Cao độ và sức hút của câu thơ xoáy vào một màu tím - như là một nét đậm vẽ ngang qua nền trời. Đoạn thơ trở nên giàu giá trị tạo hình và rất đường nét. Cái dải mây ngang chiều ấy tựa như là khung, là viền của bức tranh mùa xuân tràn đầy hương sắc, nổi bật giữa thiên nhiên.

Nhưng mà cái dáng điệu lững thững, ngưng nghỉ của dải mây màu tím ấy nghe ra như dáng hình tâm trạng, hay một chút vẩn lên trong tâm hồn thi nhân. Thật khó mà cắt nghĩa cho rạch ròi. Song, có lẽ đó là một sự chuyển giao, cái động đã nhường chỗ cho cái tĩnh. Sự rạo rực đã lắng lại trước những gì thâm trầm, thực sự dịu và rất nhẹ.

Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
má hồng về xứ hồng hoang
tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi

Nguyễn Duy thường dùng lục bát. Thơ mà đã lục bát thường không thoát ra ngoài cái giọng ân tình, ân nghĩa, yêu thương. Lục bát là cảm xúc nén vào trong câu lục để rồi tãi ra trong câu bát - nhẹ nhàng như nhịp thở. Thơ không đua chen được với văn xuôi ở sự giàu có các chi tiết, song một khi chi tiết đã đi vào thơ thì đó là những gì đã được chọn lọc nghiệt ngã nhất. "Tiếng bóng xiêu xiêu", "tóc muối tiêu" và "má hồng".

Dân gian sâu sắc và ý nhị vô cùng khi hài hước trong ca dao:

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu

Thơ yêu chồng và thương chồng nhiều; thơ yêu vợ và thương vợ chỉ thảng hoặc như cầu vồng sau mưa. Âu đấy cũng là cái sự mau nước mắt của đàn bà và cái quý giá của nước mắt đàn ông. Đành là thơ yêu chồng hay như thơ Xuân Quỳnh... thơ yêu vợ cũng nồng nàn và xúc động như thơ Tú Xương... và đến bây giờ là Nguyễn Duy. Trong thơ Nguyễn Duy còn ẩn chứa một nụ cười hóm hỉnh, đáng yêu.

Bài thơ "Vợ ốm", nhà thơ viết:

Thông thường thượng giới rong chơi
Trần gian choang choác sự đời tùy em
...

Cha con chúa chổm loanh quanh
Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
Việc thiên, việc địa, việc nhà
Một mình anh vãi cả ba linh hồn

Trở lại với buổi chiều mùa xuân, có người chồng ngồi ngắm vợ yêu chải tóc. Còn gì dịu dàng cho bằng hình ảnh người phụ nữ ngồi chải mái tóc dài. Nguyễn Duy đã "lạ hóa" cái cảm nhận dân gian quen thuộc ấy bằng một mái tóc muối tiêu. Suy cho cùng, cái lạ, cái xúc động không phải ở bản thân người phụ nữ mà ở trong cái nhìn của người đàn ông. Tóc xanh là tài sản độc quyền của một thời tuổi trẻ song mái tóc hai màu mới chứng tỏ được lòng thủy chung và tình yêu bền bỉ. Có một dòng chảy lạnh lùng của thời gian trong câu thơ vắt làm 4 dòng ấy. Thời gian đi qua màu hồng đôi má, đổ vào bóng dáng xiêu xiêu và nhuộm màu mái tóc. Mọi thứ đều biến đổi trong thời gian song có một thứ tình cảm vẫn nguyên sơ như những ngày xưa cũ, chỉ có điều giờ trở nên đằm thắm hơn, trong yêu thương có nỗi xót xa, cảm thông và chia sẻ:

tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi

Ý thơ tuôn ra theo điểm nhìn của cái tôi trữ tình. Cái nhìn không giấu nổi nỗi bất lực trước thời gian. Sự bất lực là có thực song niềm đau xót cũng rất đỗi chân thành. Yêu lắm và sẻ chia nhiều lắm thì nhà thơ mới có nhiều cung bậc tình cảm chất chứa đến như thế khi nhìn thấy bóng người vợ yêu phía bên kia dốc của cuộc đời. Vẫn còn đắm say với vẻ dịu dàng; vẫn đầy hóm hỉnh, nghịch ngợm với má hồng ký ức và đầy xót xa trước mỗi sợi tóc rơi. Tấm lòng của một người đàn ông bao dung và độ lượng; trìu mến và thủy chung.

Thơ là "từ ngữ được tự do phô ra toàn bộ ruột gan, toàn bộ ý nghĩ và ám thị, như một trái cây chín muồi hoặc như một tên lửa nổ tung giữa bầu trời. Nhà thơ giải thoát cho chất liệu của mình" (Octavio Paz). Có phải vì thế mà thơ nói được nhiều hơn cái ẩn chứa trong lời?

Dịu dàng vang tiếng mắt cười
bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm

Dòng thời gian vẫn là sự ngoái lại quá khứ từ điểm nhìn hiện tại song dấu ấn thời gian đã nhạt dần sự khắc nghiệt của nó. Nguyễn Duy là người sáng tạo mạnh mẽ trong cấu trúc câu thơ lục bát. Mỗi câu thơ tách ra làm một đoạn, như là một quãng ngắt. Nó là những nhịp gấp gáp được nối liền bằng những khoảng lặng. Ngưng nghỉ để lắng vào trong cái nhẹ của đất trời và cái dịu của lòng người.

Bài thơ lặp lại 4 lần từ "nhẹ nhàng" và 4 lần từ "dịu dàng". Xét về từ nguyên, "nhẹ nhàng" và "dịu dàng" đều diễn tả sự mềm mại, uyển chuyển. Song đi vào từng sắc thái, "dịu dàng" thiên về hình khối và tĩnh; "nhẹ nhàng" nghiêng về thanh âm và động. Có những câu thơ, nhà thơ chọn từ không thể thay thế như: "nhẹ nhàng lộc cựa nách cây" và "em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng".

Nhưng cái hay của thơ không giới hạn ở sự chính xác. Có những sai lạc vẫn là thơ. Tại sao lại là "nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu" và "dịu dàng vang tiếng mắt cười". "Bóng" là hình, "bóng xiêu xiêu" lại càng tượng hình. Nhưng "nhẹ nhàng tiếng bóng" thì rõ là âm thanh. Mắt có cười song không có mắt cười thành tiếng để nghe thấy "dịu dàng". Toàn bộ bí ẩn được giải mã bằng nghệ thuật lồng ghép hình và thanh vào trong câu thơ tạo nên sức gợi cảm sâu xa của hình ảnh.

"Bóng xiêu xiêu" là bóng gầy, bóng héo hon thì âu tiếng bóng cũng khẽ khàng và nhẹ nhàng. Hình ảnh bỗng mang theo âm thanh.

Đôi mắt biết cười trước chiều dài tháng năm đầy thử thách, sấm chớp gian lao thì ánh mắt ấy vọng về những âm thanh dịu dàng và yêu thương lắm. Đấy là tiếng được cảm nhận qua sự nhìn của thi nhân.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có những hình ảnh rất sáng tạo trong bài thơ "Về những trái cây đang chín..." rằng:

Tôi đi qua những cành, tôi đi qua những lá
Ký ức đôi khi mắc lại cô đơn như một trái còi

Những kỷ niệm buồn thực như một thứ quả lạc giữa mùa trái chín, dai dẳng mà không rụng, vướng vào cành, vào lá, vướng vào cả mùa sau. Ký ức trong bài thơ "Dịu và nhẹ" được cởi bỏ một cách nhẹ nhàng hơn:

bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm
Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

Giọt nước mắt đã lăn qua "một thời sấm chớp", qua "nợ tháng nợ năm" bao giờ cũng trĩu nặng. Nhưng có lẽ nó được thấu suốt bởi tấm lòng bao dung, vị tha của người phụ nữ và sự vỗ về đầy yêu thương của người đàn ông nên mới nhẹ nhàng đến vậy. R. Tagore đã có những câu thơ đầy triết lý về niềm vui và nỗi đau:

Niềm vui mỏng mảnh như hạt sương
Nó chết ngay trong lúc nó cười
Nhưng sầu muộn thì vững vàng bền bỉ
Hãy để cho tình yêu sầu muộn
Bừng lên trong đôi mắt của em

Chỉ có sự trải nghiệm mới thấu hiểu "giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng" là giọt buồn hay vui. Có lẽ đó là hạnh phúc có ngấm vào cay đắng, có niềm vui xuyên qua nỗi buồn, có tình nghĩa đã khởi nguồn từ tình yêu. Dẫu có thế nào đi nữa thì đó vẫn là giọt nước mắt thanh lọc tâm hồn, đem đến tình yêu nhân ái, bao dung.

Đọc lại câu thơ đầu trong sự liên kết với câu thơ cuối

Nhàm tai nghe rối tiếng ầm
dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian



Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

người ta sẽ thấy bài thơ là cả một quá trình thức nhận. Từ cái tâm thế chủ động "dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian", qua sự sững sờ trước "tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi", cho đến sự sẻ chia ấm áp đến ngỡ ngàng trước tiếng "nước mắt lăn", cấu trúc bài thơ đưa đến những cảm nhận sâu sắc, triết lý về những gì quý giá, vĩnh hằng trong cuộc sống. Trong cái ồ ạt của cuộc sống hiện đại, nếu không biết lắng nghe, người ta dễ vô tình đánh rơi những âm thanh "dịu và nhẹ" nhưng rất đỗi mến thương với con người. Đó là thơ của một người gửi cho một người nhưng cũng là thơ cho cả một thế hệ, cho cả tương lai của những tình yêu vừa chớm nở.

"Dịu và nhẹ" như là một âm thanh - lạc vào giữa những ồn ào, gấp gáp nhưng sẽ còn đọng lại rất đằm và rất sâu trong những tâm hồn biết đón nhận và nâng niu.




Trả lời:
Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 14 Oct 2010 lúc 4:39pm

Kết cấu nghệ thuật của bài thơ

“LÁ DIÊU BÔNG”

 

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều

Cuống giạ

Chị bảo

- Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng


 

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày

- Đâu phải lá Diêu Bông

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu

trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt chị không nhìn

Từ buổi ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hỡi!...

… ới Diêu Bông!...

Hoàng Cầm

(Rút trong tập “Mưa Thuận Thành”)

Bố cục bài thơ khá đơn giản: chị đi tìm. Em đi tìm.. Kết cấu nghệ thuật xem ra lại độc đáo. Giữa hai cuộc tìm luôn ẩn hiện một chiếc lá Diêu Bông. Hư ảo và hiện thực. Cũng là một cái cớ, mà cớ chị là để chối từ, với em lại là để bươn tới.

Duyên dáng và kiêu sa với nếp váy Đình Bảng buông chùng cửa võng. Cô gái Kinh Bắc được gọi bằng “chị” ấy thẩn thơ tìm gì? Còn có gì khác hơn là tình yêu, hạnh phúc mà tụ lại là hình bóng người tình lý tưởng của mình! Với chị, đó là cái đẹp cần hướng tới. Tiếc thay, trước mắt chị chỉ là Đồng chiều – Cuống giạ, một khoảng hư không trống vắng, vô vọng.

Rồi chị thách: “Đứa nào tìm được lá Diêu Bông. Từ nay ta gọi là chồng”. Chị gọi là đứa, chị xưng là ta! Chị chối từ hay đùa cợt? Nhận lời thách hoang tưởng ấy, lá Diêu Bông khác nào “Voi chín ngà… gà chín cựa, ngựa chín hồng mao…” Sơn Tinh là thần, Sơn Tinh tìm được, đứa kia là người, thậm chí một chú “chíp hôi”, làm sao mà tìm nổi!

Thế là cuộc tìm kiếm của em chính thức bắt đầu, lẳng lặng mà ráo riết, mà bền bỉ dẻo dai. Bởi vì, người đẹp lý tưởng của em chính là chị! Bi kịch cũng bắt đầu từ đó. Giữa chị và em có một bức tường trong suốt, lạnh lùng. Hiển hiện đó thôi mà quá tầm tay với. Mặc lòng, đã là khát vọng em chấp nhận mọi giá trị để vươn tới, vươn tới cùng. Chiếc “diêu lá” chị nêu ra tưởng để chối từ một cách chắc ăn nhất, lại là cơ may cho em có để tiếp cận chị một cách “hợp pháp” nhất.

Từ sốt sắng, “hai ngày sau” đến tái hồi “mùa đông sau” từ oái oăm “ngày cưới chị” đến tàn tạ héo mòn “chị ba con”, em vẫn đeo đuổi, bám riết. Chị “chau mày” kháo khỉnh,


 

chị “lắc đầu” thờ ơ, chị “cười” quay lưng an phận, chị “xòe tay phủ mặt” ai điếu khâm niệm thời son trẻ của mình… mặc, không gì dừng được tình cảm em tha thiết chị. “Đành lòng vậy, cầm lòng vậy?” như khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan, nó không hề tan trong những chiều Diêu Bông, nó sẽ nhập hồn vào gió quê mà cất lên cái tiếng kêu bạt gió u ẩn của mình… Khối tình ấy, cũng đã quặn lên trong một bài thơ khác, bài “Quả vườn ổi”:

Lẻo đẻo em đi vườn mai sau

Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng

Ai đã nói “chờ đợi là một điều khủng khiếp, nhưng không có gì để chờ đợi lại càng khủng khiếp hơn ngàn vạn lần”. Người em gần như linh nghiệm với vế thứ nhất, còn chị, oái oăm thay đã vận vào vế thứ hai. Chị cũng tìm, mà cuộc kiếm tìm của chị mấy ai ngó ngàng. Chỉ có nỗi đau nhói lòng – Nỗi đau không cất nổi thành lời như em. Chị như con chim tắt tiếng, chỉ biết “cau mày”, “lắc đầu”, “phủ mặt”. Chị làm gì có cái để chờ đợi, hướng tới! Đến tuổi thì chị đành đến với một người chị gọi là chồng và tìm lấy những niềm vui “chỉ ấm trôn kim”, thế thôi. Em cầm chiếc lá xoay quanh chị, với em là mảnh hy vọng, với chị là dao cứa lòng. Một bi kịch ngược chiều! “Xòe tay che mặt chị không nhìn” phải chăng là một cách trốn chạy thực tế; là sự đau xót đến tận cùng của thân phận…

Kiếm tìm hay đuổi bắt, kẻ càng đến gần người càng lùi xa… Mỗi đời người đều hướng tới người lý tưởng, có người không tìm thấy, có người đã thấy nhưng dường như số phận không dành cho mình. Đau nhất là, do một ngẫu nhiên mù quáng nào đó của định mệnh, hai người kia lại bị ghép thành một cặp!... Cuộc kiếm tìm, đuổi bắt sẽ vĩnh viễn đau thương!

Có phải đó là một lý do khiến “Lá Diêu Bông” cứ khắc khoải xanh nơi đáy lòng của mỗi người đã từng yêu dấu, từng kỳ vọng khát khao



Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 14 Oct 2010 lúc 4:57pm

Suy ngẫm từ “Gửi em – cô thanh niên xung phong” (Phạm Tiến Duật)

1. Sáng tác ngay trên đất lửa ác liệt của khu IV Hà Tĩnh, nơi “giặc điên cuồng trút hàng vạn bom rơi” . Vẻ đẹp những o thanh niên xung phong quả cảm đã đi vào nhiều bài thơ bài hát ca ngợi, nhưng có thể nói bài thơ của Phạm Tiến Duật giúp ta nhận ra rõ dáng nét, tâm hồn của cả một thế hệ thanh niên, những người con gái bằng xương bằng thịt mà lại có sức sống mãnh liệt vượt lên bom đạn.

2. Thơ kháng chiến chống Mỹ gắn với tuyến đường Trường Sơn có nhiều bài sâu sắc mà cảm động, lại rất giàu chất hiện thực. Chính không khí của những ngày chống Mỹ làm nên cảm hứng thơ ca hướng về với con người - biểu trưng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Thơ của Phạm Tiến Duật, người chiến sĩ lái xe, viết ngay trong mưa bom bão đạn mà lại tươi rói sức sống tuổi xuân của một lớp người trưởng thành từ thực tế chiến đấu đã được đông đảo quần chúng đón nhận. Thô ráp, một mạc mà lại rất sinh động, tươi trẻ, chứa đựng tinh thần lạc quan của thế hệ chống Mỹ. Có lúc đằm sâu trong Nhớ, có lúc ngang tàng phóng khoáng bụi bặm đầy chất lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Riêng bài thơ này đã lý giải một tình yêu người lính – tình cảm trong chiến đấu, nảy nở giữa chiến trường, nơi sự sống – cái chết cách nhau một ranh giới mong manh đã ghi đậm dấu ấn tâm hồn tuổi thanh xuân trong hình tượng cô thanh niên xung phong.

3. Cũng như nhiều bài thơ trong giai đoạn này ngồn ngộn những chất liệu hiện thực, tác phẩm của Phạm Tiến Duật kể về cuộc gặp gỡ với những nữ thanh niên xung phong mà trung tâm chính là em - một cô gái không không nhìn rõ mặt. Từ cuộc gặp gỡ cụ thể ấy, nhà thơ đã nâng tầm nhân vật trữ tình thành bức tượng đài nghệ thuật ngôn từ về lực lượng thanh niên xung phong thời chống Mỹ.

4. Cái may mắn của thế hệ hiện nay là được hưởng hoà bình và được hưởng thụ nhiều tiện nghi về vật chất cũng như tinh thần. Nhưng sẽ là một thiệt thòi nếu thiếu những hiểu biết về một thời dân tộc đã anh dũng lập nên bao chiến công, không cảm nhận được về con người của một thời đã trực tiếp viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc. Sẽ là một thiếu sót nếu thế hệ hôm nay lãng quên quá khứ. Chúng ta thường dễ xúc động trước những người ngã xuống vì lý tưởng độc lập tự do của dân tộc, dễ cảm thương trước những thiệt thòi hôm nay của các o pháo binh Ngư Thủy, các o TNXP Đồng Lộc mà có thể không hiểu được rằng: vào thời ấy, họ đã phải hy sinh lặng thầm, không hề tính toán thiệt hơn.

5. Những bài thơ của một thời có thể sẽ bị chìm vào quên lãng, lạc lõng trước những âm thanh hip-hop, rock-rap hiện đại. Nhưng nếu ta chịu khó hiểu, ta sẽ sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân và đất nước mình. Hãy đọc và cùng hoà vào cảm xúc rất trong trẻo của thời đại chống Mỹ ở bài thơ này, ta sẽ hiểu thế nào là Sự Sống, Tình Yêu mạnh hơn bom đạn và cái chết./.

                                                                                    Trần Hà Nam
Gửi em, cô thanh niên xung phong (Phạm Tiến Duật)
Có lẽ nào anh lại mê em
M
ột cô gái không nhìn rõ mặt
Ð
ại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình nh
ư trắng nhất

Ng
ười tinh nghịch là anh dễ thân
B
ởi vì thế có em đứng gần
Em
ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn"
Ðêm ranh mãnh ng
ăn cái nhìn đưa đón

Em
đóng cọc rào quanh hố bom
Cái mi
ệng em ngoa cho bạn cười giòn
Ti
ếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh l
ặng người như trôi trong tiếng ru.

Tranh th
ủ có ánh sáng đèn dù
Anh v
ội nhìn em và bạn em khắp lượt
M
ọi người cũng tò mò nhìn anh
R
ồi bóng tối lại khép vào bóng tối

Em
ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong
đọan đường này các em làm đâu
Anh
đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái
ở Thạch Kim Thạch Nhọn
Kh
ăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách gi
ấy mở tung trắng cả rừng chiều.

Anh
đã đi rất nhiều, rất nhiều
Nh
ững con đường như tình yêu mới mẻ
Ð
ất rất hồng và người rất trẻ
Nh
ưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim

Nh
ững đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cu
ốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
R
ực rỡ mặt đất bình minh
H
ấp hối chân trời pháo sáng
Ð
ường trong tim anh in những dấu chân.

Chi
ếc võng bạc trên đường hành quân
Anh
đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
L
ại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?

B
ụi mù trời mùa hanh
N
ước trắng khe mùa lũ
Ðêm r
ộng dài là đêm không ngủ
Em v
ẫn đi, đường vẫn liền đường

C
ạnh giếng nước có bom từ trường
En không r
ửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhi
ểu bom nổ chậm
Ðêm n
ằm mơ nói mớ vang nhà
Chuy
ện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Th
ương em, thương em, thương em biết mấy...

D
ừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
S
ẽ giật mình đường mới ta xây
Ðã có
độ dài hơn cả độ dài
C
ủa đường xá đời xưa để lại
S
ẽ ra về bao nhiêu cô gái
M
ột ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Ð
ể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Tr
ước những công trình ngoằn ngòeo trên mặt đất.

Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có l
ẽ nào anh lại mê em
T
ừ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em
đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong.
 



Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 04 Jan 2011 lúc 6:15am
 
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
Bà Huyện Thanh Quan

“ Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

( Qua đèo Ngang)

“ Nhớ nước” – “ Thương nhà” là hai dòng tình cảm sâu sắc của Bà Huyện Thanh Quan. “ Nhớ nước”, bà có bài thơ “ Thăng Long thành hoài cổ”, “ Thương nhà”, bà có bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà”. Dưới triều Tự Đức, bà được mời về kinh nhậm chức Cung trung giáo tập để dạy các công chúa, cung phi. Sống trong cung đình, nhưng bà tự coi mình như kẻ “ lữ thứ”, tấm lòng của bà luôn luôn hướng về chốn “ Chương Đài”. Tâm sự thương nhà của bà được diễn tả một cách tài hoa trong bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà”:

“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn,
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?”


Bà Huyện Thanh Quan đã chọn luật bằng vần bằng cho bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” ( Bài “ Thăng Long thành hoài cổ” là luật trắc vần bằng) hợp với điệu hoài cảm của tâm hồn thi nhân. Mở đầu bài thơ là hình ảnh buổi hoàng hôn với điệu nhạc chiều êm ái, thổn thức:

“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn”


Trong cả ba bài thơ nổi tiếng, bà Huyện Thanh Quan đều nói đến chiều tà.

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà”
( Qua đèo Ngang )

“ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
( Thăng Long thành hoài cổ )

“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn”

Từ “ bảng lảng ” tả ánh sáng buổi hoàng hôn thật là đặc sắc. Cảm nhận về ánh sáng như vậy thật là thi sĩ. “ Bảng lảng” là ánh nắng đã nhạt, loãng, yếu ớt của buổi chiều tàn. Ánh nắng hạ xuống thì nhạc chiều nổi lên . Điệu nhạc trầm buồn của “ tiếng ốc” từ xa đưa lại , tiếng trống cũng xa, chỉ nghe văng vẳng nhưng dồn dập thổn thức. Cái tôi trữ tình của thi nhân lặng phía sau hình ảnh và âm thanh . Cái gì nữ sĩ nhìn thấy , gần gũi thì nhạt nhòa, tàn phai. Nữ sĩ lắng nghe, đón nhận những âm thanh vang từ xa, cho nên khúc nhạc chiều trầm buồn đó cũng là khúc nhạc lòng của thi nhân.

Nhà thơ mở rộng không gian của buổi hoàng hôn, trở về với những hình ảnh gần gũi thân quen của những người lao động:

“ Gác mái , ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn”


Bà Huyện Thanh Quan vẫn không thoát khỏi những đề tài “ ngư , tiều, canh, mục” quen thuộc trong thơ cổ điển . Nhưng bà vẫn có sáng tạo riêng. Bà chỉ chọn hai nhân vật cho buổi “ chiều hôm” là “ ngư ông” và “ mục tử”. Nét linh hoạt của câu thơ là ở những cử chỉ của nhân vật. Hai cử chỉ nghịch nhau mà lại cùng diễn tả một ý tưởng . “ Gác mái” là ngư ông nghỉ ngơi, đảo vị ngữ “ Gác mái” càng nhấn mạnh sự nghỉ ngơi thư thái của ngư ông. “ Gõ sừng” cũng được đảo ra phía trước để nhấn mạnh cử động của mục tử ( người chăn trâu ) nhưng là cử động trở về, nghỉ ngơi. Nhưng cả ngư ông và mục tử trên đường trở về đều có khoảng cách “ ngư ông về viễn phố”, ngư ông về bến xa, “ mục tử lại cô thôn”, người chăn trâu về xóm lẻ loi. Khoảng cách ấy cũng là khoảng cách trong lòng thi nhân với quê hương xứ sở của mình, thành ra có ba con người , ngư ông, mục tử và nữ sĩ chẳng gắn bó gì với nhau cả lại cùng giống nhau ở một điểm là chiều hôm, mỗi người đều hướng về nơi chốn thân yêu của mình. Tóm lại, hai câu thực đã thể hiện một cách tài hoa chủ đề “ chiều hôm nhớ nhà”.

Chuyển sang hai câu luận, không gian thơ được mở lên chiều cao với những hoạt động của thiên nhiên trong buổi “ chiều hôm”:

“ Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn”


Hình ảnh thật đẹp , thật gợi cảm. Nhà thơ đã chọn được những tín hiệu thẩm mĩ có khả năng diễn tả tâm tình của thi nhân. Hình ảnh “ ngàn mai gió cuốn” vừa rộng lớn, thoáng , vừa sôi động. Rừng mơ bạt ngàn càng thấy sự lẻ loi đơn chiếc của thi nhân , hình ảnh “ gió cuốn” gợi sự xao động bên trong của nữ sĩ . Hình ảnh cánh chim chiều “ bay mỏi” cũng gợi tâm trạng của thi nhân.Làm sao giữa không gian bạt ngàn của rừng mai mà nhận ra “ chim bay mỏi”? Phải có con mắt rất tinh, nhưng như thế vẫn chưa đủ, phải là con mắt của tấm lòng. Còn “ dặm liễu” thì thơ mộng mà “ dặm liễu sương sa” thì vừa thơ mộng vừa lạnh lẽo. Cái lạnh của sương chiều đã thúc bước chân của người đi đường “ khách bước dồn”. Cái hay của hai câu luận là không gian được mở ra với những hình ảnh đẹp, thơ mộng, gợi cảm và chủ đề “ Chiều hôm nhớ nhà” cũng mở ra đến chiều sâu thẳm. Chỉ tiếc là từ “ dồn” ( bước dồn) trong câu luận đã lặp lại từ “ dồn” ( trống dồn) trong câu thừa đề khiến cho bài thơ nghèo đi một chút.

Dòng tình cảm ngầm chảy suốt qua các hình ảnh và nhạc điệu đến đây lộ ra tha thiết, nồng nàn:

“ Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?”


Nữ sĩ dùng những từ phiếm chỉ như “ kẻ”, “người”, “ai” vừa thuận với thi pháp “ phi ngã” ( không có cái tôi) thời bấy giờ mà cũng vừa hợp với tâm tình của thi nhân , tha thiết nhưng không ủy mị( người trí mà!), nồng nàn nhưng vẫn e ấp. “ Kẻ chốn Chương Đài” là tác giả dùng điển cố. Xưa có người gửi thư về cho vợ là Liễu Thị hỏi : “ Cây liễu Chương Đài xanh xanh trước kia nay còn không?”. Và từ đó “ Chương Đài” thành ước lệ quê nhà trong văn chương . “ Kẻ chốn Chương Đài , người lữ thứ” là kẻ ở quê nhà, người ở quán trọ ( lữ thứ ) xa xôi cách trở. Nữ sĩ dùng chữ “ lữ thứ “ thật bất ngờ. Bà đang dạy học cho các công chúa và cung phi trong cung vua, còn đâu hoa lệ và sang trọng hơn?. Vậy mà nữ sĩ coi đấy cũng chẳng qua là quán trọ. Tác giả dùng từ Hán Việt “ lữ thứ ” phần nào trung hòa được tinh thần ngạo mạn của bà. Cho nên trong sâu thẳm tình cảm nhớ nhà của bà là tình nhớ nước. Bà chẳng tha thiết, chẳng gắn bó gì với triều đại đương thời, nữ sĩ cảm thấy như bị lưu đày nơi đất khách quê người. Và câu hỏi tu từ “ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” càng trào dâng lên nỗi nhớ nhà của kẻ “lữ thứ”.

Bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” được Bà Huyện Thanh Quan viết theo bút pháp tả cảnh gợi tình quen thuộc trong thơ cổ điển. Từng hình ảnh , từng âm thanh đều gợi đến tâm trạng nhớ nhà của nữ sĩ. Nỗi nhớ nhà của nữ sĩ thật là thâm trầm, sâu sắc, nhân bản. Trong quan hệ xã hội, bà không được chia sẻ, sống với một triều đại mà bà chỉ hướng về ánh hào quang của quá khứ, “ một mảnh tình riêng ta với ta “ ( Qua Đèo Ngang ) nên bà dồn tình cảm nhớ thương cho gia đình , cho những người thân yêu. Trước tình trạng lỏng lẻo của những mối quan hệ gia đình hiện nay thì một tiếng thơ ( cũng là tiếng lòng ) của Bà Huyện Thanh Quan cũng có giá trị tinh thần nhân bản, cao quý của gia đình.

(Sưu tầm)


Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 04 Oct 2011 lúc 8:19am
 
Bình bài “ thơ tình cuối mùa thu”

 

 Có những thứ đi qua cuộc đời, nhẹ nhàng và bình yên, không dấu vết, không mảy may kỷ niệm. Có những điều đi qua cuộc đời để lại những dấu ấn thật đậm nét. Nhớ về những điều đó là nhớ về cả một quãng ngọt ngào nhất của cuộc đời. Bởi thế nên nó được ta gìn giữ như báu vật, ta nâng niu, trân trọng như chính cuộc đời ta. “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh chính là nơi cất giữ những kỷ niệm như thế - Tình yêu mãnh liệt và thủy chung của người phụ nữ đa cảm, đa tình.


Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Tại sao nhà thơ lại chọn thời điểm cuối mùa thu? Và tại sao cứ phải là “Thơ tình cuối mùa thu”? Phải chăng vì mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm. Và tình yêu trong mùa thu cũng đẹp nên thơ và lãng mạn như chính cái mùa quyến rũ ấy. Cho nên sang mùa đông thì tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ “theo mùa đi mãi”, lá sẽ về rừng, dòng nước sẽ trôi ra biển cả. Cho nên thơ tình làm vào độ cuối thu thì cảm xúc càng có dịp thăng hoa.
Cái sắc thái cuối thu trong bài thơ đã có những dự cảm rất tinh tế của tâm hồn người phụ nữ. Đọc thơ Xuân Quỳnh ta luôn bắt gặp song hành bên cạnh một tình yêu thủy chung và bỏng cháy là những dự cảm và lo âu. Tuy chỉ tả cảnh thôi nhưng âm điệu thơ cứ man mác những lo âu:

Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay.

Trong cái làn gió heo may thổi xao động ấy còn có cả sự xao động trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Mới cuối thu mà tất cả dường như đã có sự thay đổi. Liệu mùa thay đổi rồi “lòng anh có đổi thay”? Đấy phải chăng chính là dự cảm trong tâm hồn của người phụ nữ có niềm yêu mãnh liệt và đa cảm ấy!

Tôi thích nhất trong bài thơ những câu thơ này:
Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Bốn câu thơ có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là tình yêu đã trọn vẹn, đã cập bến bờ hạnh phúc – một hạnh phúc phải trải qua những gió bão và thác lũ cuộc đời cho nên nó càng có ý nghĩa.
Nhưng tôi thích cách lập luận thứ hai hơn. Đó là cách hiểu tình yêu đã trôi qua, tất cả bây giờ được nhìn trong tương quan quá khứ - hiện tại. Từ cách hiểu có vẻ vô lý này ta có thêm một cách định nghĩa về tình yêu: Tình yêu muốn đạt được hạnh phúc cần phải trải qua những bão tố của cuộc đời và của cả lòng người nữa. Bởi có trải qua gió bão thì hạnh phúc đạt được mới thật sự trọn vẹn. Tình yêu trôi qua trong yên bình, lặng lẽ sẽ rất khó cấu thành hạnh phúc.
Chính vì thế mà khi nói “Đã yên mùa gió bão… Đã yên ngày thác lũ” nghĩa là tình yêu đã qua đi, tất cả bây giờ trở về bình lặng. Có lẽ vì thế mà khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sỹ Thuận Yến để bốn câu thơ này với âm hưởng trầm buồn, xót xa như một sự tiếc nuối.
Tình yêu đã lùi vào quá khứ không có nghĩa là tình yêu đã vụt tan. Điều đó trong “Thơ tình cuối mùa thu” càng được khẳng định bởi điệp ngữ: “Chỉ còn anh và em/ Cùng tình yêu ở lại”.
Dù thời gian trôi đi đồng nghĩa với tất cả trở thành quá khứ, nhưng không vì thế mà tình yêu cũng tan vào dĩ vãng. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh là một tình yêu mãnh liệt và thủy chung, nồng nàn và da diết. Cho nên dù tình yêu đã trở thành một miền dĩ vãng thì những dư âm của nó cũng sẽ còn mãi trong tâm hồn người con gái thủy chung.
Khổ thơ cuối điệp lại một lần nữa như khẳng định lại sự bền vững của tình yêu:

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại…
Kìa bao người yêu mới
Đi qua vùng heo may…”
Hai câu thơ cuối bài thơ vang lên như một tiếng reo. Bài thơ dừng lại ở đấy. Tưởng như là đột ngột. Tưởng như là hụt hẫng. Nhưng không! Cái tiếng reo vui ấy kết lại bài thơ chính là khẳng định sự vĩnh cửu của tình yêu.
Tình yêu đã được tiếp nối giữa các thế hệ. Có thể thế hệ của “anh” và “em” đã qua đi, “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” nhưng có bao đôi trẻ yêu nhau sẽ gắn bó thủy chung và sắt son qua những mùa thu mới, những vùng heo may mới, tiếp nối tình yêu của anh và em…
Hai câu kết thúc bài thơ tạo ra hai giá trị vĩnh cửu của tình yêu. Giá trị riêng và giá trị chung. Giá trị riêng chính là tình yêu của anh và em, dù có thể đã lùi vào quá khứ nhưng những gì anh giành cho em và em giành cho anh sẽ còn mãi qua những mùa thu. Giá trị chung là tình yêu của biết bao thế hệ , biết bao đôi lứa yêu nhau sẽ còn mãi. Tình yêu trên trái đất này là bất diệt. Giá trị nhân văn của bài thơ này bất diệt là ở chỗ đó.


-------------


Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 10 Oct 2011 lúc 10:19pm

Bình “ Lơì kỹ nư”  của Xuân Diêụ

                                                                            Trần Trung

Đi suốt bài thơ là tiếng lòng thiết tha đến thổn thức của người kỹ nữ - nhân vật trữ tình trong thi phẩm đặc sắc và ám ảnh thân phận con người của nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu.

Tự cổ xưa, tới tận bây giờ, người đời vẫn định kiến tới nghiệt ngã với những phụ nữ bán thân. Thế mà, trong con mắt của thi nhân lãng mạn rất đỗi ưu ái và bao dung, lại có cách nhận diện ra thế giới tâm tình của người phụ nữ mà thiên hạ vẫn rẻ rúng trong cách nhìn. Xuân Diệu đã thốt lên lời kỹ nữ, đọc thấu tiếng lòng của cô trong thiết tha níu kéo khách làng chơi trong khoảnh khắc lìa xa:

“Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;

Vội vàng chi, trăng lạnh quá, khách ơi!”

Níu kéo để giữ lại trong giao cảm, ái ân, người kỹ nữ trong thơ Xuân Diệu viện tới miền sáng trăng rằm mà ông Giời đang mở “yến tiệc sáng trên trời”. Sự chào mời của thiên tạo cũng đồng hòa với tiếng lòng chào mời, dâng hiến hết mình của người tình thiết tha: “Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”.

Người kỹ nữ thoắt thành công nương và khách làng chơi trở thành hoàng tử. Xuân Diệu táo bạo hết mình và cũng nhân ái thật lòng. Sao nỡ dứt tình trước sự dâng hiến của “tay em đây”; của “tóc xanh tốt”, rồi nữa “đây rượu nồng! và hồn của em đây”…

Sự hết mình thành thực của một con người với một con người cụ thể mang tất cả sự trọn vẹn vật chất có thể cùng sự tận lòng dâng hiến. Sao mà nỡ dứt cho đặng!

-“ Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;

Khách không ở, lòng em cô độc quá!

Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,

Tay em đây mời khách ngả đầu say;

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”.

-“ Chớ để riêng em phải gặp lòng em;

Tay ái ân du khách hãy làm rèm,

Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng”.

Vượt lên sự đọa lạc vật chất tầm thường, dung tục, những lời thơ đa cảm và bao dung của Xuân Diệu như đang hướng tới vẻ đẹp sáng trong, thánh thiện của thiên nhiên và tình người. Nhà thơ như đang khoan thai giãi bày lòng mình theo bước đi của vẻ huyền diệu trăng rằm. Bởi trăng và gió như đang mơ về cõi mơ xa:

“Trăng về viễn xứ.

Đi khoan thai trên ngự đỉnh trời tròn.

Gió theo trăng từ biển thổi qua non”

Thơ tình khát khao của Xuân Diệu thường sóng hòa và đồng hành với nỗi cô đơn có thực tự hồn thi sỹ. Và, nhà thơ lãng mạn giàu yêu thương như lại đọc tiếp được tiếng nói, tiếng lòng của người kỹ nữ - “lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn”…

Bao nhiêu là thảng thốt, khi cô đơn của thân phận ập tới, dâng đầy hồn kỹ nữ. Đó là kiếp giang hồ vô định – “trôi phiêu diêu không vọng bến hay gành”; là niềm khao khát bỏng cháy mong tìm được cuộc tình yên ổn, bằng an mà vẫn không tìm nổi “giây tình vướng víu”!

“Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt”! Làm sao mà không òa vỡ thành nước mắt; không vỡ thành niềm đau trống trải và hụt hẫng. Bởi, lòng kỹ nữ không được sưởi ấm bằng ngọn lửa hồi âm. Cảm giác ớn lạnh, băng giá đang vây bủa. Thơ Xuân Diệu là sự huy động tối đa và hết mình cho mọi giác quan có thể vào thơ. Xuân Diệu diễn tả nước mắt cô đơn tới đỉnh điểm của “Lời kỹ nữ”. Lời than cùng tiếng lòng chới với như tiếng kêu cứu:

“Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.

Du khách đi.

Du khách đã đi rồi”.

Xuân Diệu đã hóa thân, đã mượn lời kỹ nữ để phát ngôn cho cảm quan của lòng mình về con người; về những thân kiếp tưởng như tan hòa vào đọa lạc mà vẫn khát cháy sự gặp gỡ và tình yêu thương thành thực.

Có lẽ vẻ đẹp và vóc dáng nhân văn của “Lời kỹ nữ” của Xuân Diệu chính là ở tiếng lòng thiết tha và khao khát ấy!

 



-------------


Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 10 Oct 2011 lúc 10:27pm

KHẮC KHOẢI

Khắc khoải sống, khắc khoải yêu
Cả đời khắc khoải một điều: Có nhau!
Nửa đời tóc đã ngả màu
Trái ngang đã nếm, khổ đau đã nhiều

Bấy lâu ngẫm thấy tiếng yêu
Ngỡ tình như gió thoảng chiều nắng oi
Đôi chân lê bước lẻ loi
Đường tình gai góc chao ôi: thật dài!

Còn bao lâu đến thiên thai?
Bao giờ cho hết đôi vai trĩu buồn?
Em đem phận số ra chôn
Mong ngày hóa kiếp cho hồn xênh xang

Cho em khắc khoải đêm tàn
Vần thơ thức dậy mơn man nụ cười
Một ngày mới sẽ dần trôi
Cho em khắc khoải bồi hồi chữ Yêu

Thủy Hướng Dương



Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 10 Oct 2011 lúc 10:30pm

BÌNH BÀI THƠ KHẮC KHOẢI CỦA THUỶ HƯỚNG DƯƠNG
.
Trên đời này, có một thứ vô hình nhưng thực ra lại là hữu hình. Đó là TÌNH YÊU.
Nó vô hình bởi vì không ai biết hình thù nó thế nào. Nó tròn hay vuông, mỏng hay dày, màu đỏ hay màu tím, nặng nhẹ bao nhiêu… Ngay cả định nghĩa Tình yêu còn khó nữa là.
Nhà thơ tình cây đa cây đề của nền thơ Việt Nam, tác giả của hàng trăm bài thơ tình nổi tiếng, còn phải thốt lên: 'Đố ai định nghĩa được tình yêu'.
Nhưng Tình yêu lại là hữu hình, có thể cảm thấy được, nhìn thấy được. Chính vì thế, người ta mới biết tình yêu đẹp, tình yêu lãng mạn, tình yêu vụ lợi, tình yêu thực dụng, tình già, tình trẻ, tình yêu vĩnh cửu...
Trên đời này, có một thứ rẻ nhất, nhưng cũng đắt nhất và quý nhất. Đó là TÌNH YÊU.
Nói rẻ nhất, bởi vì đến với tình yêu, nhiều khi chẳng phải mất tiền mua. Có khi đôi trai gái yêu nhau với tình yêu sét đánh, chỉ một cái nhìn mà đem cả cuộc đời mình gắn vào nhau.
Nhiều khi các anh lính đảo, chỉ qua những cánh thư với cô sinh viên, thế mà họ đã kết thành tình yêu vĩnh cửu. Nhiều khi giao thông trên đường, va quệt xe vào nhau, đưa nhau vào bệnh viện rồi cảm nhau mà thành tình yêu.

Nhưng tình yêu thì thật là quý và thật là đắt. Điều này thì ai mà chẳng biết, bởi chúng ta ai chẳng đánh đổi cả cuộc đời mình để dành cho tình yêu.
Đối với đàn ông, Tình yêu là một phần của cuộc đời, Nhưng với phụ nữ, Tình yêu là cả một Cuộc đời. Mất tình yêu, đàn ông mất đi một phần cuộc đời, nhưng mất đi tình yêu, người đàn bà mất đi tưởng chừng như cả cuộc đời họ.

Chính vì vậy, đọc bài thơ Khắc khoải của Thủy Hướng Dương ta mới thấy hết được Tình yêu đối với người con gái nó sâu nặng và đáng quý biết nhường nào. Vì tình yêu mà cuộc sống của họ chừng như mất thăng bằng, bị đảo lộn, bị chênh chao, nhiều khi sống trong trạng thái bồn chồn, phấp phỏng.
Ta đã nghe câu ca dao:

'Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than'

Người con gái trong thơ Thủy Hướng Dương cũng vậy:

Khắc khoải sống, khắc khoải yêu
Cả đời khắc khoải một điều: có nhau

Khắc khoải yêu, một tình yêu cháy bỏng. Ai cũng biết rằng, nếu tình yêu trôi đi bình lặng, thì ngọn lửa tình yêu nó chỉ cháy âm ỉ trong lòng. Không mãnh liệt, không ào ạt, không dư âm và không nhiều kỷ niệm. Nhưng nếu tình yêu có nhiều trắc trở, có nhiều xa cách, có nhiều nghĩ suy, day dứt đến nỗi lúc nào ta cũng phải “khắc khoải” để “có nhau” như vậy thì chẳng khác nào như ngọn lửa luôn luôn được gió thổi bùng lên và Tình yêu sẽ trở nên cháy bỏng và mãnh liệt hơn bao giờ hết.
Tình yêu của Thủy Hướng Dương lại được tâm nguyện như ngọn lửa thổi cháy lên suốt cả cuộc đời:

Nửa đời tóc đã ngả màu
Trái ngang đã nếm, khổ đau đã nhiều

Đến nửa chặng đường đời, tóc đã ngả màu sương gió, gặp bao nhiêu trái ngang và đau khổ, tình yêu ấy vẫn còn khao khát, vẫn còn khắc khoải thì phải nói rằng tình yêu ấy mãnh liệt, bền chắc, tươi mới và đáng quý biết nhường nào.
Chính tâm trạng khắc khoải đã nhóm lên nỗi khát khao trong con tim yêu một ngọn lửa tình cháy bỏng:

Bấy lâu ngẫm thấy tiếng yêu
Ngỡ tình như gió thoảng chiều nắng oi
Đôi chân lê bước lẻ loi
Đường tình gai góc chao ôi: thật dài

Người con gái trước tình yêu, trái tim non trẻ thơ ngây cứ ngỡ rằng tình yêu thật giản đơn, trong trắng, dễ dàng với tới được và nó sẽ mang cho mình một niềm sung sướng đơn thuần như cây non đang trời khô hạn gặp mưa, như con người đang trời nắng oi được cơn gió thoảng. Thế nhưng, Tình yêu là là một đỉnh núi cao, đường lên chót vót, có nhiều chông gai cạm bẫy của cuộc đời.
Ta nghe bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng của nhà thơ Chế Lan Viên:

Em gần gũi, em xa xôi
Sao em như thể chân trời trước anh
Đưa tay tưởng với được tình
Bước đi tới mãi mà mình vẫn xa.

Ở đây, người con gái chập chững bước vào Tình yêu cũng vậy. Tưởng chừng như chỉ giản đơn thôi, ai ngờ nó đầy gai góc và thật dài. Chính vì vậy, đòi hỏi con người ta, đến với Tình yêu, lúc nào cũng phải gắng sức, lúc nào cũng phải tự làm mới mình, lúc nào cũng cần phải vươn tới.
Có như vậy tình yêu mới tràn trề sức sống, Xuân mới căng đầy nhựa cho búp Tình yêu. Ngay cả khi đã thành vợ, thành chồng, nhiều người cứ nghĩ rằng 'bây giờ ta đã thuộc về nhau', đã là của nhau rồi, không cần phải chăm chút cho tình yêu đôi lứa nữa, mà sống theo đúng bản năng sở thích của mình. Điều đó thật sai lầm.
Tình vợ chồng nó nặng về nghĩa tình chung thủy, ăn ở với nhau một ngày nên tình nên nghĩa. Nhưng ngoài tình nghĩa vợ chồng vẫn cần phải duy trì tình yêu và tình yêu lúc nào cũng cần mới mẻ như cái thuở ban đầu. Có như vậy, tình vợ chồng mới đằm thắm, sâu đậm, luôn tươi mới và không kém phần lãng mạn. Trẻ có tình yêu con trẻ, già có tình yêu của tuổi già. Ai thiếu điều đó thì cuộc đời đâu còn thi vị nữa.
Đọc đoạn thơ thứ ba của bài thơ Khắc khoải:

Còn bao lâu đến thiên thai?
Bao giờ cho hết đôi vai trĩu buồn?
Em đem phận số ra chôn
Mong ngày hóa kiếp cho hồn xênh xang

Sao mà ta thấy người con gái lại cô đơn và buồn đến thế. Mới có nửa chặng đường, mới có mái tóc pha màu thôi, đang đi tới Tình yêu hoàn hảo mà tưởng tượng rằng tới cõi Thiên thai, người con gái đã cảm thấy sức nặng của cuộc đời trĩu trên hai vai gầy guộc, liễu yếu đào tơ. Hay là Tình yêu trong tâm hồn em lớn lao quá, chiếm hết cả mọi suy tư, sức lực của đời mình.
Nếu có ai, ghé vai đỡ hộ, cùng chung gánh nước non, gánh tình yêu cùng em đi suốt chặng đường còn lại thì chắc là hai người rất hạnh phúc vì đã mang trong tâm hồn mình Tình yêu thực thụ và được nếm trải thử thách trên chặng đường đời.
Em gái ơi, đừng tin vào số phận hẩm hiu, hay duyên kiếp bẽ bàng mà em hãy tin vào chính ngọn lửa trong trái tim mình để giành lấy tình yêu, giữ tình yêu và em sẽ đốt nó thành ngọn lửa cháy bùng sưởi ấm cho hạnh phúc suốt cả đời mình.
Em sẽ không phải lo trốn chạy khỏi số phận, hay phải chôn vùi số phận hay hóa kiếp nó đi để tâm hồn em thanh thản. Em hãy bằng trái tim, khối óc, bàn tay của mình để dệt nên một tình yêu tươi đẹp. Không chịu theo phận số.
Cụ Nguyễn Du đã từng dạy ta: 'Xưa nay nhận định thắng thiên cũng nhiều' đấy thôi.
Ta hãy nghe đoạn kết của bài thơ mà Thủy Hướng Dương đã viết:

Cho em khắc khoải đêm tàn
Vần thơ thức dậy mơn man nụ cười
Một ngày mới sẽ dần trôi
Cho em khắc khoải bồi hồi chữ Yêu.

Em gái ơi! Phải thế chứ. Đêm sẽ dần tàn đi, vần thơ thức dậy và một ngày mới bắt đầu. Ta sẽ viết lên một vần thơ tươi mới, cho một ngày mơíi, và nhóm lên ngọn lửa mới, ngọn lửa Tình yêu mà cả đời em, cả đêm lẫn ngày, em khắc khoải bồi hồi. Tình yêu sẽ đến chói ngời như ánh nắng bình minh. Em ùa ra, đón nhận nó, em dang tay ôm nó vào lòng.
Em hưởng thụ nó, cảm nhận tất cả những gì tốt đẹp của tình yêu. Em sẽ là người hạnh phúc nhất trên thế gian này. Tình yêu đã nằm trọn trong tay em, nhưng em không tự mãn. Em vẫn phải chăm sóc nó, vun trồng nó. Ngày mỗi ngày trôi qua, tình yêu sẽ lớn hơn, sâu đậm hơn, hấp dẫn hơn, lãng mạn hơn và tươi đẹp hơn.
Dù biết thế, nhưng em vẫn phải khắc khoải, vẫn không quên đi nỗi niềm canh cánh trong lòng mình, trong suốt cuộc đời mình là hai ta phải có nhau.
Ta nhớ lời trong một bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: 'Sỏi đá cũng cần có nhau'. Đúng, sỏi đá cũng cần có nhau, huống chi là con người, biết yêu, biết buồn, biết vui, biết tư duy và thương nhớ. Vậy thì con người phải cần có nhau.
Điều khắc khoải của Thủy Hướng Dương tưởng là xa xôi nhưng thật là gần gũi, tưởng là nhỏ bé nhưng thực là lớn lao, vĩ đại, tưởng là viển vông nhưng thực là thiết thực vô cùng: CHỈ CẦN CÓ NHAU.
Chỉ có trái tim của người con gái khao khát tình yêu, biết yêu, biết cái giá trị của tình yêu mới nói lên một điều tưởng chừng giản đơn mà chí lí đến vậy. Trái tim bao la và nồng cháy của người con gái thật đáng trân trọng và kính phục biết bao.
Tôi ngưỡng mộ trái tim nồng cháy ấy. Ước gì tôi được gặp một người con gái có trái tim yêu vĩ đại và chân thành như vậy, cho dù chỉ được gặp ở trong mơ thì tôi đã hạnh phúc biết nhường nào.
Bài thơ của Thủy Hướng Dương rất hay. Hay cả về cấu tứ lẫn hình ảnh. Cả bài thơ, không chỗ nào tác giả gồng mình lên, hay cố chơi chữ khó hiểu, đánh đố hoặc làm người đọc phải huy động hết tinh lực ra mà tưởng tượng.
Câu thơ giản dị chân thành, tôi nghe như có hơi hướng mộc mạc chân quê của nhà thơ Nguyễn Bính hay Đồng Đức Bốn. Bài thơ giản dị, mộc mạc giống như người con gái đẹp cái duyên thầm, không cần cố phải trang điểm lòe loẹt, son phấn trát dày, mà cái đẹp cái duyên vẫn hiện ra rõ mồn một. Người con gái đẹp tự nhiên chân thành, giản dị nên dễ gần và dễ yêu hơn nhiều những cô gái đã được make-up hiện nay.
Lời thơ của Thủy Hướng Dương trong sáng, nhẹ nhàng, giản dị. Tôi nghĩ rằng, chắc tác giả ngoài đời cũng như vậy chăng?
Câu thơ lục bát của Thủy Hướng Dương rất hay. Nhưng tôi ước rằng, nếu câu thứ tư, tác giả chỉ thay đi một hai chữ thì câu thơ sẽ giá trị lên nhiều lần.
Thường thì trong câu lục hoặc câu bát, có dấu phẩy ở giữa, câu thơ phân thành hai nửa, thì hai nửa này là một tiểu câu đối thì mới hay.
Thí dụ trong Kiều có rất nhiều câu, nhưng tôi thử nêu một câu ngẫu nhiên là:
“Trướng màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao' hoặc: 'Đất thì thấp, trời thì cao'...
Ở câu thơ này: 'Trái ngang đã nếm, khổ đau đã nhiều': thì từ 'nếm' - động từ, từ 'nhiều” - Tính từ' nếu thay cùng là động từ hoặc cùng là tính từ thì câu thơ sẽ hay lên nhiều.
Xin phép Thủy Hướng Dương, tôi xin thay thử một chữ:
1- Động từ: 'Trái ngang đã nếm, khổ đau cũng từng' (từng ở đây là từng trải).
2- Tính từ: 'Trái ngang đã lắm, khổ đau cũng nhiều'.
Bài thơ Khắc khoải là một bài thơ hay về mọi mặt. Tôi xin chúc bạn viết được nhiều bài thơ hay như bài thơ này, để mang lại cho cuộc sống của bạn đọc nhiều sắc hương tươi đẹp của Tình yêu, nhất là những lời này lại được cất lên từ đôi môi hồng của người con gái.
Xin cảm ơn tác giả đã cho tôi những phút thăng hoa khi viết bài cảm nhận này.

                                                       Phạm Thanh Cải



-------------


Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 27 Oct 2011 lúc 9:22pm

B×nh th¬ “mïa xu©n chÝn” - Hµn mÆc tö

 

Mùa xuân – qua nét phóng bút tài hoa của Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên duyên dáng và có sức cuốn hút lạ thường. Xuân như thiếu nữ mơn mởn đào tơ, tràn căng sức sống, song xuân không hiện lên rõ nét mà cứ huyền ảo, như thực như hư. Không thể chỉ đọc từng câu từng chữ mà cảm được bài thơ. Cần cảm thụ quyện hòa từng luồng cảm giác.

 

Mở đầu bài thơ là một khung cảnh được từ từ hé mở. Không gian tươi mát, rõ ràng. Thi sĩ rắc màu lên từng cảnh sắc. Lấm tấm vàng của mái tranh, biếc xanh giàn thiên lý. Chợt nghe như sự sống bừng dậy, bỡn cợt, gợi tình. Câu thơ chuyển mạch rất nhanh với cách ngắt nhịp tài tình “bóng xuân sang”. Cảnh mới thực bỗng thoắt trở nên mơ hồ. Bóng xuân lướt nhanh ẩn hiện làm ta ngỡ ngàng. Mùa xuân,  qua con mắt thi nhân, phập phồng sức sống. Màu xanh tươi lan tỏa ngút mắt. Vút lên cao là tiếng hát tuổi xuân xanh. Màu sắc, âm thanh trộn đều tạo một không gian động, hồn nhiên thơ mộng. Tưởng chừng ta gặp hồn thơ Nguyễn Du qua vẻ đẹp: “Cỏ non xanh tận chân trời”, song ta nhận ra Hàn Mặc Tử bởi những cảm giác quẫy mạnh trong từng câu thơ, ta cảm được cái rùng mình của mùa xuân qua làn “sóng cỏ”. Thi sĩ lặng mình trước mùa xuân, chợt bâng khuâng nhủ lòng mình:

 

“Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”

 

Câu thơ lắng nỗi buồn nhẹ nhàng, man mác cái buồn cố hữu của những nhà thơ thời đó. Cái tiếc rẻ cho duyên con gái một đi không trở lại. Không giục giã, hối hả gấp gáp như Xuân Diệu “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ – Em, em ơi tình non sắp già rồi!” nhưng với hai câu thơ này Hàn Mặc Tử đã mang tới cho người đọc những đợt sóng ngầm tình cảm gấp gáp, hối hả mà duyên dáng lạ thường.

 

Những âm thanh trong bài thơ chuyển động, cọ xát nóng bỏng: “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”. Các cung bậc mùa xuân lên bổng, xuống trầm tinh nghịch, khát khao, dịu nhẹ. Những gam cảm giác Hàn Mặc Tử đưa vào thơ rất mới lạ mà lại gần gũi, quen thuộc. Thấp thoáng đâu đây khuôn “mặt chữ điền” như thơ Đường; mà lại có vẻ hồn nhiên, rụt rè của cô gái tơ mới lần đầu hò hẹn. Âm thanh, cảm giác được đẩy lên cao vút, nao nức, bâng khuâng.

 

Tận cùng của cảm giác là một nỗi nhớ nao lòng. Xuân chín căng, mời mọc làm nguời đi xa chạnh niềm tha hương. Hình ảnh trong nỗi nhớ sáng rực, thân thiết:

 

“Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang?”

 

Nỗi nhớ như mùa xuân, cũng chín đỏ. Như tình người, tình quê ấm áp, đậm đà. Câu hỏi tưởng bâng quơ, sực nhớ kia chính là nỗi niềm mến thương  từ lâu ủ kín, chợt mùa xuân làm thức dậy trìu mến, thiết tha.

 

Bài thơ của Hàn Mặc Tử đầy nhựa sống như tâm hồn của nhà thơ luôn khát khao giao cảm với đời. Với mùa xuân, Hàn Mặc Tử yêu say đắm, điên cuồng: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống” – lời của thi nhân đã được đem vào trong bao áng thơ diễm tuyệt, kết tinh hương sắc làm nên một “mùa xuân chín”.

 



Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 3:04pm
LỐI NHỎ
 
 
Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ
Em thả bước chán chường
Có lối nhỏ gập ghềnh sỏi đá

Gót chân em nện xuống dữ dằn

Có lối nhỏ vương đầy cây xấu hổ
Em sợ nó khép cánh
Biết làm sao bây giờ
Chính lối này đưa em tới anh…
Dư Thị Hoàn
________________________
Trong tình yêu thường có những cái cớ. Đôi khi cái cớ ấy rất nhỏ, rất vô tình nhưng lại tạo thêm hương vị cho tình yêu. “Lối nhỏ” của Dư Thị Hoàn là một bài thơ như thế.
Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ
Em thả bước chán chường
Không biết lối nhỏ ấy là nguyên nhân ngăn cách sự chung đôi hay do lòng người đang có sự cách ngăn? Năm xưa cụ Nguyễn Du cũng đã từng nói “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” Bởi vậy khi nhân vật trữ tình đang mang tâm trạng trong lòng thì nhìn đâu cũng thấy nhuốm một nỗi buồn trĩu nặng. Trong tình yêu có những điều thật khó lý giải. Đơn giản đấy mà lại phức tạp. Em buồn. Nỗi buồn hiện lên rõ ràng “Em thả bước chán chường.” Bước chân của nhân vật trữ tình có gì xót xa, hờn dỗi.
Vẫn là cái lối nhỏ ấy nhưng không còn là chia cách đôi bờ mà là “Gập ghềnh sỏi đá.” Con đường gập ghềnh sỏi đá hay trái tim em đang có những u buồn? Thật khó lý giải được những điều trái tim muốn nói. Em đang có những ngổn ngang lo toan. Em cũng bình thường như những người con gái khác cũng giận hờn, dằn dỗi…và có khi em cũng sợ, sợ một điều gì đó rất mơ hồ không gọi thành tên. “Lối nhỏ vương đầy cây xấu hổ/ Em sợ nó khép cánh.” Lá khép cánh hay cửa trái tim em đóng lại sau những đau buồn?
Em là vậy. Con người em, tính cách luôn hiện hữu, được giãi bày…em cũng biết yêu và khao khát được yêu.  Dư Thị Hoàn đã rất khéo léo khi lấy cái “Lối nhỏ” để diễn tả trạng thái cảm xúc của mình. Khi đau đớn tột cùng nhất cũng là lúc em gặp được hạnh phúc ngay trong đau khổ đó. Chẳng phải là như thế sao? Em đang tuyệt vọng vì sự cách ngăn, chia lìa thì ngay trong sự cách ngăn ấy em đã tìm được hạnh phúc. Dù là hạnh phúc mỏng manh, mơ hồ nhưng nó cũng là cái cớ để níu giữ trái tim đang yêu đa cảm vượt qua khó khăn.
Biết làm sao bây giờ
Chính lối này đưa em tới anh…”
Phải rồi chính lối này đã cho em được gặp anh, đã mang lại hạnh phúc cho em. Tình yêu thật nhiều cung bậc, thật khó có thể nói được khi nào thì người ta hạnh phúc, khi nào thì khổ đau. Bởi ngay khi khổ đau nhất lại là lúc ta gặp được hạnh phúc của riêng mình. Đấy chẳng phải là điều kỳ diệu sao?
Nguyễn Thị Thu Hà


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 3:06pm

LỐI HOA VÀNG (Trần Hoà Bình)


Thả một câu thơ về phía em mơ mộng
Có lẽ nó đã bay như lá về ngàn
Thả một lời thương về phía em vô vọng
Nó biệt tăm như cánh chim hoang
Anh đã đi qua những bờ bãi hoa vàng
Những đỉnh núi đá xanh và lau bạc
Giấc mơ yêu - trái tim rung lục lạc
Qua một bến bờ lại thấy bến bờ sau
Những giấc mơ nát nhàu
Những con chữ nảy mầm tí tách
Anh mang theo giữa đất trời nguyệt bạch
Chút kiêu hãnh này chứng giám có trời xanh!
Dẫu những câu thơ như phận lá về ngàn
Anh vẫn thả rợp một chiều dại dột
Trái tim yêu - vó ngựa hoang thảng thốt
Lục lạc rung theo những lối hoa vàng...
(Trần Hòa Bình)
___________________
Lượm lặt để trân trọng cảm hứng qua những vần thơ hay, nhiều lúc như một thứ bất chợt mách bảo. Lâu lâu rồi, tôi ít đọc thơ của người bạn - nhà báo - nhà thơ Trần Hoà Bình.
Ấy thế mà bất chợt (lại bất chợt !), giở tờ báo Gia đình & Xã hội số Tân xuân, tôi ngỡ ngàng xúc động trước thi phẩm Lối hoa vàng của Bình. Tôi lại ngộ ra: cái nghiệp báo chí - dạy báo và làm báo, chưa thể tắt lụi niềm say trong xúc cảm thi sĩ của Trần Hoà Bình. Ấy là khi người thơ nao lòng hướng về lối đẹp, lối tình rực rỡ: Lối hoa vàng.
1.- Trái tim thi sĩ của Trần Hoà Bình, giữa bao bộn bề lo toan của cuộc mưu sinh thường nhật, bỗng đột nhiên rùng mình giữa miền hoang lạnh nơi nhân thế. Rùng mình chạnh buồn mà nhận ra những lời thương tự hồn thơ mình, có lúc rơi vào phía "vô vọng" - vô vọng từ cõi đời, đã đành . Buồn hơn, vô vọng từ chính nơi mình gửi gấm niềm yêu thương. Nhà thơ dùng hai hình ảnh so sánh từ "lá về ngàn" và "cánh chim hoang" để giãi bầy nỗi buồn tan vỡ của những câu thơ mơ mộng, thoắt trở nên lạc lõng giữa dòng đời:
Thả một câu thơ về phía em mơ mộng
Có lẽ nó đã bay như lá về ngàn
Thả một lời thương về phía em vô vọng
Nó biệt tăm như cánh chim hoang
2- Mượn cái vô vàn rơi rụng của "lá về ngàn"; mượn hình ảnh cánh chim hồn nhiên và khờ khạo, vỗ mãi vào nơi hoang hoải, "biệt tăm", lời thơ mang tình ý của Trần Hoà Bình thật nhẹ và cũng thật êm lắng rơi vào cõi buồn từ tâm hồn nhạy cảm, đa tình muôn đời của thi sĩ cổ kim .
Nhà thơ của hôm nay, giữa cơn lốc hiện đại của cuộc sống mà nhận ra cái giá của đời, cái giá của nghệ thuật - thơ ca. Thì cứ đi trọn "giấc mơ yêu - trái tim rung lục lạc"; Thì cứ "đi qua bờ bãi hoa vàng", đi qua "những giấc mơ nhàu nát" dày vò day dứt tận đáy hồn mình mới có thể nhận ra niềm rạo rực của những hạt mầm sự sống, nhận ra "những con chữ nảy mầm tí tách". Đời đấy và cũng là thơ đấy!
Trần Hoà Bình đã tạo hình, tạo cảm từ những cảm quan trái ngược. Nhà thơ đem vẻ đẹp rực rỡ, sáng ấm của một không gian, một thế giới "những bờ bãi hoa vàng" để rồi buồn lòng mà nhận ra những điều đã mất giữa "giấc mơ nhầu nát"ngay giữa cuộc đời.
3-Xin hãy tiếp bay theo "Lối hoa vàng" của niềm hứng khởi - hứng khởi của khoảng khắc sáng tạo ngôn từ- vũ điệu huyền hoặc của thơ ca; hứng khởi của một đời đi tìm hương sắc- sắc hương của đời giao hoà cùng sắc hương tự lòng thi sĩ.
Xin thi nhân cứ đi tới miền yêu thương của lòng mình bằng trái tim dại dột và đắm say. Để thả hồn về "Lối hoa vàng"
Dẫu những câu thơ như phận lá về ngàn
Anh vẫn thả rợp một chiều dại dột
Trái tim yêu -vó ngựa hoang thảng thốt
Lục lạc rung theo những lối hoa vàng...
Hôm nay, viết thêm mấy dòng này khi sắp tròn năm Trần Hoà Bình ra đi... Bình ơi! Mong em mãi tiếp bay về "Lối hoa vàng"trong niềm đắm say bất tận...
---
Hà Nội, ngày 3- 8- 09
Trần Trung


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 3:14pm

TÀN LỬA (Vi Văn Chôồng)


Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
- Quay về đi thôi.

Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời.
Vi Văn Chôồng
______________________
HÀNH TRÌNH BẤT TẬN
Phê bình bài thơ “Tàn Lửa” của Vi Văn Chôồng
Trần Hoàng Hoàng
Thơ ca vốn không chứa chất trong mình quá nhiều chất truyện, có chăng kể chuyện để gợi một tầng nghĩa khác bởi thơ cốt gợi. Bài thơ “Tàn lửa’’ của Vi Văn Chôồng chứa trong mình cả một câu chuyện  - câu chuyện đốt đuốc đi đến nhà người yêu
TÀN LỬA

Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
- Quay về đi thôi.

Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời.
Đây là một phong tục phổ biến của các dân tộc miền núi đến nay vẫn còn được lưu truyền. Tuy nhiên, người đọc không phải ai cũng hiểu rõ phong tục mà quan trọng là theo dõi diễn biến câu chuyện. Nhà thơ đã rất khéo léo khi gài trong câu chuyện phong tục một hành trình đi tìm tình yêu - tượng trưng cho một khát khao; rồi mở ra chân trời để tâm hồn người đọc suy ngẫm cho cuộc hành trình tìm kiếm cho chính bản thân mình.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh một đuốc lửa lập loè trong đêm. Khổ thơ thứ nhất gợi một không khí thơ, thông báo tâm trạng nhân vật và cũng là thời điểm xuất phát của hành trình mở ra một khát khao đang ẩn giấu:

Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa

Thời gian được đo bằng đơn vị “đêm”: trọn một đêm, tròn hai đêm. Bản thân hai chữ trọn và tròn có nhiều nghĩa nhưng trong trường bài thơ chúng có hai nghĩa giống nhau là: xác định một thời điểm và đồng thời mang nghĩa hoàn thành một hành động.
Hết khổ thơ thứ nhất sang khổ thơ thứ hai là kết thúc hành trình đo bằng đơn vị toán học. Nơi cần tìm, nơi cần đến là đây: ngôi nhà người yêu – ngôi nhà hạnh phúc. Đuốc lửa vẫn ở trong tay và sáng hơn bao giờ hết nó như là tình cảm của chàng trai dành riêng cô gái. Bao hi vọng chất chứa, bao vất vả của một hành trình tìm kiếm sắp sửa được đền đáp nhưng:

Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
- Quay về đi thôi

Nhà thơ đã tạo được kịch tính của một bài thơ trong một khổ thơ. Chính kịch tính đó làm thay đổi tứ thơ, làm văn bản thơ không liên tục, chứa đựng những khoang trắng, đậm chất thơ, nơi thơ lặng đi, cái lặng tràn ngập cảm xúc và tư duy. Cảm xúc tràn ngập ngậm ngùi cho một sự thất vọng vì những lí do ngoại cảnh và đồng thời mở ra một cuộc hành trình mới bằng tâm tưởng. Cuộc hành trình này ắt hẳn dài hơn, chứa đựng nhiều mầm đau khổ hơn bởi sự chờ đợi luôn luôn là liều thuốc thử xác đáng nhất trong tình yêu.
Vẫn bằng âm hưởng ngậm ngùi của nhịp điệu thơ dội vào trong kết hợp với cấu trúc trùng điệp âm vận, nhà thơ diễn đạt thành công nội tâm qua những lời độc bach (monologique):
   
Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương

Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ lại lặp lại các câu thơ khiến chúng gần như cùng nghĩa và như vậy cảm giác thừa một khổ thơ, một điều không cần thiết. Bao giờ việc lặp lại như thế mục đích chính vẫn là nhấn mạnh. Ở đây là hoài niệm sâu lắng cho những phút giây đã qua và một niềm hi vọng mong manh mơ hồ cho tương lai.
Bài thơ được mở ra từ thời điểm đêm tối và giờ đây được khép lại bởi thời điểm buổi sáng - một vòng thời gian khép kín theo quy luật tự nhiên. Song song thời gian tự nhiên là khép lại cuộc hành trình tình yêu khi mà:
 
Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời

Người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”. Phải chăng câu chuyện tình dang dở mà nhà thơ Vi Văn Chôồng đã kể cũng nằm trong trường hợp trên? Dấu vết của tình yêu chỉ còn là những tàn lửa bay đi bốn phương trời. Dư âm, dư ảnh của một đốt lửa tình, của một hành trình không hết, nó vẫn vương vấn trong trái tim người một nỗi xót xa ngậm ngùi cho một cuộc tình dang dở.
Linh Đàm, 12-11-2006.


-------------


Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 4:13pm
SÓNG
                Xuân Quỳnh
 
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương 

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa.

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
 
29-19-1967.
----------------------------------------
Nếu như Xuân Diệu đã từng thổn thức vì tình yêu, dâng hiến trọn đời cho tình yêu, chạy vội với thời gian để được yêu thì Xuân Quỳnh cũng thế, cũng từng thấp thỏm, lo âu, đau khổ vì yêu. Nhưng dù sao đi nữa, là phận nữ nhi nên người rất ít tỏ ra táo bạo, quá mạnh dạn như Xuân Diệu. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thường bắt gặp hình ảnh con sóng, chiếc thuyền nói hộ tình yêu… Cũng vì lẽ ấy, suy cho cùng đây chỉ là những chất liệu dung dị, bình thường nhất trong cuộc sống song lại chứa đựng biết bao là ẩn ý, biết bao là ẩn tình mà Xuân Quỳnh muốn bày tỏ.
Chúng ta đã đến với “sóng” của Xuân Quỳnh để thưởng thức từng vị thương, vị nhớ của một người phụ nữ đang yêu.
Người ta thường ví rằng tình yêu là một bông hoa kì diệu! Vâng! Quả đúng như thế, tình yêu chưa bao giờ đi theo một hướng xác định. Cũng có lúc, người ta nhìn nhận tình yêu là cây đàn muôn điệu gảy lên muôn bản nhạc tình, có khi trầm bổng thiết tha, có khi nghẹn ngào đau đớn, cũng có khi e ấp, nũng nịu, dễ thương. Thì đây, trong bài thơ này, tình cảm của nhân vật "Em" cũng biến thiên như thế!
"Sóng" là thơ ngụ ngôn, một thể thơ rất phù hợp để kể về một huyền thoại tình yêu đầy ăm ắp những tâm trạng khắc khoải, những cung bậc tình cảm và vì thế bài thơ dễ dàng được phổ nhạc. Sóng! – là một hình tượng ẩn dụ, là phương tiện bộc lộ tình cảm của nhân vật "Em":

"Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
… Bồi hồi trong ngực trẻ"

Một câu chuyện cổ tích về tình yêu được nhà thơ Xuân Quỳnh kể lại. Câu chuyện bắt đầu từ một con sóng nhỏ chẳng biết xuất phát từ đâu, sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động. Hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn. Sóng chẳng hiểu tại sao mình lại cứ "dữ dội" rồi "dịu êm", "ồn ào" rồi "lặng lẽ". Phải chăng sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ? Vâng! Một tình cảm đang rạo rực trong trái tim người con gái, làm sao ai có thể "định nghĩa được tình yêu". Một buổi chiều mộng? Một lần gặp gỡ? Một phút
xao động trong tâm hồn ? Người con gái hay chính nhân vật “Em” trong bài đang cố tìm câu giải đáp cho tình yêu, cho sự bâng khuâng, đối lập của lòng mình. Và rồi chỉ còn một lối thoát: con sóng phải tìm ra tận bể cũng như "Em" đi tìm nguồn gốc của tình yêu.
Tâm hồn con người là một cõi mênh mông vô tận. Làm sao ta có thể đi xuyên suốt hết cái cõi vô tận ấy. Và ngay chính trong lúc cõi lòng đang bùng lên ngọn lửa yêu thương thì cô gái trẻ lại càng trăn trở, bâng khuâng, khắc khoải, dằn vặt với chính lòng mình. Phải vượt khỏi cái giới hạn chật hẹp này, phải lao mình vào chân trời bao la, những miền vô tận để hiểu rõ lòng mình. Con sóng đã rời bờ ra đi, đi thật xa, cố tìm hiểu và soi mình với những con sóng khác để biết được sự huyền diệu của tình yêu, mà hiện tại đối với sóng vẫn còn là một bí mật. Tình yêu là gì ư? Một nhà thơ Pháp đã từng khẳng định: “tình yêu là điều mà con người không thể hiểu nổi". Và thế rồi con sóng vẫn đi tìm mãi, tìm mãi:

"Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ"

Tình yêu cũng như con sóng, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Xuân Diệu đã từng nói:

"Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo
hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu"

Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ. Tuổi trẻ là trái tim dào dạt, đa cảm và rạo rực niềm yêu thương chất sống. Chính vì thế, mà cái khát vọng tình yêu cứ bồi hồi trong ngực trẻ, nó cứ thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lý yêu đương, cũng như con sóng “ngày xưa và ngày sau vẫn thế".Tuy nhiên, câu thơ "bồi hồi trong ngực trẻ " là một câu thơ chưa chín.Thật ra ngực trẻ hay ngực già… đều nồng nàn và bồi hồi trước tình yêu. Song, sóng và em cứ tìm mãi mà chẳng hiểu mình, chẳng thể hiểu được tình yêu. Sóng chính là điển hình của sự nhận thức về cái "quy luật" không thể cắt nghĩa được tình yêu:

"Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau".

Sóng bắt đầu từ gió – Vâng! Gió bắt đầu từ đâu? Tình yêu bắt đầu từ đâu? –“Em”cũng không biết nữa. Đọc những câu thơ này, ta chợt hình dung cái lắc đầu nhè nhẹ như một sự bất lực của cô gái. Trong khi người con gái cố đi tìm cội nguồn tình yêu thì tình yêu trở thành trò chơi ú tim, không tài nào nắm bắt được. Và thế là, muôn đời tình yêu vẫn là sự bí hiểm .Tình yêu của "Em" giờ đây trở thành nỗi nhớ da diết, giày vò. Nó choáng đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian. Phạm Đình An đã nhận xét: "Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ yêu buổi đầu giản đơn hò hẹn, non nớt, ngọt ngào, mà là tình yêu hạnh phúc, tình yêu gắn bó với cuộc sống chung với nhiều đòi hỏi ở chiều sâu tình cảm, với nhiều chứng minh của thử thách, mang đậm dấu ấn trách nhiệm”. Chính vì thế mà tình yêu của người "Em". Ở đây có thể nói không còn bồng bột mà khá chín chắn, có sự can thiệp của lý trí, có ý thức về mặt tình cảm. Ấy thế mà trong lòng người con gái vẫn trỗi dậy mãnh liệt một nỗi nhớ muôn hình, muôn sắc:

"Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”

Nỗi nhớ của "Em", của tình yêu dữ dội được khởi đầu từ những cái cao cả lớn lao, không tủn ngủn và tầm thường chút nào! Nỗi nhớ ấy da diết, cuốn lấy tâm hồn người con gái! Với Xuân Quỳnh là thế: mọi con sóng đều có bờ, mục đích là vỗ vào bờ, nên khi sóng xa bờ thì phải nhớ bờ, ngày đêm không ngủ được. Cũng như sóng, nỗi nhớ về “Anh” vẫn dào lên mãnh liệt:

"Lòng em nhớ đến – Anh
Cả trong mơ còn thức"
Tình yêu đến, tình yêu mang theo một nỗi nhớ vô bờ đến với “Em”, choáng ngợp tâm hồn “Em”. Tình yêu đã trở nên đậm đà đến thế, và nỗi nhớ lại càng da diết miên man. "Có không gian nào dài hơn chiều dài nỗi nhớ, có một khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình yêu…". Vâng! Làm sao đo được nỗi nhớ, làm sao đo được tình yêu! "Em"vẫn nhớ đến “Anh”, chỉ nhớ về phương anh mà thôi:

"Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương".

Tình yêu thật huyền diệu! Điều đáng nói là "Em" biết chủ động, biết gửi trao nỗi nhớ về hướng xác định: Phương anh! – Phương của tình yêu: "rợp trời thương ấy mấy màu xanh suốt, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh…". Tình yêu của người phụ nữ thật mãnh liệt nhưng cũng thật trong sáng, dung dị, một tình yêu thuỷ chung và trọn vẹn. Song, để toàn vẹn mối tình ấy, con sóng phải vượt qua muôn ngàn cách trở:

"Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở"

Con sóng muốn tới bờ, phải vượt qua bao giông tố, bão bùng. Em muốn hướng về anh, phải vượt qua bao cạm bẫy cuộc đời. Suy cho cùng, tình yêu phải cần thử thách tôi luyện mới thấy rõ giá trị thực sự của nó. Tình yêu muốn tồn tại cũng phải có sự ra đi và trở lại, phải có sự dồi lên, lắng xuống để cuối cùng trở về với tình yêu hồn nhiên thuở đầu. Chính tình yêu của anh đã giúp cho em vượt qua tất cả, đón nhận một tình yêu vĩnh cửu – tình yêu lớn lao và cao thượng, không mang màu sắc vị kỉ, riêng rẽ mà là hoà trong cái chung và ở trong cái chung mênhmông ấy, cái riêng sẽ tồn tại mãi mãi:

"Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ"

Tình yêu sẽ trưởng thành đằm thắm hơn và sẽ vĩnh hằng trong cái đẹp của tạo hoá. Bài thơ kết thúc rồi mà nhịp điệu êm ái, nhẹ nhàng của tình yêu vẫn còn vướng đọng đâu đây. Bài thơ thành công không chỉ trong việc miêu tả hình tượng " Sóng" mà còn bộc lộ một tình yêu thật sôi nổi, nỗi khao khát tình yêu của một nhà thơ nữ. Đây chính là nét mới mẻ trong thơ ca hiện đại Việt nam. Trong rất nhiều loài hoa thì bông hoa Xuân Quỳnh tỏa ra một hương thơm riêng, một cách cảm nhận riêng về sóng – biển trong tình yêu. Tình yêu như con sóng mênh mang, vô tận, song cái đích cuối cùng cũng là một tình yêu thứ nhất, vĩnh hằng mãi mãi.


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 4:28pm
Nói cùng anh
                                 Xuân Quỳnh
 
Em vẫn biết đấy là điều đã cũ
Chuyện tình yêu, quan trọng gì đâu:
Sự gắn bó giữa hai người xa lạ
Nỗi vui buồn đem chia sẻ cùng nhau

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn
Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi
Niềm đau đớn tưởng như vô tận
Bỗng có ngày thay thế một niềm vui

Ðiều hôm nay ta nói, ngày mai
Người khác lại nói lời yêu thuở trước
Ðời sống chẳng vô cùng, em biết
Và câu thơ đâu còn mãi ngày sau

Chẳng có gì quan trọng lắm đâu
Như không khí, như màu xanh lá cỏ
Nhiều đến mức tưởng như chẳng có
Trước cuộc đời rộng lớn mênh mang

Nhưng lúc này anh ở bên em
Niềm vui sướng trong ta là có thật
Như chiếc áo trên tường, như trang sách
Như chùm hoa mở cánh trước hiên nhà

Em hiểu rằng mỗi lúc đi xa
Tình anh đối với em là xứ sở
Là bóng rợp trên con đường nắng lửa
Trái cây thơm trên miền đất khô cằn

Ðó Tình yêu, em muốn nói cùng anh
Nguồn gốc của muôn ngàn khát vọng
Lòng tốt để duy trì sự sống
Cho con người thực sự Người hơn.
 
------------------------------------------
Nỗi buồn trong thơ tình yêu Xuân Quỳnh

Cái chết bởi tai nạn thương tâm đã mang Xuân Quỳnh đi mãi mãi khỏi chốn trần ai nhưng Xuân Quỳnh còn để lại một sao băng chói sáng trên nền thơ Việt Nam hiện đại. Người đàn bà tài hoa nhưng không hề may mắn trong đời riêng- lận đận hai lần đò- lấy chồng lần thứ hai, lấy Lưu Quang Vũ, đã “vắt kiệt tâm hồn mình” để lại cho đời mảng thơ tình yêu vô cùng ấn tượng…

Cả cuộc đời Xuân Quỳnh có những nỗi buồn đau: mồ côi mẹ từ nhỏ, gặp bất trắc trong tình yêu và hôn nhân. Những nỗi đau buồn ấy cùng với những dư vị cay đắng ở đời đã thấm đẫm vào trong từng trang thơ của chị…Vì thế, trong thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có sự song hành của những cặp phạm trù đối lập, của mọi sắc màu và giai điệu của tình yêu: hạnh phúc và sự khổ đau, niềm hy vọng và sự mất mác chia lìa…Bên cạnh sự mơ mộng, sôi nổi..thơ chị còn là những trăn trở về cuộc đời, về tình yêu và sự chia xa…Nhiều lúc giọng thơ như nghẹn lại vì lòng chị còn vướng bận bao điều âu lo khác: Em lo âu trước xa tắp đường mình. Trái tim đập những điều không thể nói- (Tự hát); Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn, Hôm nay yêu mai có thể xa rồi- (Nói cùng anh); Lời yêu mỏng manh như màu khói, Ai biết lòng anh có đổi thay- (Hoa cỏ may)…

Tâm hồn Xuân Quỳnh luôn luôn xáo trộn. Sự yên tĩnh chẳng được bao lâu, tâm hồn ấy cũng nghiêng ngả như những vần thơ chơi vơi của chị: Em từ nhà đi đến ngã tư, Gặp đèn đỏ trước hàng đinh thứ nhất. Chờ sang đường- đèn xanh vừa bật. Em lại quay về. Thành phố mùa đông-(Trời trở rét). Đắng cay, chia lìa, đổ vỡ…như điệp khúc trong bản tình ca buồn về cuộc đời và  thơ ca của chị. Hạnh phúc như tan biến hoặc dẫu  có nhìn thấy nhưng hạnh phúc còn ở mãi xa xôi vượt khỏi tầm tay . Nhiều vần thơ là nỗi đau giằng xé tâm hồn, nỗi đau ấy hạnh hạ nhà thơ từng phúc giây thực tại: Mấy năm rồi thơ em buồn hơn, Áo em rộng, lòng em tan nát- (Không đề)...

Trong thơ Xuân Quỳnh, biết bao lần trào lên nỗi cô đơn- cái điều mà chị lo sợ nhất. Nhân vật trữ tình thường đứng một mình trước biển, một mình trên sân ga với nỗi buồn và sự cô đơn choáng ngợp: Vừa thoáng tiếng con tàu. Lòng đã Nam đã Bắc- (Sân ga chiều em đi)...

Cả cuộc đời Xuân Quỳnh luôn sống bằng tình yêu, làm thơ nhờ tình yêu, sung sướng trong tình yêu và khổ đau cùng cực cũng vì tình yêu hành hạ: Tôi có một tình yêu rất sâu. Rất dữ dội nhưng không bao giờ yêu được hết. Ở các cô, các cô âm thầm chịu đựng. Còn ở tôi, tôi mang nó nặng nề...Ôi con trai thật là kì lạ. Tôi yêu tất cả mọi người mà chẳng yêu được riêng ai- (Thơ viết cho mình và những người con gái khác). Và khi nhìn vào trong cõi lòng, không thể kìm nén được Xuân Quỳnh đã bật lên tiếng nấc cô đơn. Chị thương mình vì cảm thấy đôi lúc bị bỏ rơi và bất lực: Gọi ngàn lần tên anh vẫn là không. Chỉ gió thổi mây bay về phía núi. Điều thương nhớ ngàn lần em muốn nói. Nhưng bây giờ chỉ có sóng và em- (Chỉ có sóng và em). Đâu phải là sự tình cờ mà trong thơ Xuân Quỳnh ý thức về thời gian luôn luôn là nỗi khắc khỏai niềm day dứt không thể nguôi ngoai. Chính điều ấy đã góp phần tạo nên một giọng điệu khá đặc sắc trong những bài thơ viết về tình yêu của chị. Không một lúc nào, nỗi ám ảnh về thời gian vận động không ngừng buông tha chị: Dù cùng một thời gian, cùng một không gian. Ngoài cánh cửa với em là quá khứ- (Thời gian trắng).  Xuân Quỳnh đã nói lên được tiếng lòng mình và đó là một nỗi lòng muôn thưở của người phụ nữ khi yêu. Ngay trước một cảnh rất thường: Cuối trời mây trắng bay. Lá vàng thưa thớt quá- (Thơ tình cuối mùa thu)... Song lời thơ cứ như một tiếng thở dài bất chợt như một niềm thảng thốt của một tâm hồn đầy xao động.

Chính những đắng cay trong cuộc sống hàng ngày đã khiến cho Xuân Quỳnh nhìn đời không như trước nữa. Tình yêu ngọt ngào và sâu lắng nhưng chị nào biết đâu lời nào thật, giả của người mình yêu. Vẫn con đường, vạt cỏ tuổi mười lăm. Mặt hồ rộng gió đùa qua kẽ lá. Lời tình tự trăm lần trên ghế đã. Biết lời nào giả dối với lời yêu- (Thơ tình cho bạn trẻ). Và nỗi buồn vì chia xa như một điệp khúc buồn cứ vang vọng mãi trong thơ của chị: Thị trấn nào anh đến chiều nay. Mảnh tường trắng mùa đông giá rét. Dẫu em biết không phải là vĩnh biệt. Vẫn thấy lòng da diết lúc chia xa- (Dẫu em biết chắc rằng anh trở lại). Càng về cuối, thơ tình của Xuân Quỳnh càng khắc khoải nung đốt lòng người bởi nó thấm đẫm những cay đắng cuộc đời. Chất lý tinh đã hòa quyện vào trong những bài thơ tình yêu nhưng chẳng làm giảm bớt đi vẻ đẹp đẫm tình của thơ Xuân Quỳnh vốn có từ trước đó: Đấy tình yêu em muốn nói cùng anh. Nguồn gốc của muôn vàn khát vọng. Lòng tốt để duy trì sự sống. Cho con người thực sự Người hơn- (Nói cùng anh);  Em trở về đúng nghiã trái tim em. Biết khao khát những điều anh mơ ước. Biết xúc động qua nhiều nhận thức. Biết yêu anh và biết được anh yêu- (Tự hát).

Đâu phải vô cớ mà trong thơ Xuân Quỳnh sử dụng rất nhiều từ chỉ tâm trạng. Sự cô đơn, cay đắng đau đớn, nỗi nhớ thương, và về cuối là  bệnh tật… như phủ kín trên từng trang thơ của chị. Người đọc hôm nay sẽ cảm mến hơn, trân trọng hơn khi đọc lại những bài thơ chị viết về tâm trạng của mình trong những ngày tháng đó: Trái tim này chẳng còn có ích. Cho anh yêu cho công việc bạn bè. Khi cuộc đời trôi chảy ngòai kia. Thời gian trắng vẫn ngừng trong bệnh viện. Chăn màn trắng, nỗi lo và cái chết. Ngày với đêm có phân biệt gì đâu- (Thời gian trắng)...

Xuân Quỳnh đã đột ngột từ giã chúng ta ra đi vĩnh viễn cùng với chồng và con qua một tai nạn thương tâm, để lại biết bao thương tiếc cho tất cả những ai yêu thơ chị, yêu kịch Lưu Quang Vũ. Thế nhưng chính sự kết thúc ấy đã khiến cho tình yêu mà chị tôn thờ trở thành bất tử, đã là cho Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh dường như càng đẹp ngời thêm lên bởi một vừng sáng kì diệu của huyền thoại …  



-------------


Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 5:47pm

Lời thề cỏ may - Phạm Công Trứ

Làm sao quên được tuổi thơ
Tuổi vàng, tuổi ngọc - Tôi ngờ lời ai
Thuở ấy tôi mới lên mười
Còn em lên bảy theo tôi cả ngày
Quần em dệt kín bông may
Aó tôi đứt cúc, mực dây tím bầm
Tuổi thơ chân đất đầu trần
Từ trong lấm láp em thầm lớn lên
Bây giờ xinh đẹp là em
Em ra thành phố dần quên một thời
Về quê ăn tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò
Gặp tôi em hỏi hững hờ:
"Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai"
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may.

 

Người trai trong bài thơ này có một lời thề kì dị, lạ lùng : Thề cỏ May. Người ta thề non nước, thề miếu, thề đền, thề trăng sao, sông biển :

Phải chi miếu ở gần sông

Em thề một tiếng kẻo lòng anh nghi

(Ca dao)

Trăng thề còn đó trơ trơ

Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng

(Nguyễn Du)

          Vẫn biết rằng có bao nhiêu tình yêu thì có bấy nhiêu cách thề nguyền. Nhưng có lẽ không phải vì muốn độc đáo, khác người mà đem lời nguyền thề với cỏ may. Cỏ may, một thứ cỏ đồng quê gắn liền với tuổi thơ đầu trần chân đất. Cỏ may từng chứng kiến bao nỗi buồn niềm vui thơ ngây :

Sợi dây đứt cánh diều bay mất

Ta một mình ngồi khóc với cỏ may

          Đã bao lần nước mắt đẫm cỏ may, nên lời thề thiêng liêng ấy gắn với cỏ may cũng là điều dễ hiểu. Để ý xem kỹ, không thấy nói lời thề cỏ may được bắt đầu từ khi nào. Nó được nguyền "đinh ninh đôi miệng một lời song song " cạnh giếng đá trăng vàng, hay khắc cốt ghi lòng cạnh ngõ nhỏ "xanh xanh bờ dậu cúc tần. Thoảng hương bồ kết thơm gần thơm xa ". Không rõ. Nhưng có phần chắc lời thề được ghi tạc như một tất yếu sau quãng tuổi thơ, sau những ngày họ vô tư quấn quýt bên nhau và cùng nhau lớn lên thầm lặng.

          Thời gian đã ban phép màu nhiệm, biến một cô bé lên bảy quần "dệt kín bông may" hôm nào trở thành một cô gái xinh đẹp, ăn mặc thật "mốt" của hôm nay.

Bây giờ xinh đẹp là em

Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò

          Thời gian đã làm cho cô xinh thêm,đẹp thêm, hiện đại thêm, nhưng cũng thêm cho cô một sự quên lãng. Chưa đến mức quên sạch sành sanh. Khi gặp lại người bạn trai cô vẫn còn nhận ra anh, chứ không như người con gái trong ca dao "Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào". Nhưng ta hãy xem cô cư xử :

Gặp tôi em hỏi hững hờ

Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai

Em đi để lại chuỗi cười

          Hỏi "hững hờ" đã rất đáng trách. Hỏi "chờ đợi ai" lại càng đáng trách hơn. Lại còn cười nữa chứ ! "một chuỗi cười ". Tiếng cười không dứt của cô, và rất có thể cộng với những tiếng cười của dân làng mà cô khơi gợi đã làm cho anh choáng váng. Cứ như cô là người dưng, người ngoài cuộc. Cứ như cô là người chẳng liên quan đến lời thề cỏ may ngày nào. Cứ như người trung thành với lời thề, chờ đợi cô đến nỗi muộn màng là người vớ vẩn, làm một chuyện nực cười !

          Có lẽ có nhiều trường hợp phản bội tình yêu, nhưng sự phản bội cố ý mà khoác cái áo vô tình như cô gái này thì thật là kinh khủng.

          Bao nhiêu ấp ủ, bao nhiêu chờ đợi, bao nhiêu hy vọng và mơ mộng của chàng trai cùng với "lời thề cỏ may" thiêng liêng nhưng quá mong manh kia bây giờ tan vụn ra. Cái áo chẽn, cái quần bò ai ngờ có thể đẻ ra sự hững hờ. Sự lạnh nhạt cùng với chuỗi cười tàn bạo đã như một quả bom nổ tung "khoảng trời pha lê". Chớ nên hiểu rằng chỉ vì mất cô mà trong anh có sự đổ vỡ lớn lao như vậy. Anh mất cô, có đau xót, có nuối tiếc thật nhưng sự mất mát của anh lớn hơn rất nhiều so với một cô gái, một con người cụ thể. Đây đâu phải là chuyện bội tình. Đây là sự phản bội "tuổi vàng tuổi ngọc", phản bội cả "một thời " đã sống. Đổ vỡ lớn nhưng đâu còn thơ ngây như ngày nào mất cánh diều giấy, nên anh chẳng thể "ngồi khóc với cỏ may". Không một tiếng cầu xin, không một lời than thở, một chút oán giận cũng không nốt, chàng trai tự mình giải lời thề :

Trăng vàng đêm ấy bờ đê

Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may

          Anh tự thuật về mình mà cứ như viết về ai, về một chàng trai nào đó. Phải chăng vì đã 8 lần xưng tôi ở trên nên bây giờ tác giả không thể viết "tôi ngồi lặng gỡ lời thề cỏ may"? Phải chăng đây chỉ đơn thuần là một thủ pháp làm duyên như tác giả đã dùng trong bài "Quê" :

Trăng vàng giếng đá đêm sau

Có đôi đầu chụm vào nhau thầm thì.

          Có lẽ "tôi"-  con người cả tin chân thành và trong trắng ấy đã chết cùng với khoảng trời pha lê vỡ, cho nên phải viết "có người" như thế ? Tôi nghiêng về giả định sau và cho rằng câu thơ ấy là khả năng tối ưu trong hàng loạt khả năng.

          Ngược dòng thời gian quãng trên dưới thế kỷ, ta sẽ được chứng kiến sự đổi cách ăn mặc của phái đẹp trong thơ. Nguyễn Bính trong bài thơ "Chân quê" đã ghi lại hết sức cụ thể về sự thay đổi đó. Nào cái yếm lụa sồi, cái dây lưng đũi, nào cái áo tứ thân, nào cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen. Tất cả đều bị thay thế bởi "khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng" và " áo cài khuy bấm". Thế mà mới quãng thời gian chưa xa, những thứ "tân thời" của cô gái trong thơ Nguyễn Bính đã chỉ còn như là cổ vật chỉ thấy nói trong sách vở  và bày trong viện bảo tàng. Đã bao lần đổi thay để đến cách ăn mặc "áo chẽn, quần bò " như trong bài thơ này ? Khác với người đồng hương lớn tuổi, tác giả Phạm Công Trứ không dám đòi cô bạn "giữ nguyên quê mùa" trong cách ăn mặc. Anh biết khi mà Việt Nam đang hoà nhập vào cộng đồng thế giới một cách toàn diện thì đòi hỏi như thế là không tưởng. Anh chấp nhận áo chẽn, quần bò. Và hình như anh còn tự hào vì nó thì phải. Anh chỉ muốn một điều này thôi : dù có áo chẽn , quần bò hay ăn mặc tối tân gì gì đi nữa, thì xin đừng quên những gì thiêng liêng mà mình đã có, xin đừng quên những trăng vàng, đường cỏ, bờ đê, xin đừng quên lời thề một thời đã sống. Với một ý tưởng như vậy "lời thề cỏ may" vượt ra khỏi câu chuyện tình của một người, trở thành chuyện của nhiều người, của nhiều thời. Chúng ta đang đổi mới toàn diện, đổi mới triệt để "Nhật nhật tân, hựu nhật tân", trong đó chắc chắn có sự đổi mới về ăn mặc. Mốt áo chẽn quần bò chẳng mấy lúc mà cũ càng. Nhưng tinh thần, cái hồn của "Lời thề cỏ may" chắc không bao giờ xưa cũ.

 






Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 5:56pm

ĐÁM CỎ XANH
         LÊ THỊ MÂY


Đây đám cỏ nơi ngã ba
Em buồn nhiều, có biết là anh đợi
Nỡ nào bứt cọng cỏ xanh
Em đau chợt trút cho thành đau cây
Quá giờ hẹn ai qua đây
Cỏ gầy cũng ngóng từng giây nhận người
Em buồn nhiều, cỏ bớt tươi
Đêm tối lắm, chỉ sao cười yêu nhau
Anh lỡ hẹn, gió về đâu
Nỡ nào bứt cỏ cho nhàu ban mai
Em buồn nhiều, cỏ khóc ai
Giọt sương ấy có đất đai nhận rồi
Lỡ hẹn bóng không còn đôi
Em như con dế không rời cỏ xanh.

Lời bình của Vũ Nho
Các cô gái trong tình yêu thường hay "làm điệu con gái" bằng cách bắt các chàng trai phải chờ đợi mình trong buổi hẹn từ năm phút cho tới hơn... nửa giờ. Cô gái trong bài thơ này dễ mến, có được cảm tình ngay, vì cô hồn nhiên và chân thành. Cô không cần dùng thuật tâm lý, mà đến nơi hẹn hò ít ra là cũng đúng giờ, cho nên mới phải đợi chờ và mong ngóng.
Khi có điều bối rối, những người bạn gái hay vô tình bứt một lá cây hay một nhành cỏ. Cô gái không nỡ và không muốn làm cỏ đau vì nỗi buồn của mình. Nỗi buồn ấy, không rõ vì đợi người yêu mà anh không tới đúng hẹn, hay còn vì trong đời sống tình cảm đã có dấu hiệu của sự tan vỡ, mất mát.
Quá giờ hẹn ai qua đây
Cỏ gầy cũng ngóng từng giây nhận người
Em buồn nhiều, cỏ bớt tươi
Đêm tối lắm, chỉ sao cười yêu nhau.
Vậy là cỏ không chỉ đóng vai trò ng¬ời làm chứng mà cỏ cũng là người trong cuộc. Ngã ba chờ đợi bây giờ không phải chỉ có một người ngóng trông.
Cỏ gầy cũng ngóng từng giây nhận người
Không thấy cô gái mà chỉ thấy cỏ. Cỏ ở đây hiện ra rõ rệt hơn cả về hình thể lẫn màu sắc. Ở khổ thơ thứ nhất là "cọng cỏ xanh" thì ở khổ thơ này là "cỏ gầy", "cỏ bớt tươi". Thời gian chờ đợi thật khắc khoải : "ngóng từng giây". Người yêu đương xưa đã từng nếm trải "ba thu dọn lại một ngày...".
Còn nơi đây "một giây" cũng đã được dồn vào bao nhiêu đằng đẵng sau chữ "cũng". Cô cũng ngóng từng giây với cỏ. Cô lẫn vào trong cỏ. Và do đó cứ muốn ngỡ rằng, cô không chỉ buồn nhiều, mà cô cũng hao gầy, cũng bớt tươi như cỏ vì ngóng trông, vì đã "quá giờ hẹn" mà người chưa thấy tới. Cảnh được nói trong câu thơ "Đêm tối lắm, chỉ sao cười yêu nhau" có vẻ như mâu thuẫn nhưng lại rất đúng về tâm trạng. Đêm sáng sao, các vì sao lấp lánh như đang mỉm cười, đang âu yếm nhau. Nhưng với cỏ, với cô gái thì sao xa quá nên đêm tối. Hơn nữa bởi không một tia hy vọng, một dấu hiệu nào đảm bảo sự sẽ có mặt của người hò hẹn. Vì thế đêm có sao mà lại là đêm tối lắm, trong mắt người chờ mong.
Anh lỡ hẹn, gió về đâu
Vì sao sự lỡ hẹn của anh lại đi liền với câu hỏi về hướng bay của gió ? Phải rằng muốn hỏi gió lang thang, may ra gió biết anh ở đâu và vì sao anh lỡ hẹn ? Có thể là vậy. Nhưng câu hỏi lại không hỏi về điều ấy. Khi "quá giờ hẹn" thì vẫn còn hy vọng mong manh anh sẽ đến. Còn khi quá giờ hẹn vượt xa mức cho phép, đã có thể tin chắc là lỡ hẹn một trăm phần trăm thì người chờ đợi thất vọng hoàn toàn. Trong trạng thái ấy xuất hiện nhu cầu giao tiếp. Cần phải được trò chuyện, được hỏi han, được chia sẻ. Phải vì thế chăng mà có câu hỏi như là một sự thảng thốt "gió về đâu ". Một câu hỏi chỉ để hỏi, để được hỏi, được trò chuyện, chứ không nhằm mục đích để hiểu biết.
Nỡ nào bứt cỏ cho nhàu ban mai
Khi tuyệt vọng người ta cũng dễ giận cá chém thớt, dễ phá phách. Nhưng cô gái mới hiền làm sao, mới nhân hậu làm sao. Cô không nỡ làm cỏ đau. Cô không nỡ bứt cỏ vì sợ nhàu ban mai. Có người cứ vào chữ "ban mai" mà cho rằng cô gái đã đợi đến tận sáng.
Không nên quên rằng nhà thơ có thể thậm xưng, có thể nói quá mà người đọc vẫn tin vì đôi khi cảnh không thực, thời gian không xác thực nhưng tình là thực. Tuy nhiên, cũng không nên hiểu rành mạch như thế. Chị biết rằng cô gái không muốn trút nỗi niềm riêng của mình sang cỏ cây, không muốn vì thế mà làm nhàu ban mai - một ban mai trong trẻo hồn nhiên như tâm hồn cô.
Em buồn nhiều, cỏ khóc ai
Cỏ như thấu hiểu nỗi lòng, cỏ như hoá thân vào cô mà rơi nước mắt. Khóc ai ? Thật là dễ xác định, nhưng lại không nên xác định : Ai là anh, nhưng ai cũng là em. Và đâu chỉ có cỏ khóc vì không phải chỉ có mình cỏ "ngóng từng giây nhận người". Có điều nước mắt của cỏ nhìn thấy được trong giọt sương ấy đã có đất đai nhận rồi. Còn nước mắt của em, nước mắt chảy vào trong tim không nhìn thấy thì ai nhận cho, ai có thấu cho.
Lỡ hẹn bóng không còn đôi
Em như con dế không rời cỏ xanh
Câu thơ sáu chữ nói một điều hiển nhiên, nhưng hãy chú ý đến chữ "bóng". Bóng không còn đôi chứ không phải là em. Tất nhiên, có em thì mới có bóng. Nhưng người con gái khiêm tốn này như muốn xoá mình đi, ẩn mình đi trong khung cảnh chờ đợi. Còn khi em hiện ra đằng sau chiếc bóng lẻ kia thì lại là một em khác, một em "như con dế" níu lấy cỏ, bám vào cỏ. Ta bỗng nhớ đến mô típ truyện cổ dân gian rất phổ biến về sự chờ đợi hoá đá của bao người vọng phu.
Câu thơ "Em như con dế không rời cỏ xanh" nghe thật là hiền lành nhưng nghĩ kĩ thì thật là dữ dội. Chờ đợi như thế, cô đơn như thế cũng là hết mực. Con dế nhỏ bé đơn chiếc lẫn vào với cỏ được ví với người con gái cô đơn níu vào cỏ, dựa vào cỏ để có điểm dựa tinh thần - sự so sánh có sức gợi cảm hơn bất kỳ một hình thức khoa trương nào. Nó rất hợp với điệu tâm hồn cô gái, con người dịu dàng e ấp không nỡ làm đau, dù chỉ là một ngọn cỏ, một mầm cây. Nó phù hợp với những câu thơ ngập ngừng một nửa hướng ngoại, một nửa hướng nội, mà phần hướng nội lại mạnh hơn.
Nhiều nhà thơ hiện đại Việt Nam đã từng viết về cỏ rất hay, rất tinh tế, nhưng "Đám cỏ xanh" của Lê Thị Mây khác hẳn những bài thơ cỏ, khác hẳn những vuông cỏ, bờ cỏ, thảm cỏ, cọng cỏ, sợi cỏ, ngọn cỏ... mà các thi sĩ khác đã viết.



Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 6:11pm

HÒ HẸN MÃI CUỐI CÙNG EM CŨNG ĐẾN

                                                  Hoàng Nhuận Cầm

 

    Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến

    Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi

    Còn sót lại bên bàn bông cúc tím

    Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi

 

    Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng tới

    Nh­ư cánh chim trong mắt của chân trời

    Ta đã chán lời vu vơ giả dối

    Hót lên! Dù đau xót một lần thôi

 

    Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói

    Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ

    Anh sợ hãi, bây giờ anh mới nhớ

    Em hay là cơn bão tự ngàn xa.

   

    Quả tim anh nh­ư căn nhà bé nhỏ

    Gió em vào- nếu chán- gió lại ra

 

    Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó

    Dẫu mùa thu, hoa cúc c­ướp anh rồi...

 

Lời bình của Vũ Nho

Hẹn hò là đã có tình ý với nhau. Gặp gỡ trong hẹn hò là để khởi đầu cho một quá trình gắn bó. Cuộc tình nào mà chẳng phải trải qua b­ước hẹn hò. Điều khác th­ường ở đây là cuộc hẹn này cứ lần lữa kéo dài, cứ hoãn đi hoãn lại. Nó không giống với cuộc hẹn lỡ một lần để mùa xuân cũng cạn ngày nh­ư trong M­ưa xuân của Nguyễn Bính. Hò hẹn mãi nghĩa là chí ít cũng dăm bảy bận. Đến nỗi đã có thể quên, vĩnh viễn quên nếu không có cái lần cuối cùng em cũng đến. Cái từ cũng ở đây không thể thay thế bằng từ mới, hay đã chẳng hạn. Bởi vì nó là sự kịp thời đến sau cái giới hạn "cuối cùng" nghiệt ngã.

Không rõ cuộc hẹn hò bắt đầu từ bao giờ, nh­ưng thời điểm "cuối cùng" mà em đến là thời điểm lỡ mùa. Mùa thu vừa mới đi rồi. Sự đến của em không kịp với sự ra đi của mùa thu. Chỉ còn một chút hình ảnh sót lại của mùa thu, nh­ư một chứng tích về mùa thu đã ở trong căn phòng này, đã cùng chờ cuộc hò hẹn ấy. Nh­ưng bông hoa cúc ấy cũng đã úa tàn, héo hon vì chờ đợi:

    Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi.

Ng­ười chủ căn phòng cũng đã cùng với bông hoa chờ đợi nên mới tẩn mẩn đếm kĩ cánh hoa tàn và biết cả cái trạng thái "sắp sửa rơi".

Mới hò hẹn thôi, đã có gì sâu nặng đâu. Thế nh­ưng mỏi mòn chờ đợi đã làm cho chàng trai dằn dỗi:

    Ta đã chán lời vu vơ giả dối

    Hót lên! Dù đau xót một lần thôi

Thật ra khó mà xác định ai là ng­ười nói lời vu vơ, giả dối. Lời hò hẹn mãi kia nhàm chán thành ra lời vu vơ giả dối chăng? Cô gái cứ lần lữa hẹn mà không đến thành ra lời thiêng liêng bỗng hóa trò đùa chăng? Sự vòng vo ngập ngừng mãi qua những lần hẹn không thành của chàng trai chăng? Chỉ biết là lần này phải dứt khoát, phải là hai năm rõ m­ười. Có vẻ nh­ư không khí của đôi trai gái x­ưa trong ca dao: "Có yêu thì nói rằng yêu. Không yêu thì nói một điều cho xong".

Thế nh­ưng không thể ngờ tình huống lại đảo ng­ược nh­ư vậy. Hò hẹn mãi, em cũng đến vào thời điểm cuối cùng. Chần chừ mãi, em cũng nói vào thời điểm cuối cùng. Mà là một cách nói hình t­ượng:

    Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ

Thế là bao nhiêu dằn dỗi, quyết liệt kia bỗng đ­ược hóa giải. Không những thế, đang từ thế chủ động lại chuyển thành thế bị động, đang mạnh dạn bỗng thành sợ hãi, dù mới là một dự cảm khi nghe câu nói mà chợt nhớ ra:

    Anh sợ hãi, bây giờ anh mới nhớ

    Em hay là cơn bão tự ngàn xa.

Nh­ưng bão thì cũng chỉ là gió lớn mà thôi. Cho nên không phải sợ hãi nhiều. Chàng trai đã đủ bình tĩnh để mời mọc:

    Quả tim anh nh­ư căn nhà bé nhỏ

    Gió em vào- nếu chán- gió lại ra

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Em đã v­ượt qua đ­ược quan niệm bồ câu không chết trẻ để bây giờ Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó. Cơn bão liệu còn khả năng nổi gió đ­ược không khi mùa thu đã đi rồi? Những cơn gió mạnh liệu có vào căn nhà quả tim bé nhỏ mở rộng cửa đón mời? Và chàng trai, sau bao nhiêu chờ đợi, cái phút giây gặp gỡ này cũng đã muộn, là quá muộn "Mùa thu hoa cúc c­ướp anh rồi"! Có thể c­ướp lại đ­ược anh từ mùa thu và hoa cúc chăng? Có thể c­ướp lại. Nh­ưng có thể chăng c­ướp lại đ­ược mùa thu khi mùa thu đã ra đi? Có thể chăng c­ướp lại, làm t­ươi lại bông hoa cúc" Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi"?...Khả năng thật mong manh, nh­ưng ch­ưa phải là hết khả năng. Tình thế ch­ưa phải là tuyệt vọng, nh­ưng cũng gần tuyệt vọng. Câu hỏi còn để ngỏ cho cả hai ng­ười.

    Nh­ưng bài học về sự hò hẹn mãi cuối cùng...thì trở thành một bài học cho lứa đôi muôn thuở.

                                                   

                                                                     Hà Nội 10/2005



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 7:31pm
THỜI HOA ĐỎ VÀ TRÁI TIM "CHÀNG ĐÀN ÔNG VÔ LÝ".

THỜI HOA ĐỎ
Thanh Tùng

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng cho lòng ta yên

Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê của một thời thiếu nữ

Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa của một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn vào tận sâu mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu thương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say

Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh lùng
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim.

Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời hoa đỏ ngày xưa.


LỜI BÌNH của Hoàng Đình Quang

Bài thơ được viết vào khoảng năm 1972 khi vừa đổ vỡ cuộc tình cùng người vợ ở Hải Phòng. Bài thơ là nỗi đau tột cùng thăng hoa thành định mệnh của tôi, thành tên gọi của Thanh Tùng. Đây là những lời tự bạch của nhà thơ Thanh Tùng.
Người bình thường, người nghe hát bình thường, biết đến Thời hoa đỏ qua ca khúc nhạc của Nguyễn Đình Bảng. Đó là một bài hát hay, phổ cập và có thể nói rằng ca khúc ấy ở cấp độ phổ thông.
Người yêu thơ, người làm thơ nghe bài hát thấy hay, rất hay. Khi tìm đến bài thơ viết từ ngót 40 năm qua, sao thấy không chỉ buồn mà còn đau nữa. Vết khứa trong tim thật sâu, thật day dứt bằng con dao cùn trớ trêu.
Nhưng bài thơ không dành cho số đông, không dành cho các nhà phê bình. Nó dành hẳn cho những ai đang buồn, đang đau xót và túng quẫn, không có lối ra.

Thanh Tùng viết rằng anh viết bài thơ này "khi vừa đổ vỡ cuộc tình cùng người vợ",  tôi không tin, rất không tin. Có thể anh nói thế để giấu đi nỗi đau của mình, để "làm hàng" với dư luận mà thôi. Đây chắc hẳn là một mối tình khác, mối tình sau của anh và cũng là của em:
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời hoa đỏ ngày xưa.


"Anh biết mình vô nghĩa đi bên em", là thế nào? Là làm sao phải thế? Là em của thời hoa đỏ ngày xưa kia! Không phải của anh! Anh cũng vớt vát để giả vờ xoa đi nỗi đau của mình: Anh của thời hoa đỏ ngày xưa. Thật vụng về, đáng thương!
Cách đây nhiều năm, khi ngồi uống bia với Thanh Tùng, tôi hỏi:
- Anh là tác giả của Thời Hoa đỏ. Bài thơ hay lắm, câu nào cũng hay! Khi nó được làm lời cho ca khúc cùng tên, bài hát cũng hay, có một số câu sửa đi theo yêu cầu của âm nhạc, cũng vẫn còn hay. Nhưng tôi đố anh, trong đó có một câu hay nhất, phải nói là cái đinh của bài thơ, Đến nỗi, nếu rút nó đi, thì bài thơ sẽ đổ, hoặc chí ít, nó cũng chỉ là một bài thơ tình ở mức trung bình? Đố anh biết nó là câu nào?
Thanh Tùng ngớ người ra, lắc đầu: Chịu!
Tôi tiếp:
- Câu thơ đó không phải là câu thơ hay, để người ta phải chép vào sổ, hay được đem ra phân tích ngữ pháp. Nó chỉ hay khi đứng trong bài thơ này, và bài thơ này hay là nhờ nó... Vì bài thơ tình này không dành cho số đông.

Nhìn vẻ mặt căng thẳng của Thanh Tùng, tôi càng tin rằng: thi sĩ làm thơ là bằng gan ruột, băng giây phút thăng hoa nhất định, chứ tuyệt nhiên không phải bằng chữ nghĩa, lại càng không phải bằng thủ pháp tu từ nào để người đọc tuỳ tâm suy diễn. Và khi nói điều này, tôi cũng là người suy diễn mà thôi:
Ta nhìn vào tận sâu mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Chỉ vì:
Trong câu thơ của em anh không có mặt
Đây là câu thơ mang toàn bộ nguồn cơn, là lý do sâu xa để có được bài thơ buồn đau xót thế này.
Thanh Tùng như là rùng mình, lắc đầu nhìn tôi, im lặng!

Nhưng Thanh Tùng ơi, và cả những người đang buồn đau ơi! Cuộc đời là thế. Đây là cái đẹp nhất mà chỉ cuộc đời mới có. Và những ai nhấp phải nỗi buồn này, nỗi trớ trêu này mới được tận hưởng sức mạnh của thi ca.
Một lần khác, tôi đem điều này nói với một bạn gái. Bạn tôi có hơi xúc động, nhưng chỉ thoảng qua, rồi rành rọt:
- Này chàng đàn ông vô lý ơi! Thế lúc đó anh ở đâu? Sao anh không chạy đến với tôi? Sao anh không xô đẩy, giải tán đám đông, thậm chí nếu cần thì vung nắm đấm lên để giành lấy tôi? Lúc đó tôi sẽ làm thơ về anh, sẽ ca hát về anh và thậm chí tôi sẽ khóc nức nở trên vai anh...

Tôi chịu thua! Và tự an ủi trái tim "chàng đàn ông vô lý" bằng một câu khác:
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ.


Trưa ngày 28-9-2009


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 7:43pm
Đừng vò nát thư em

Những ai yêu thơ Nga không thể không biết đến những vần thơ trữ tình thấm đẫm của Anna Akhmatova. Sức sống của thơ bà không phải ở những cái mới lạ, độc đáo hay sự cầu kì, trau chuốt mà chính là ở sự nhẹ nhàng, đằm thắm, lắng sâu với nhiều tầng ý nghĩa. Những vần thơ tình của Anna Akhmatova là những lời thủ thỉ, tâm tình của một trái tim phụ nữ đong đầy yêu thương, tinh tế và nhạy cảm. “Đừng vò nát thư em” là một nốt trầm xao xuyến trong cung đàn thơ tình ấy của bà…

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Hãy kiên nhẫn đọc đến cùng, anh nhé

Em đã chán làm người xa lạ

Chán vật vờ trên bước đường anh.

 

Đừng nghi ngờ em, đừng giận, đừng buồn

Em là của anh, là người yêu anh đó

Không phải cô bé lọ lem, chẳng là công chúa

Em cũng không phải là tu sĩ nữa rồi.

 

Em giản đơn mặc áo bạc màu

Em trong đời thường, đi giày vẹt gót...

Nhưng vẫn như xưa, vòng tay riết chặt

Vẫn nỗi kinh hoàng trong đôi mắt mở to.

 

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Đừng khóc vì sự dối lừa thánh thiện

Trong hành trang nghèo, chỉ giàu kỷ niệm

Tận đáy túi của mình, anh hãy giữ thư em

(Đừng vò nát thư em – Hồ Bất Khuất dịch)

 

Cả bài thơ là nỗi niềm khắc khoải, lo lắng của cô gái gửi tới người yêu thương. Bốn khổ thơ, không có sự mới mẻ trong cách viết, không có sự độc đáo trong hình ảnh, không cả sự tăng cấp của dòng cảm xúc. Vậy cái hay, cái làm nên sức sống lâu bền của bài thơ nằm ở đâu? Đó chính là ở những dòng tâm tình đầy tha thiết, một tâm hồn dịu dàng với một ước mong giản dị mà rất đỗi chân thành: Đừng vò nát thư em. Ước mong ấy được thể hiện ngay từ câu thơ đầu tiên:

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Một câu thơ nhẹ nhàng, một giọng điệu trìu mến! Ta có thể cảm nhận được bao yêu thương chất chứa trong ba tiếng Anh thân yêu. Ba tiếng ấy được đảo lên đầu, trở thành trung tâm thông tin của câu thơ, chính vì vậy, lời khẩn cầu đừng vò nát thư em trở nên tha thiết hơn, nhẹ nhàng hơn và không bị rơi vào sự van xin quỵ luỵ. Đó cũng chính là điểm mạnh trong thơ Anna Akhmatova – chân thật, giản dị. Tình yêu chân thành tự có tiếng nói riêng của nó. Những câu thơ của bà giống như một lời thủ thỉ hết sức tự nhiên:

Hãy kiên nhẫn đọc đến cùng, anh nhé

Kiên quyết, nhẹ nhàng – thái độ đó chỉ có thể có ở một người con gái đầy nữ tính và cũng đầy bản lĩnh. Bởi chỉ có bản lĩnh thì mới có được thái độ kiên quyết như vậy và phải có bản lĩnh thì mới có thể thốt lên:

Em đã chán làm người xa lạ

Chán vật vờ trên bước đường anh.

Đằng sau thái độ mạnh mẽ, người đọc dễ dàng cảm nhận được một tâm trạng yếu đuối, mệt mỏi thể hiện qua từ chán được lặp lại hai lần, cộng hưởng với từ vật vờ. Tuy nhiên, ngay sau đó cô gái lại giãi bày lời tâm sự, lời khẩn cầu tha thiết:

Đừng nghi ngờ em, đừng giận, đừng buồn

Câu thơ được ngắt làm ba nhịp với ba cung bậc khác nhau. Sự xuất hiện của ba trạng thái nghi ngờ, giận, buồn đâu phải là ngẫu nhiên, nó là một quá trình từ nguyên nhân (nghi ngờ) đến kết quả (giận, buồn). Căn nguyên của nỗi niềm ấy là từ sự dối lừa thánh thiện của cô gái và để giải toả nỗi lòng của chàng trai, cô đã khẳng định:

Em là của anh, là người yêu anh đó

Cả hai vế của câu thơ đều khẳng định: em là của anh. Câu thơ giản dị như lời nói thường nhưng lại chứa đựng một sức nặng phi thường, sức nặng ở lời khẳng định đinh ninh, một sự xác tín tuyệt đối:

Không phải cô bé lọ lem, chẳng là công chúa

Em cũng không phải là tu sĩ nữa rồi.

Em giản đơn mặc áo bạc màu

Em trong đời thường, đi giày vẹt gót...

Nhưng vẫn như xưa, vòng tay riết chặt

Vẫn nỗi kinh hoàng trong đôi mắt mở to.

Em là một con người bình thường, dung dị như cuộc đời thực. Em không phải là cô bé lọ lem hay nàng công chúa trong câu truyện cổ tích; cũng không phải là một tu sĩ thoát tục, xa rời mọi hỉ nộ ái ố của cuộc đời. Em giản đơn là chính em với những khó nhọc, nhếch nhác đời thường, mặc áo bạc màu, đi giày vẹt gót. Em không phải là một mẫu hình lý tưởng và khát khao mong đợi một tình yêu không phải là ảo ảnh, một tình yêu hết mình, mãnh liệt với vòng tay riết chặt. Nhưng em vẫn là em, vẫn là một trái tim yêu yếu đuối với nỗi kinh hoàng trong đôi mắt mở to. Những vần thơ cuối cùng vẫn là những lời tha thiết chân thành, một sự mong mỏi, cầu khẩn:

Anh thân yêu, đừng vò nát thư em

Đừng khóc vì sự dối lừa thánh thiện

Trong hành trang nghèo, chỉ giàu kỷ niệm

Tận đáy túi của mình, anh hãy giữ thư em

 
Xuyên suốt cả bài thơ, người đọc gặp cô gái với một tình yêu da diết, một thái độ chân thành của một tâm hồn thiếu nữ nhạy cảm, ưu phiền. Sức lắng đọng của bài thơ không phải là sự êm dịu của một tình yêu đẹp, lãng mạn mà chính ở sự chua xót, dở dang của nó. Bởi chính trong sự không trọn vẹn, ta mới cảm nhận rõ hơn, sâu sắc hơn cái nồng nàn, chất nữ tính đằm thắm của một trái tim yêu.
 
Đừng vò nát thư em được Anna Akhmatova sáng tác năm 1912. Lúc này, bà đã lập gia đình với nhà thơ, nhà phê bình tài năng Nikolai Gumilyov được hai năm. Có nhiều ý kiến cho rằng Đừng vò nát thư em được Anna Akhmatova viết cho chồng mình, sau những khoảng thời gian hai người không hiểu nhau và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Tuy nhiên cũng có ý kiến phủ nhận và cho đây là những vần thơ được bà viết cho người bạn trai trước đây của mình. Thật khó để thừa nhận hay bác bỏ ý kiến nào. Ta chỉ nên xét yếu tố không hạnh phúc và may mắn trong tình duyên của bà đã ảnh hưởng đến bài thơ. Đó là dư vị xe xót về một tình yêu dở dang đã xa.
 

Anna Akhmatova là một nhà thơ nhưng trước hết bà là một phụ nữ, một phụ nữ cá tính, sống hết mình với tình yêu và khao khát một tình yêu chân thành tha thiết. Chính điều đó đã làm nên chất trữ tình thấm đẫm, lối tư duy đầy nữ tính trong thơ bà. Và đây chính là cội nguồn làm nên sức sống lâu bền của thơ Anna Akhmatova nói chung, của Đừng vò nát thư em nói riêng. 

 

Sao Thụy



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 7:48pm

Cây ngải đắng

 

Olga Berggholz là một trong số những nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của văn học Nga thế kỉ XX. Bên cạnh những vần thơ công dân, những trang thơ tình của bà có được sức sống lâu bền hơn cả. Thơ bà là tiếng nói của một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm với trái tim nồng nàn yêu thương nhưng cũng luôn khắc khoải, lo âu trăn trở.

(Olga Berggholz)

 

“Cây ngải đắng” là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất đặc điểm đó của thơ bà. Bài thơ là tiếng lòng thổn thức của một người con gái trước cuộc tình lỡ dở:


Rồi tôi vẫn nghiến răng bướng bỉnh

Ngẩng cao đầu khép chặt lòng đau

Hoa ơi hoa, hoa nở vì đâu

Hoa ngải đắng của tình tôi yêu dấu?

 

Hai ta cùng giấu giếm lẫn nhau

Cố nuốt ngược vào tim lời từ giã

Cầm chiếc khăn hoa của tôi, vội vã

Anh xé mẩu khăn, nào biết có ý gì!

 

Làm gì nữa anh ơi, chút tình si

Mẩu khăn ấy tả tơi anh còn giữ?

Làm gì nữa tôi ơi lòng đã lỡ

Đường trần đi tìm hằn dấu những bước chân

 

Chẳng làm gì nữa đâu lời âu yếm vô ngần

Của người dưng hay người tôi thương mến

Muôn nẻo quanh tôi loài cỏ hoa quyến luyến

Ngải đắng ơi, hoa ngải đắng tình tôi!

(Cây ngải đắng – Olga Berggholz, 1928 - Thuỵ Anh dịch)


Bài thơ này được Olga Berggholz sáng tác năm 1928 – khoảng thời gian bà đang chung sống với Borís Korinilov. Đó là mối tình đầu của Olga Berggholz, cũng là mối tình để lại trong bà nhiều day dứt. Họ đã yêu nhau ngay tư cái nhìn đầu tiên, nhanh chóng trở thành vợ chồng và cũng nhanh chóng chia tay nhau. Giai đoạn bà sáng tác bài thơ cũng là khoảng thời gian hai người bắt đầu rạn vỡ. Vì vậy, ta có thể nhận ra trong bài thơ những nỗi niềm chua xót, những cảm nhận cay đắng của một trái tim yêu bị lỡ dở:


“Rồi tôi vẫn nghiến răng bướng bỉnh

Ngẩng cao đầu khép chặt lòng đau

Hoa ơi hoa, hoa nở vì đâu

Hoa ngải đắng của tình tôi yêu dấu?” …


Câu thơ đầu tiên không phải là một lời yêu thương nhẹ nhàng, nồng thắm, hay lời giận hờn trách cứ như thường thấy trong các bài thơ tình khác mà là một một thái độ dứt khoát, một sự can trường, mạnhmẽ: “Rồi tôi vẫn nghiến răng bướng bỉnh / Ngẩng cao đầu khép chặt lòng đau”. Trước những rạn vỡ của mối tình, người con gái không kêu than, không uỷ mị, khóc lóc mà vẫn bướng bỉnh “khép chặt lòng đau”. Cái bướng bỉnh ấy chính là tính cách của Olga Berggholz. Bà được thừa hưởng từ người cha mái tóc vàng và chiếc mũi hếch nghịch ngợm, đôi mắt xanh biếc trong vắt và bướng bỉnh. Chính cái bướng bỉnh này đã giúp bà có đủ vững vàng để vượt qua những sóng gió trong cuộc đời đầy bão táp, truân chuyên của mình. Trong tình yêu, bà yêu nồng nhiệt bằng cả trái tim, nhưng lại luôn gặp trắc trở. Trong tâm thức văn hóa nhân loại, ngải đắng biểu trưng cho sự khổ đau, cay đắng, và đặc biệt lả sự khổ đau do thiếu vắng gây nên . Loài thảo mộc ấy có mùi hương ngai ngái, gợi niềm bất trắc nhưng lại có sức sống bên bỉ và kiên cường. Lấy đó làm biểu tượng cho sự dằn vặt trong tình yêu của mình, Olga Berggholz đã thể hiện được một trái tim nồng nàn yêu thương và cũng hết sức can trường:


“Hoa ơi hoa, hoa nở vì đâu

Hoa ngải đắng của tình tôi yêu dấu?”…


Câu hỏi vang lên như một sự dằn vặt, một sự chiêm nghiệm xót xa về tình yêu của người con gái. Hỏi hoa nhưng chính là lời chia sẻ với hoa về số phận mối tình của mình. Hoa vô tình hay hữu ý mà hương hoa sao giống tình yêu đắng cay. Olga Berggholz là một người nhạy cảm, gương mặt đôi khi mang một nỗi buồn kì lạ không lí giải nổi. Nỗi buồn ấy được nhà văn Anninski gọi là “nỗi sầu không lời và vô duyên cớ của tâm hồn Nga”. Nỗi buồn ấy được chung đúc nên từ những năm tháng tuổi thơ bên người vú già, từ những đau khổ, sóng gió trong cuộc đời đầy truân chuyên của bà. Nó thấm nhuần trong thơ Olga, mang đến một âm điệu riêng cho thơ bà. Âm điệu ấy được thể hiện rõ nét trong “Cây ngải đắng”.


Sang đến khổ thơ thứ hai, người con gái quay sang đối thoại với người yêu:


Hai ta cùng giấu giếm lẫn nhau

Cố nuốt ngược vào tim lời từ giã

Cầm chiếc khăn hoa của tôi, vội vã

Anh xé mẩu khăn, nào biết có ý gì!


Tình yêu chỉ còn lại là những đắng cay, vậy mà cả hai vẫn cố tìm cách níu giữ, “cố nuốt ngược vào tim lời từ giã” bởi họ chia tay nhau không phải vì tình yêu đã chết. Họ chia tay nhau trong day dứt, khổ đau. Olga Berggholzvà Borís Korinilovyêu nhau nhưng“tính cách khắc nhau”, thậm chí thơ của họ cũng mang những đặc điểm đối chọi nhau, nóinhư Lev Anninski, nhịp thơ nặng nề, trơn chuội của Kornilov ít có thể hoà hợp với cung đàn dâng trào thẳng băng của Berggoltz. Và đôi tình nhân mê đắm này chia tay nhau vì thế. Họ xa nhau, nhưng mối liên hệ sau sắc giữa hai người vẫn còn, không lời, không hình ảnh, nhưng thiêng liêng đến mức khó hiểu. Mãi sau này, Olga Berggholz vẫn không nguôi nhớ và đây đó trong các bài thơ, người ta vẫn thấy mơ hồ Olga nhắc đến mói tình đầu của mình. Thậm chí bà có hẳn một bài thơ đề gửi Borís Korinilovmang tên “Bài thơ cuộc đời”. Những trắc trở của mối tình đầu đã được Olga gửi gắm trọn vẹn vào bài thơ này. Và vì những nỗi trắc trở ấy nên bài thơ đầy những nỗi băn khoăn của cô gái trước những hành động của người yêu:


Cầm chiếc khăn hoa của tôi, vội vã

Anh xé mẩu khăn, nào biết có ý gi!


Những băn khoăn ấy cô gái đã có câu trả lời: Vì chàng trai muốn níu giữ chút tình. Chiếc khăn là vật chứng, là tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, giờ chia xa trở thành kỉ vật để nhớ về mối tình đã qua. Chiếc khăn xé lẻ ra sẽ không còn là chiếc khăn, cũng như tình yêu bị chia cắt, sẽ không còn vẹn nguyên. Vì vậy mà ở khổ thơ thứ ba là những lời hết sức thống thiết cô gái muốn nhắn gửi tới người yêu:


Làm gì nữa anh ơi, chút tình si

Mẩu khăn ấy tả tơi anh còn giữ?

Làm gì nữa tôi ơi lòng đã lỡ

Đường trần đi tìm hằn dấu những bước chân.


Níu giữ cũng chẳng để làm gì! Cô gái hiểu rất rõ điều đó.Dù đau đớn nhưng phải chấp nhận thực tế. Mẩu khăn “tả tơi” ấy hay chính là tình yêu đã tan vỡ. Nói với người yêu, cũng là tự nhủ với lòng mình:

Làm gì nữa tôi ơi lòng đã lỡ

Đường trần đi tìm hằn dấu những bước chân.


Bao giờ cũng vậy, thuyết phục người khác đã khó, tự thuyết phục bản thân mình còn khó khăn gấp bội. Lời thơ khắc khoải, tuyệt vọng và đầy day dứt, tiếc nuối. Nỗi niềm ấy ta ta có thể bắt gặp rất nhiều trong thơ Olga Berggholz . Sau này, trong bài thơ “cánh én bên bờ dốc đứng” bà cũng thể hiện một sự tiếc nuối như thế:


Cũng hương bạc hà khắp nơi

Cũng tiếng én kêu não ruột

Làm sao lấy lại anh ơi

Những gì thân thương đã mất?

( “Cánh én bên bờ dốc đứng”,1940 )


Khổ thơ thứ tư vẫn là sự dâng trào của mạch cảm xúc ấy:

Chẳng làm gì nữa đâu lời âu yếm vô ngần

Của người dưng hay người tôi thương mến

Muôn nẻo quanh tôi loài cỏ hoa quyến luyến

Ngải đắng ơi, hoa ngải đắng tình tôi!


Giờ đây, mọi lời âu yếm, thương yêu đều trở nên vô nghĩa, của người “thương mến” cũng đâu khác của “người dưng”. Còn lại chỉ là những dư vị cay đắng của mối tình lỡ dở. Dư vị ấy hiện hữu rõ qua hương hoa của loài ngải đắng. Loài thảo mộc ấy giăng đầy “muôn nẻo”, ngập tràn mọi nơi chốn, nhắc nhớ về mối tình đã tan vỡ. Ngải đắng “quyến luyến” quanh cô gái hay chính là nỗi xót xa về tình yêu trong cô tìm được sự đồng điệu với hương hoa. Bởi vậy mà câu thơ kết là một tiếng gọi tha thiết, một tiếng kêu não lòng, đồng thời cũng là một sự xác nhận – một sự xác nhận chứa chất đầy dư vị chua xót:


Ngải đắng ơi, hoa ngải đắng tình tôi!


Ngay từ nhỏ, Olga Berggholz đã sớm gần gũi thiên nhiên. Tâm hồn nhạy cảm của bà nhanh chóng tìm được sự hoà điệu với cỏ cây, hoa lá. Vì vậy có thể thấy rõ sự xuất hiện nhiều của các loài thảo mộc trong thơ Olga. Đó là hình ảnh của loài “hoa chuông” dịu dàng mỏng manh trong những vần thơ đầu tiên; là một “mùa lá rụng”; là “hàng giậu”, “cây phong” trong “Đường ra mặt trận”, là “hương bạc hà” giăng mắc khắp nơi trong “cánh én bên bờ dốc đứng”….Và độc đáo nhất chính là hình ảnh cây ngải đắng. Loài cây này đâu phải là đối tượng thẩm mĩ quen thuộc của thi ca, đặc biệt là của thơ tình. Vậy mà Olga đã tìm thấy ở loài cây ấy một sự đồng điệu kì lạ vớitình yêu của mình, để rồi bà đưa nó vào thơ không chỉ một lần:


“Hẳn anh chưa biết mùi ngải đắng

Tôi mải mê hít căng mùi hương sâu lắng

Ngải đắng đây, ngải đắng tình đời

Nỗi đau của loài người giản đơn vô hạn

Đã trở thành niềm cay cực riêng tôi

Từ những cửa đập bê tông vẫn thoảng đưa về mùi hoa ngải

Mùi hương yêu bất tử đưa đến tân nhà tôi”

( “Những lá thư viết trên đường” )

 

Loại cây ấy có một sự gắn kết kì lạ đối với Olga Berggholz. Bà được gọi là “cây ngải đắng” của thơ ca Nga. “Cây ngải đắng” ấy, dẫu trải qua bao nỗi bất hạnh vẫn sống, vẫn nở hoa, toả mùi hương cay nồng với đời.


“Cây ngải đắng” cũng như bao bài thơ khác của Olga Berggholz, hấp dẫn người đọc không phải ở sự mới lạ, độc đáo mà chính ở những tình cảm nồng nàn, sâu lắng được diễn đạt hết sức mộc mạc, giản dị. Thơ bà được nhiều độc giả Việt Nam yêu thích và học thuộc. Dường như không có sự cách ngăn của hai đất nước, hai nền văn hoá. Điều đó cũng dễ lí giải. Dù ở đâu, thời nào thì con người cũng có những cung bậc tình cảm chung nhất định. Người nghệ sĩ tinh tế là người khơi gợi lên được cung bậc tình cảm đó. Khi ấy, nhà thơ sẽ nói được tiếng nói chung của mọi tâm hồn, và thơ sẽ tự nó phá vỡ mọi cách ngăn địa lí, không gian, thời gian.


“Cây ngải đắng” cũng như Olga Berggholz sẽ tìm được sức sống lâu bền trong tâm hồn độc giả thế giới chính bởi thơ bà đã ngân lên điệu lòng chung của mọi tâm hồn đang yêu.

 

Sao Thuỵ



-------------


Viết bởi: Hoami
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 8:37pm

Lục bát đàn bà

 ...

ngả nghiêng níu ngọn gió manh

sẩy tay chới với gió đành…

cong ngang

đong đưa thả nửa nốt đàn

tuột câu hò hẹn nhỡ nhàng…

vân vi

vớt mùa đong bóng thiên di

lắng về phía sóng li ti…

giọt buồn

vẽ tình lên bức mành sương

gọi tên nhau vọng lại còn…

mùa Thu

khôn ngoan lạc phía mây mờ

chung chiêng biết đến bao giờ…

hồng nhan

mất còn

rồi cũng trò chơi

tận cùng

vui

chẳng đánh rơi được

buồn

ngửa tình

tô phấn kẻ son

chuồn chuồn cứ đậu qua đường

rồi bay

thả nhìn trong mắt người dưng

nhặt đôi lá rụng ngập ngừng mùa qua

(thơ Vũ Thanh Hoa)

Không thích lục bát mang một cái tên riêng, cũng như không bao giờ hợp với cái niêm luật có dư sự gò bó. Bổn phận của đàn bà là thương yêu nhưng nhiều khi bị ngược đãi. Có khi phải sống khác với Người đàn bà trong mình, để rồi cứ đau đáu về Người đàn bà khác nữa.

Bất giác được bứt ra khỏi trật tự nhờ cái đa đoan của mình khi Vũ Thanh Hoa “bỏ” lục bát rất tài tình. Có thể, ta ra được niêm luật đời bằng dung hòa trong lục bát này.

Cái thuở cũ của đà bà “khôn nhà dại chợ” ấy đâu có gì đáng trách chê? Chỉ là lạc lõng một niềm tin, thế thôi!? Son sắc biến đàn bà thành dại dột.

Kiếp trước, kiếp này, kiếp sau có khi nào hông nhan thôi bạc mệnh?

Con chuồn chuồn đùa ngọn cỏ…

Có chung.

Có riêng.

những nỗi niềm đàn bà.

Lục bát bỏ rơi…

đàn bà vô thường…

Khìn



Viết bởi: Hoami
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 8:51pm

Thơ tình cuối mùa thu

Xuân Quỳnh

Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá.
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em.

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má

Hơi lạnh qua bàn tay
Tình ta như hàng cây
Đã bao mùa gió bão.
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ.

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em.

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may


Có những thứ đi qua cuộc đời, nhẹ nhàng và bình yên, không dấu vết, không mảy may kỷ niệm. Có những điều đi qua cuộc đời để lại những dấu ấn thật đậm nét. Nhớ về những điều đó là nhớ về cả một quãng ngọt ngào nhất của cuộc đời. Bởi thế nên nó được ta gìn giữ như báu vật, ta nâng niu, trân trọng như chính cuộc đời ta. “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh chính là nơi cất giữ những kỷ niệm như thế - Tình yêu mãnh liệt và thủy chung của người phụ nữ đa cảm, đa tình.


Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em


Tại sao nhà thơ lại chọn thời điểm cuối mùa thu? Và tại sao cứ phải là “Thơ tình cuối mùa thu”? Phải chăng vì mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm. Và tình yêu trong mùa thu cũng đẹp nên thơ và lãng mạn như chính cái mùa quyến rũ ấy. Cho nên sang mùa đông thì tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ “theo mùa đi mãi”, lá sẽ về rừng, dòng nước sẽ trôi ra biển cả. Cho nên thơ tình làm vào độ cuối thu thì cảm xúc càng có dịp thăng hoa.

Cái sắc thái cuối thu trong bài thơ đã có những dự cảm rất tinh tế của tâm hồn người phụ nữ. Đọc thơ Xuân Quỳnh ta luôn bắt gặp song hành bên cạnh một tình yêu thủy chung và bỏng cháy là những dự cảm và lo âu. Tuy chỉ tả cảnh thôi nhưng âm điệu thơ cứ man mác những lo âu:


Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay.


Trong cái làn gió heo may thổi xao động ấy còn có cả sự xao động trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Mới cuối thu mà tất cả dường như đã có sự thay đổi. Liệu mùa thay đổi rồi “lòng anh có đổi thay”? Đấy phải chăng chính là dự cảm trong tâm hồn của người phụ nữ có niềm yêu mãnh liệt và đa cảm ấy!
Tôi thích nhất trong bài thơ những câu thơ này:


Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ

 


Bốn câu thơ có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là tình yêu đã trọn vẹn, đã cập bến bờ hạnh phúc – một hạnh phúc phải trải qua những gió bão và thác lũ cuộc đời cho nên nó càng có ý nghĩa.

Nhưng tôi thích cách lập luận thứ hai hơn. Đó là cách hiểu tình yêu đã trôi qua, tất cả bây giờ được nhìn trong tương quan quá khứ - hiện tại. Từ cách hiểu có vẻ vô lý này ta có thêm một cách định nghĩa về tình yêu: Tình yêu muốn đạt được hạnh phúc cần phải trải qua những bão tố của cuộc đời và của cả lòng người nữa. Bởi có trải qua gió bão thì hạnh phúc đạt được mới thật sự trọn vẹn. Tình yêu trôi qua trong yên bình, lặng lẽ sẽ rất khó cấu thành hạnh phúc.


Chính vì thế mà khi nói “Đã yên mùa gió bão… Đã yên ngày thác lũ” nghĩa là tình yêu đã qua đi, tất cả bây giờ trở về bình lặng. Có lẽ vì thế mà khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sỹ Thuận Yến để bốn câu thơ này với âm hưởng trầm buồn, xót xa như một sự tiếc nuối.


Tình yêu đã lùi vào quá khứ không có nghĩa là tình yêu đã vụt tan. Điều đó trong “Thơ tình cuối mùa thu” càng được khẳng định bởi điệp ngữ: “Chỉ còn anh và em/ Cùng tình yêu ở lại”.


Dù thời gian trôi đi đồng nghĩa với tất cả trở thành quá khứ, nhưng không vì thế mà tình yêu cũng tan vào dĩ vãng. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh là một tình yêu mãnh liệt và thủy chung, nồng nàn và da diết. Cho nên dù tình yêu đã trở thành một miền dĩ vãng thì những dư âm của nó cũng sẽ còn mãi trong tâm hồn người con gái thủy chung.


Khổ thơ cuối điệp lại một lần nữa như khẳng định lại sự bền vững của tình yêu:


Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại…
Kìa bao người yêu mới
Đi qua vùng heo may…”


Hai câu thơ cuối bài thơ vang lên như một tiếng reo. Bài thơ dừng lại ở đấy. Tưởng như là đột ngột. Tưởng như là hụt hẫng. Nhưng không! Cái tiếng reo vui ấy kết lại bài thơ chính là khẳng định sự vĩnh cửu của tình yêu.


Tình yêu đã được tiếp nối giữa các thế hệ. Có thể thế hệ của “anh” và “em” đã qua đi, “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” nhưng có bao đôi trẻ yêu nhau sẽ gắn bó thủy chung và sắt son qua những mùa thu mới, những vùng heo may mới, tiếp nối tình yêu của anh và em…


Hai câu kết thúc bài thơ tạo ra hai giá trị vĩnh cửu của tình yêu. Giá trị riêng và giá trị chung. Giá trị riêng chính là tình yêu của anh và em, dù có thể đã lùi vào quá khứ nhưng những gì anh giành cho em và em giành cho anh sẽ còn mãi qua những mùa thu. Giá trị chung là tình yêu của biết bao thế hệ, biết bao đôi lứa yêu nhau sẽ còn mãi. Tình yêu trên trái đất này là bất diệt. Giá trị nhân văn của “thơ tình cuối mùa thu”, theo tôi, cũng là ở chỗ đó.



Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 9:05pm

Tôi yêu em

                      Puskin

Tôi yêu em đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
Nhưng không để em bận lòng thêm chút nữa,
Hay hồn em phải gợn sóng u hoài.

Tôi yêu em âm thầm, không hy vọng,,
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,
Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,
Cầu cho em được người tình như tôi đã yêu em.

                                                  1829

                   Thúy Toàn (Pu-skin “Thơ trữ tình”-NXB Văn học- Hà Nội, 1986)

Ghi chú:

       Từ khi bài thơ “Tôi yêu em” được dịch ra tiếng Việt đến nay và được đưa vào giảng dạy ở trường Trung học phổ thông (phần Văn học nước ngoài lớp 11) đã có mấy chục bản dịch nghĩa và dịch thơ và ý kiến khác nhau của: Thúy Toàn, Ngô Tự Lập, Tạ Phương, Huyền Anh, Thùy Chi, Đặng Hiển, Lê Tuấn Anh, Nguyễn Đức Quốc, Phạm Chí Thắng… đăng tên các báo, tạp chí và trên các website, blog. Ở bài bình thơ này tôi dựa theo bản dịch tương đối chuẩn của nhà dịch giả nổi tiếng Thúy Toàn.

Lời bình của Lê Xuân:

                  TÌNH YÊU TRONG SÁNG - CAO THƯỢNG - VỊ THA

     A-lếch-xan- đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799- 1837) - thi sĩ thiên tài, ca sĩ của tự do, “mặt trời của thơ ca Nga” đã tắt ở tuổi 38. Nhưng với hơn 800 bài thơ trữ tình mà ông để lại đã làm giàu thêm, đẹp thêm tình yêu của nhân loại, và làm rạng rỡ nền thơ ca Nga. Bài “Tôi yêu em”, sáng tác cuối năm 1829, có thể xem là bài nổi tiếng nhất về thơ tình của tác giả. Nó trong sáng và giản dị đến mức  hầu như không cần tới một lời chú giải nào. Biêlinxki, nhà phê bình văn học Nga đã nhận xét rất xác đáng về bài thơ này: “Đây là tình cảm của con người từng trải- và ta cũng thấy ở đây lòng nhân ái làm xúc động lòng người đó, vẻ diễm lệ nghệ thuật đó”. Bài thơ có lực hấp dẫn lớn, vì nó chứa đựng những giá trị tinh thần chung của loài người.

       Cách xưng “tôi” và “em” của nhân vật trữ tình biểu hiện mối quan hệ vừa gần vừa xa, vừa đằm thắm vừa dang dở. Nó như có một điều gì trắc trở trong tình yêu giữa hai người. Bài thơ chỉ có hai câu lớn, chia thành 8 dòng. Các ý thơ như những con sóng gối lên nhau, ào ạt vỗ bờ, láy đi láy lại điệp khúc “Tôi yêu em”. Theo trật tự lôgíc hình thức của cách giãi bày tình cảm, ta như thấy nhân vật trữ tình đang âm thầm, lặng lẽ “rút lui”, chối bỏ say mê, dập tắt ngọn lửa tình. Nhưng đó chỉ là biểu hiện bên ngoài. Từ trong sâu thẳm tâm hồn, tình yêu vẫn cuồn cuộn chảy, bất chấp lôgíc ấy, và như không nén được cảm xúc, chốc chốc nhân vật trữ tình lại bật lên một tiếng kêu tha thiết, nói với lòng mình: “Tôi yêu em”.

       Người đọc có thể đặt câu hỏi: liệu nhân vật này có còn yêu nữa không, và nếu yêu thì mãnh lực như thế nào? Ở đây ta thấy có sự mâu thuẫn giữa lý trí và tình cảm. Nó bộc lộ sự day dứt và thông báo rằng đây là mối tình “không hy vọng”, “chừng có thể”, “không để em bận lòng thêm nữa”… Nhưng xét đến cùng thì mãnh lực đó không giảm mà ngày càng tăng, càng mãnh liệt hơn, càng ngùn ngụt cháy:

                                Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm

                                Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

     Người ta bảo tình yêu thường rất ích kỷ. Ghen tuông là biểu hiện cao độ của tính ích kỷ ấy. Có người khi đang yêu nồng nàn say đắm thì ca ngợi người yêu hết lời. Khi không vừa y, hay chia tay nhau thì đổi giọng ngay lập tức, nói xấu nhau, thoá mạ nhau đến cạn tàu ráo máng. Đó là thói thường: yêu nên tốt, ghét nên xấu của những kẻ không có văn hoá trong tình yêu.

     Còn tình yêu của “tôi” đối với “em” ở đây cũng rất người, nó cũng bị thói ghen tuông dày vò: “Tôi yêu em âm thầm không hy vọng/ Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen”. Puskin đã nói nhiều đến ghen trong tình yêu, và ông coi đó là “nỗi buồn đen tối” làm mụ mẫm đầu óc người ta. Trong bản thảo tiểu thuyết bằng thơ “Eghêni Ônêghin”, ông viết:

                            Trên đời này không có trò tra tấn nào

                            Đau đớn hơn những giày vò khắc nghiệt của ghen tuông.

      Nhân vật trữ tình trong bài thơ cao thượng, trong sáng và đẹp đẽ biết bao, vì nó đã vượt được thói ích kỷ của đời thường, để “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”. Câu thơ làm chói sáng nhân cách con người, đưa tình yêu lên ngôi, toả hương. Đó là thái độ cao thượng và trân trọng người tình của thi sĩ. Trong dân ca Quan họ Bắc Ninh của Việt Nam cũng có câu: “Người về em dặn câu rằng/ Đâu hơn người lấy, đâu bằng đợi em” (Gĩa bạn). Thật thú vị mà khiêm nhường, mãnh liệt mà tế nhị, hai dân tộc ở hai phương trời xa cùng gặp nhau ở tư tưởng lớn đậm tính nhân văn cao đẹp. Có thể xem câu thơ cuối của bài thơ là một “thần cú”. Bởi nó chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa. Nó vừa vị tha lại vừa say đắm, vừa rụt rè, quyết liệt lại vừa xen một chút tự hào, ghen tuông. Nó tự khẳng định “ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai” trong “tôi” đối với “em”.  Mối tình này không phải là “không hy vọng”.

       Tình yêu của nhà thơ trong “Tôi yêu em” làm xúc động bạn đọc nhiều thế hệ trên trái đất này. Tác giả không ví von bóng gió mà chỉ bằng cách nói nhỏ nhẹ chân thành và rất giản dị đã ngợi ca vẻ đẹp của tình yêu với nhiều cung bậc như sóng biển “Dữ dôi và dịu êm/  Ồn ào và lặng lẽ” (Xuân Quỳnh). “Ngọn lửa tình” trong “Tôi yêu em” của Pu-skin là những đợt sóng ngầm, mãi mãi làm chói sáng nhân cách cao thượng của con người và tình yêu. Cảm ơn dịch giả Thuý Toàn đã cho ta một bản dịch vừa sát nghĩa vừa bay bổng./.

                                                                                                 LÊ XUÂN



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 01 Nov 2011 lúc 10:38pm
Núi đôi
           Vũ Cao
 
 

Bảy năm về trước em mười bảy,
Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng.
Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa,
Bữa thì em tới bữa anh sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
Đâu ngờ từ đó mất tin nhau.

Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.

Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người.

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ trông
Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông.

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Anh ghé thăm nhà thăm núi Đôi.

Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành, chết thủy chung.

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em.

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay,

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương nắng khuấy dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ
Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
Oán thù còn đó anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này?

Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

VŨ CAO

Bài thơ là nỗi xúc động chân thực của tác giả về một câu chuyện có thật ở vùng Xuân Dục trong kháng chiến chống Pháp. Giọng thơ tự sự đậm đà phong vị dân gian làm đẹp thêm mối tình kháng chiến, đồng thời tạo xúc động trước sự hy sinh của người con gái anh dũng.

Mối tình nên thơ gắn với hoài niệm về thời đẹp nhất của tuổi thanh xuân:

Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

Tác giả dẫn dắt vào không gian trong veo hương đồng nội, với những địa danh thân thương gắn kết đôi bạn trẻ: Xuân Dục, Đoài Đông, Núi Đôi…giản dị và tự nhiên tạo thành thương nhớ. Tình người, tình đất, tình quê lồng vào nhau:

Em vẫn đùa anh sao khéo thế

Núi chồng núi vợ đứng song đôi

Câu chuyện tình hết sức riêng tư, chân thật đã được gắn vào với hoàn cảnh quê hương ngày giặc chiếm đã đan cài vào đó bao tâm trạng uất nghẹn căm hờn và lo lắng bồn chồn của người dân núi Đôi. Cảm xúc này từng được diễn tả trong bài Đất Nước (1955) của Nguyễn Đình Thi:

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

Từ tâm trạng chàng trai trong bài thơ, ta thêm hiểu vẻ đẹp tâm hồn anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp luôn thắm đượm ân tình với quê hương, người thân. Tâm hồn người chiến sĩ luôn tồn tại một không gian hoài niệm, nhung nhớ đến cháy lòng – khơi lên tình cảm yêu thương và căm hờn trong lòng chiến sĩ, làm rõ vẻ đẹp giàu chất nhân văn. Lời dẫn chuyện của Vũ Cao tái hiện nguyên vẹn không khí những ngày kháng chiến, đánh thức bao cảm xúc của một thời bi hùng mà cũng ắp tràn thương nhớ của bao người. Sự hiện diện thường trực của hình tượng núi Đôi xuyên suốt những ngày chiến đấu là cách cắt nghĩa trọn vẹn ân tình với quê hương và thổi bùng ngọn lửa tình yêu mãnh liệt với cô gái Xuân Dục. Bao tâm trạng được diễn tả: khắc khoải ngóng đợi, “trăm nghìn căm uất”, náo nức ngày trở lại. Tự thân những lời thơ đã làm đẹp thêm bao nhiêu bóng hình người yêu trong tâm tưởng người chiến sĩ:

Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm

Em vẫn đi về những bến sông?

Chính vì vậy mà nỗi đau xót sẽ làm người đọc càng day dứt, như một sự tích tụ để vỡ oà trước sự mất mát. Hơn bao giờ hết, người đọc nhận ra tội ác của kẻ thù một cách cụ thể đến từng số phận: bắt đầu từ sự xuất hiện của chúng là một dự cảm mơ hồ, tiếc nuối:

Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn

Đâu ngờ từ đó mất tin nhau

để rồi trở thành sự ngóng đợi thắc thỏm: sương trắng người đi lại nhớ người. Mong đợi cháy bỏng đến khi thành hiện thực thì lại phải đối mặt với nỗi đau lớn nhất “giặc giết em rồi, dưới gốc thông”. Nỗi đau vụt đến quặn xé đã được diễn tả xúc động:

A nh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn đôi mà anh mất em!

Hình ảnh kỷ niệm yêu thương đã vụt biến thành chứng tích đau thương, nỗi đau rất thật ấy không của riêng ai bởi không chỉ là sự mất mát của anh mà là của cả quê hương, bởi “em sống trung thành, chết thủy chung”. Đó không hề là cảm giác bi lụy mà mang tính chất bi kịch, giúp người đọc ý thức được giá trị của chiến thắng. Nỗi đau càng lớn hơn khi được kể lại, nhưng sự vô tình ấy lại làm ta nhận rõ về người liệt sĩ - người yêu của anh chiến sĩ:

Mấy năm cô ấy vào du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng?

Mỗi lời kể như dao cứa vào tim, nhưng lạ thay lại làm ta thêm yêu mến, trân trọng người con gái sắt son anh dũng. Nỗi đau riêng hoà vào nỗi đau chung, ta hiểu thêm hơn về bản chất của tình yêu trong kháng chiến, với những con người bình thường mà cao cả đã vượt lên tình riêng, sẵn sàng cống hiến tất cả cho quê hương. Hình tượng người con gái Núi Đôi còn để lại suy ngẫm sâu sắc về sự hy sinh. Đó không phải là mất mát bình thường mà có khả năng biến đau thương thành sức mạnh. Bóng hình người con gái hoà vào bóng hình quê hương, thúc giục tâm tư của người còn sống, thành ý chi và quyết tâm vượt lên bất hạnh, hồi sinh sự sống. Với ý nghĩa đó, cô gái núi Đôi đã thành biểu tượng bất tử:

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

Nứa gianh nửa mái lều che tạm

Sương nắng khuây dần chuyện xót đau

Tình yêu bị kẻ thù hủy hoại nhưng không hề suy xuyển, mà hoà thành tình yêu lớn lao với quê hương, xóm làng, cha mẹ…Quê hương hồi sinh, đau xót nguôi ngoai nhưng không đem đến với con người sự quên lãng mà đã nhân lên thành tình cảm cách mạng, thành lời thề thiêng liêng trước Núi Đôi:

Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ

Oán thù còn đó, anh còn đây

Và: Nhớ nhau anh gọi: em, đồng chí

     Một tấm lòng trong vạn tấm lòng

Nhân vật trữ tình trong bài thơ đã hoá thân vào “vạn tấm lòng”, tình cảm nâng tầm thành tình cảm cách mạng. Tác giả không hề mô tả nước mắt trước bi kịch mà hình dung ra cuộc chiến đấu của người chiến sĩ lấp lánh ánh sáng bất tử của người con gái núi Đôi – sao trên mũ sao sáng dẫn đường, em hoa trên đỉnh núi thơm mãi bốn mùa. Làn hương ấy, vẻ đẹp ấy còn kết đọng mãi trong lòng người, nhắc mãi vẻ đẹp kết tinh từ những ngày chống thực dân Pháp hào hùng để làm nên sức mạnh chiến đấu chống đế quốc Mỹ, hướng về tương lai toàn thắng của quê hương./.

                                                            Trần Hà Nam



-------------


Viết bởi: Cunhan7nghiep
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 8:16am
 Ga Núi
                                     Thơ Nguyễn Chí Dũng

Ga núi lạnh chiều mưa càng vắng khách

Tàu về dừng một chốc vội đi ngay

Còn gửi lại hồi còi dài đẫm ướt

Để sân ga lặng lẽ giọt thu gầy…

Như tàu ấy, mai này… tôi có thể…

Thơ chia xa gửi lại thấm hơi chiều

Em đừng trách phút dừng nơi ga núi

Tôi thật lòng đã sống, thật lòng yêu

                                Nguyễn Chí Dũng

Một không gian hẹp. Mà vắng. Mà lạnh. Ga núi như lặng lẽ, trầm buồn trong một chiều mưa thưa vắng khách đi tàu. Nỗi buồn tỏa ra trong vắng lạnh của không gian, thời gian. Nỗi buồn lại dâng lên bởi cảm giác vội rời đi của con tàu về dừng một chốc.

Cảnh tàu đến, rồi tàu đi dễ đánh thức nỗi niềm chia li vốn thường trực trong trái tim nhà thơ. Với Những bóng người trên sân ga, Nguyễn Bính chẳng đã từng buồn thương cho những cảnh ngộ, thân phận chia lìa đó sao:

“Những cuộc chia lìa khởi từ đây

Cây đàn xum hợp đứt từng dây

Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc

Lần lượt theo nhau suốt tối ngày”

 
 
Ga Núi (ảnh minh họa)

Với Ga núi, tác giả Nguyễn Chí Dũng đã gợi cảm giác chống chếnh từ con tàu vội đi ngay. Và nỗi buồn chia xa như cất lên tiếng dóng dả từ tiếng còi tàu đẫm ướt trong chiều mưa thu:

“Còn gửi lại hồi còi dài đẫm ướt

Để sân ga lặng lẽ giọt thu gầy…”

Những tín hiệu ngôn từ trong thơ Nguyễn Chí Dũng như thu lại kín đáo trong niềm riêng mà hóa ra lại lan tỏa đến khôn cùng tiếng con tàu, cũng là tiếng lòng người gửi lại.

Vâng, người thơ đã tạo nên sự liên tưởng đồng nhất giữa con tàu cô đơn nơi Ga núi với con-tàu-thơ, cũng là con-tàu-thân phận. Một sự gửi lại đượm buồn – nỗi buồn thành thực của con người đã sống thật lòng và cũng yêu thật lòng:

“Như tàu ấy, mai này… tôi có thể…

Thơ chia xa gửi lại thấm hơi chiều

Em đừng trách phút dừng nơi ga núi

Tôi thật lòng đã sống, thật lòng yêu”

Câu thơ Như tàu ấy, mai này…tôi có thể… có lối ngắt nhịp 3/2/3 và với những dấu chấm lửng (…) nghe vừa tha thiết vừa thoáng chút thảng thốt thật lạ. Trong lời thơ chia xa gửi lại là dự cảm thật buồn về những điều sẽ đến như quy luật tất yếu của đời người. Phải chăng, nhà thơ muốn gửi lại một thông điệp tâm tình: Ga xép cũng giống cõi tạm của ga đời người; khoảnh khắc để được sống, để được yêu thật lòng mới thực sự đáng yêu thương, đáng trân trọng.

Bài thơ của Nguyễn Chí Dũng thấm tháp nỗi buồn thân phận mà sao vẫn ấm áp, ân tình. Và, Ga núi còn chứa trong đó một chút triết lí nhân sinh – thứ triết lí chỉ có thể chắt ra từ trái tim thật lòng đã sống, thật lòng yêu.



Viết bởi: Cunhan7nghiep
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 8:57am
TÌNH CA BAN MAI

Em đi như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
Em về tựa mai về
Chồi non xanh lộc biếc
Em ở , trời trưa ở
Nắng sáng màu xanh che
Tình em như sao khuya
Rải hạt vàng chi chít
Sợ gì chim bay đi
Mang bóng chiều bay hết
Tình ta như lộc biếc
Gọi ban mai lại về
Dù nắng trưa không ở
Ta vẫn còn sao khuya
Hạnh phúc trên đầu ta
Mọc sao vàng chi chít
Mai , hoa em lại về.


(Chế Lan Viên )

BÀI CA CỦA NIỀM TIN

Tình yêu là sự cộng hưởng của những khúc nhạc lòng. Đến muôn đời với muôn người vẫn vậy. Rời “ thung lũng đau thương” đến với “ cánh đồng vui”, nhà thơ của những “Bóng ma hời” và của những vần thơ trí tuệ đã để lại cho đời bản “tình ca ban mai”. Nhà thơ ra đi , bản “tình ca ban mai” còn ở lại.
Bài thơ năm chữ, thưa vần hơn cả những bài vè chẳng tạo sự thu hút bao nhiêu cho những kẻ thích đọc thơ một lần theo cảm tính. Em đi, em về, em ở - đời thường và dung dị quá, có gì nên thơ? Có đấy, nhưng chẳng dành cho những kẻ vội vàng. Tựa đề có hai tiếng “tình ca”, đại từ “em” rót đầy trên câu chữ, ta dễ dàng nhận ra nhân vật trữ tình – người phát ngôn của tình yêu.

Mọi đánh giá đều cần những chuẩn mực. “Em” trong những hành động chính là những chuẩn mực để tác giả đánh giá tình yêu. “Đi”, “về”, “ở” – hành động của em gắn liền với những dấu hiệu của sự tự nhiên trong mối liên hệ nhân quả tuần hoàn. “Em đi như chiều đi, gọi chim vườn bay hết” – vườn tình trở nên trống vắng. Em là MỘT mà cũng là TẤT CẢ. Câu thơ khiến ta hụt hẫng, nao lòng. Ôi, tình ca (!). Câu hỏi tự thán thốt lên, ta đã rơi vào cái “bẫy”. Nhà thơ chắc sẽ mỉm cười độ lượng với những kẻ “non thơ” và chắc hẳn cũng “non tình”. “Em về”, “em ở” - đó mới là “tình ca ban mai” . “Rừng non xanh lộc biếc…nắng sáng màu xanh che”- cùng với em, tình yêu trở về, bừng lên tỏa sáng. Những câu thơ ngập tràn hạnh phúc, “ lộc biếc” , “màu xanh” dịu mát tâm hồn. Ba cặp thơ đặt theo cấu trúc song hành với sự so sánh giả định giúp người đọc nếm vị tình trong từng chi tiềt đắt giá. Một chút thiếu vắng , hụt hẫng cho ta hiểu thêm giá trị của những gì đang có bên ta. Em đi – xa vắng, em về - gần gũi, em ở - gắn bó, đó chính là con đường chung thủy của tình yêu. Hạnh phúc cho ai được bước lên và đi mãi.
“ Tình em như sao khuya, rải hạt vàng chi chít” – sau hai lần so sánh, ta thấy lung linh cả một bầu trời sao hạnh phúc trong vòng quay của thời gian. Có lẽ, tình chỉ “mặn mà” khi đời có kẻ “tri âm”. Ghen tuông khiến tình yêu bừng cháy nhưng cũng chính nó thiêu rụi tình yêu nếu ta mù quáng. Chớ vội ghen hờn , đừng mau buồn bã, thất vọng khi “ em đi”. Nếu thật sự yêu nhau, hãy tin rằng “em về” và “em ở” để “sao khuya” sang mãi những đêm tình.
Lật ngược mạch thơ, hoán vị quan hệ nhân quả, tác giả khẳng định sức mạnh của tình yêu, khẳng định niềm hạnh phúc mà hai kẻ yêu nhau chung hưởng. “ Sợ gì chim bay đi, mang bóng chiều bay hết” hai câu thơ đầy thách thức dẫu sao vẫn chứa một nỗi lo sợ mơ hồ. Dễ hiểu thôi, cuộc đời này chẳng có gì tuyệt đối, chút nghi ngờ sẽ là gia vị của niền tin. Trở lại với nét khẳng định, ta dám chắc rằng, những câu thơ không chỉ chứa TÌNH mà còn đựng NGHĨA, những lời thề non hẹn biển chẳng phải là sợi dây ràng buộc bền chặt cho những đôi lứa yêu nhau. Cần có thời gian chung sống thì NGHĨA vợ chồng mới củng cố thêm TÌNH đôi lứa. Lúc ấy, dẫu rằng “em đi”, tạm thời xa cách, ta vẫn chẳng “sợ gì chim bay đi”. Niềm tin ấy chính là TÌNH, là NGHĨA. Ướp trầm hương của nghĩa vợ chồng, câu thơ chỉ thật sụ tỏa hương cho ai biết được những gì giấu trong thớ gỗ của cây gió đại ngàn. Phải tách mới thấy, đốt rồi mới thơm. "Trầm hương "trong thơ Chế Lan Viên – dẫu là thơ tình – không dành cho những kẻ hời hợt, nửa vời chỉ dám leo tới lưng chừng núi.
Tới đây người đọc sẽ thắc mắc: đâu là cơ sở của niềm tin?
“ Tình ta như lộc biếc
Gọi ban mai lại về”
Sức mạnh và sự bền chặt của tình ta, có gì tuyệt vời hơn thề? “ Em về” cho tình ta trổ “lộc biếc” và nếu “em đi” thì “lộc biếc” gọi em về. Sự “đổi ngôi” NHÂN – QUẢ đã tạo nên một vòng tuần hoàn để ôm ấp tình yêu vẹn toàn qua thử thách. Bởi thế, dù “ nắng trưa không ở” thì “ ta vẫn còn sao khuya”. Tình em luôn ở bên ta để xa cách chẳng phải là mất mát; nhưng ngôi “sao khuya” vẫn mãi mãi tỏa sang trên bầu trời tình ái. Niềm hạnh phúc ấy chẳng dễ gì có được.
Mối quan hệ nhân quả qua các hình ảnh là cách thức để Chế Lan Viên đánh giá tình yêu và khẳng định hạnh phúc. Hãy đặt những cặp thơ tương ứng bên nhau, ta sẽ thấy sự dụng công của tác giả:
- “ Tình ta như sao khuya
Rải hạt vàng chi chít”
- “ Hạnh phúc trên đầu ta
Mọc sao vàng chi chít”.
Tình em mang lại cho đời ta hạnh phúc. Đẹp thay những hạt vàng. Nhưng lẽ nào cái đẹp và hạnh phúc chỉ đến từ một phía? Phép so sánh một lần nữa lại tỏ ra cần thiết. “ Rải hạt vàng chi chít” và “ Mọc sao vàng chi chít” – Hai câu thơ gần như trùng lặp một cách có chủ ý giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp của một tâm hồn. Tất cả những “hạt vàng” của tình em gieo vào lòng ta đã mọc lên hạnh phúc, lòng ta là mảnh vườn ươm màu mỡ cho tình em bật mầm. Nếu ta vô tâm không nâng niu, ấp ủ thì những “hạt vàng chi chít” có thể nào “ mọc sao vàng chi chít”? Con người chỉ xứng đáng với hạnh phúc khi biết cho và biết nhận. Ở hai câu thơ này, tôi muốn hiểu chữ “ ta” là hai ta, cho dù cách hiểu ấy có thể phá vỡ tính cân đối cấu trúc “ em” – “ta” trong toàn bài. Chắc rằng bài thơ không chỉ vì một chút khập khiễng mà mất đi vẻ đẹp còn hạnh phúc mà nó muốn thể hiện nhờ đó lại trở nên vẹn tròn.

Biết ươm trồng hạnh phúc từ hạt giống của tình yêu, tác giả hoàn toàn có đủ niềm tin để khẳng định: “ Mai, hoa em lại về”. Câu thơ (và cả bài thơ) là sự xiết tay nhau giữa tình cảm và lí trí. Nó hướng về tương lai, hứa hẹn ánh sáng và sắc màu hạnh phúc của một tình yêu chung thủy.

“ Yêu là khó nói cho xuôi
Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh”
Điều “khó nói” vẫn nhiều người muốn nói…

Nguồn: PHONGĐIỆP.NET


Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:01am
Ghen

Giận em đập nát câu thề
Nắng hồng rơi vỡ dầm dề mưa tuôn
Bão dông giăng kín mây buồn
Gió tan tác nhớ, sóng cuồn cuộn đau...

Bây giờ người ấy trầu cau
Dửng dưng qua bến sông sâu, xuống đò
Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hóa đá... Hết chờ, hết mong!

Lội đò tiễn sáo sang sông
Câu thơ xưa thả bềnh bồng hoàng hôn
Vung tay bỏng lửa ghen hờn
Dở dang giờ nhặt cô đơn bốn mùa...

(Tuyển tập thơ Thơ Nhà Giáo Tp.HCM - NXB Trẻ 1997)


Thanh Trắc Nguyễn Văn


------------------------------------------
Vung tay bỏng lửa ghen hờn
Dở dang giờ nhặt cô đơn bốn mùa...

Thanh Trắc Nguyễn Văn đã đun sôi cái “ghen” lên sùng sục của sự đỗ vỡ ngang tàng lắm xót thương. Rồi thì cũng không tài nào lý giải nỗi cái ghen kia có còn chính đáng hơn cái nỗi buồn xót xa đang cào xé con tim người trong cuộc.

Giận em đập nát câu thề
Nắng hồng rơi vỡ dầm dề mưa tuôn
Bão dông giăng kín mây nguồn
Gió tan tác nhớ, sóng cuồn cuộn đau…

Cái ngỗ ngáo trong cách dùng từ của nhà thơ: “đập nát” nghe mà ớn lạnh. Nhưng không nó vỗ về cho cái nguồn cơn ghen tuông của chàng trai kia với cô gái mình yêu. Rồi nạt mỡ giữa tức tửi ghen tuông và nỗi uất ức, tủi buồn sâu lắng, lúc trào sôi, lúc tĩnh lặng lạnh lùng. Một cái ghen của một người bị phụ bạc rất ngu ngơ.

Bây giờ người ấy trầu cau
Dửng dưng qua bến sông sâu, xuống đò

Rồi thì cái nhìn bất lực, cam chịu phủ trùm lên cuộc tình vỡ tan kia một gam màu chia ly tàn úa, đơn sơ đến dửng dưng. Cái ghen đã chết đi không bằng, không cớ, không một lời thố lộ.

Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hoá đá… Hết chờ, hết mong!

Và rồi sự phũ phàng của tình cảm, hay sự vùi chôn sâu thẳm đã kéo bức màn sân khấu trò tình nông nỗi bằng ánh mắt ngu ngơ chưa hiểu nỗi gì của người trong cuộc. Ghen đã hình thành từ cái đập nát tàn nhẫn, vô tình kia giờ tắt lịm lạnh tanh trong nỗi chơ vơ vô tội vạ.

Thanh Trắc Nguyễn Văn đã vẽ lên một cái “ghen” rất đẹp, rất thực của một mối tình đầu dở dang. Một người đi, một kẻ ở lại, một cuộc tình kết trong chơ vơ sỏi đá, không thương, không nhớ, không ghen tuông hờn dỗi.

Ôi! Sao mà tha thiết cái triết lý bao dung trong tình yêu. Đến độ chín nào đó “ghen” chỉ là một thứ gì rất ngốc.

Một cách ghen đáng để học, đáng để trải nghiệm, vì ai dám nói rằng mình không có nỗi một lần "ghen".


Hàn Tuyết Băng


Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:13am
Chiếc lá đầu tiên
 
Em thấy không, tất cả đã xa rồi
Trong tiếng thở của thời gian rất khẽ
Tuổi thơ kia ra đi cao ngạo thế
Hoa súng tím vào trong mắt lắm mê say

Chùm phượng hồng yêu dấu ấy rời tay
Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước
Con ve tiên tri vô tâm báo trước
Có lẽ một người cũng bắt đầu yêu

Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu
Lời hát đầu xin hát về trường cũ
Một lớp học bâng khuâng màu xanh rủ
Sân trường đêm - rụng xuống trái bàng đêm

Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em
Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ
Ôi nỗi nhớ có bao giờ nhớ thế
Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi

"Có một nàng Bạch Tuyết, các bạn ơi,
Với lại bảy chú lùn rất quấy"
"Mười chú chứ, nhìn xem trong lớp ấy"
(Ôi những trận cười trong sáng đó lao xao)

Những chuyện năm nao những chuyện năm nào
Cứ xúc động, cứ xôn xao biết mấy
Mùa hoa mơ rồi đến mùa phượng cháy
Trên trán thầy tóc chớ bạc thêm

Thôi hết thời bím tóc trắng ngủ quên
Hết thời cầm dao khắc lăng nhăng lên bàn ghế cũ
Quả đã ngọt trên mấy cành đu đủ
Hoa đã vàng, hoa mướp của ta ơi

Em đã yêu anh, anh đã xa rời
Cây bàng hẹn hò chìa tay vẫy mãi
Anh nhớ quá! Mà chỉ lo ngoảnh lại
Không thấy trên sân trường - chiếc lá buổi đầu tiên.

HOÀNG NHUẬN CẦM

(Trích trong tập Súc sắc mùa thu-NXB Hội Nhà Văn - 1992)


--------------------------------------------------------
 
Trong veo mắt hạ

Có một nỗi bồi hồi khi bắt gặp tiếng ve. Thành phố với những hàng me, những chiều công viên nhàn nhạt nắng, bất chợt nghe tiếng ngân dài như khản giọng, mới hay rằng mùa hạ bắt đầu sang. Tuổi học trò ngày xưa ùa về như lật gấp từng trang, từng trang nhật ký xếp đầy những xinh tươi bè bạn. Trong chuỗi ký ức dài bừng lên những ánh nhìn trong sáng. Một dải sáng diệu kỳ - ánh mắt tuổi học sinh.

Có một bàn tay chìa ra với mình: kìa tiếng ve bắt đầu trở về rồi đó, có nhớ bài thơ lúc ra trường, bạn bồi hồi bày tỏ... Ừ có một bài thơ sâu lắng tận bây giờ. Ngày ấy tụi mình khoan khoái những vần thơ, ru giấc ngủ tuổi học trò mỏng mảnh, những vần thơ có tiếng ve sầu lanh lảnh, có chiếc lá đầu tiên, có bạn, có trường. Tất cả đều là những khoảnh khắc thân thương, dẫu không biết Hoàng Nhuận Cầm là ai cũng trầm trồ ngưỡng mộ: chắc ngày xưa nhà thơ cũng... học trò nhí nhố, mà sao trải vào thơ những xúc động vô ngần.

Những cảm xúc trong thơ rất thực, rất gần. Những tán me xanh, trái bàng, hoa súng, lũ học trò vui đùa liếng thoắng... trong thời khắc ra trường, còn phảng phất một tình yêu. Thơ kiệm lời, nhưng nói biết bao nhiêu, bởi con chữ như khía vào cảm xúc, khẽ khàng thôi, mà sâu rất mực, và tha thiết thân thương, câu chữ cũng hóa mềm: Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em; nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ; ôi nỗi nhớ có bao giờ nhớ thế; bạn có nhớ trường nhớ lớp, nhớ tên tôi?

Rồi tháng năm sang, mùa hạ sang, cây bàng xanh trái, nhớ khung cảnh bạn bè, trường lớp, mùa thi. Nhớ tiếng còi tàu bạn tiễn mình đi. Nhớ ánh mắt trong veo của một thời giờ không tìm thấy được. Mỗi lúc nhớ nhau, lại thầm gọi lời thơ hôm trước: "Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi...".

LAM ĐIỀN
( tuoitre.com)


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:19am
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề.”


----------------------------------------------

Cảm nhận về bài ca dao "Khăn thương nhớ ai"


Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật, là “thơ của vạn nhà”, là tấm gương soi cho tâm hồn và đời sống dân tộc, là niềm tự hào khôn xiết về cái cách mà những con người lao động Việt Nam trực tiếp bày tỏ long mình mà không cần nhờ đến bất kì một khuôn khổ thơ chính quy nào. Họ gửi gắm vào đó là yêu thương, sướng vui, đau khổ; là hoài bão, ước mơ, niềm mong mỏi… Không nằm ngoài chuỗi sáng tác mang đề tài thương nhớ làm nên bản sắc văn hoá dân gian, bài ca dao được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá là “hay nhất Việt Nam”, “ Khăn thương nhớ ai” cũng trĩu nặng niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu, sâu lắng và hay lạ lùng…:

“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề.”

Ca dao về nỗi nhớ là hợp âm các nốt trầm lắng đọng lòng người trong cung bậc tình yêu - vốn là đề tài muôn thưở và quen thuộc của người bình dân. Nỗi nhớ nhung nào có buông tha một ai? Mọi cảnh huồng, mọi số phận, mọi trang lứa; và nó nhẫn tâm bủa vây, bám víu lấy người con gái đơn chiếc. Nỗi nhớ ấy như muốn thiêu đốt tan chảy cả cõi lòng nhưng lại được che giấu kín đáo và ý nhị, không bộc lộ một cách buông tuồng, suồng sã. Tâm trạng nàng, biết tỏ cùng ai? Những câu hỏi không có câu trả lời, cô dành để hỏi những vật dụng quen thuộc nhất kề bên mình trong lúc cô đơn :

“Khăn thương nhớ ai?...
... Đèn thương nhớ ai?”

Những câu hỏi cất lên rồi lại trôi dạt mãi vào hư vô im tiếng, cứ nén chặt niềm thương nỗi nhớ trong lòng, để rồi chực trào tuôn ra thành tiếng thở dài triền miên. Cái khăn được hỏi đến đầu tiên và cũng được hỏi nhiều nhất’ cô gái hỏi vật trao duyên mang ý nghĩa thiêng liêng duy nhất của mình. Chiếc khăn ấy phải chăng đã ấp ủ biết bao hơi ấm bàn tay, đã thấm đượm nhiều vô chừng những lời ân ái mặn nồng :

“Gửi khăn, gửi áo, gửi lời,
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”

Giờ người đã xa, hơi ấm nồng đượm vương vấn nơi đây âu chỉ là nỗi buồn chờ đợi quá khứ, cái không gian cô quạnh cứ miên man trải rông trên nhiều chiều, nỗi nhớ cứ thế mà quanh quẩn trong tâm trí trăm mối tơ vò, khiến vật chứng nhân vô trí vô giác cũng động lòng mà:

“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt.”

Ba hình ảnh đặc trưng cộng hưởng thêm ba câu thơ láy cô gái tự nhân hoá chiếc khăn lên rồi hỏi: “Khăn thương nhớ ai?”, cùng lối vắt dòng láy tổng cộng sáu lần từ “khăn” thành một điệp khúc tạo cảm giác dường như nỗi nhớ càng thêm triền miên. Mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ kia thêm trào dâng cuồn cuộn trong lòng. Ôi, sầu đong càng lắc càng đầy! Cô gái đang hỏi chiếc khăn trao duyên hay đang đối thoại với bản thân mình đây? Đằng sau nghệ thuật đảo thanh đầu uyển chuyển, cách sử dụng hình ảnh vận động trái chiều, đằng sau hết thảy các sử “xuống- lên”, “rơi- vắt” của khăn hiện lên hình ảnh một con người rất rõ, con người ấy đang tiếc nhớ khôn nguôi về mối tình đẹp đẽ. Nhớ đến mức không còn tự chủ được dáng đứng bước đi, không thề đứng yên ngồi ổn được, cứ thất thểu ra vào, bởi vậy người ta mới có câu:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

Nỗi nhớ cứ rừng rực trong lòng, len lỏi vào từng dòng máu thớ thịt, thế mà vẫn không đủ để cản ngăn dòng nước mắt khóc thầm:

“Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt”

Nước mắt em rơi từ khoé lệ u sầu, rơi trên tiếng cười đùa hôm qua, và rơi trên u buồn hôm nay, những “ hai hàng nước mắt đầm đàm như mưa: làm khổ em biết bao nhiêu đêm dài. Nỗi nhớ sâu trong tâm hồn réo thúc bùng sôi nhưng được bộc lộ ý nhị, nọt ngào, mang màu sắc nữ tính, nhẹ nhàng. Cô gái trong bài ca dao là một con người biết trân trọng những kỉ niệm, biết ghìm nén lòng mình, dẫu cho trái tim đã băng hoại vì nỗi buồn man mác gậm nhấm lủi tàn mất rồi. Cái khăn đã giãi bày hộ cô gái cái nghẹn ngào đọng mãi trong lòng không nói ra được. Cái thứ cảm gáic không gọi được tên nặng trĩu trong lòng là thế, vậy mà cứ nhẹ tênh lan toả rộng khắp, thấm đượm vào không gian, vào cả sự đồng cảm nơi người đọc...

Nhưng không chỉ có thế, nỗi nhớ ở đây còn được đong đếm theo bước chân thời gian chứ không chỉ thăng trầm theo từng bước đi của nhân vật. Ban đêm là thời khắc để bất kì con người nào cũng có thể suy ngẫm về người, về đời, rất thật. Đối với cô gái, đó là lúc niềm khắc khoải lại càng làm tim cô đau nhói. Niềm đau ở đây được diễn tả theo một cách riêng, nhất quán và không thể nhầm lẫn. Điệp khúc “thương nhớ ai” được giữ lại trọn vẹn còn tâm sự được gửi gắm tiếp vào ngọn đèn đêm:

“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt”

Cả bài ca dao là một hệ thống các câu hát lẻ độc lập: khi đứng riêng chúng hoàn toàn có thể diễn đạt hết nghĩa, còn khi ghép chúng lại với nau, chúng thu hút người đọc và nỗi lòng trải rộng mãi hết không gian rồi lại sang thời gian. Trong sự ưu phiền vò võ của đêm khuya khắc vợi canh tàn, trong bóng đêm mịt mù đến hốt hoảng, đốm lửa ấm dù nhỏ nhoi trên đầu ngọn bấc kia chứng tỏ người thắp đèn vẫn chưa tài nào ngủ yên được. Cô gái gửi tâm tình ngổn ngang trăm mối những đêm thâu trằn trọc vào ngọn lửa nhỏ, hay chính ngọn lửa tình bất diệt luôn cháy mãi trong tâm can? Chừng nào lửa tình vẫn cháy thì chừng ấy lửa đèn kia tắt làm sao được. Vẫn là câu hỏi không có lời đáp, và vẫn là hình ảnh tượng trưng được nhân hoá, “ngọn đèn” cũng biết thổ lộ bao điều, buộc ta phải rung cảm suy nghĩ nhiều hơn, sâu sắc hơn những điều được đề cập trong lời ca da diết.


Bày tỏ, giãi bày hộ cô gái bằng giá trị tượng trưng rất biểu cảm theo lối nói vòng đầy cuốn hút, nhưng rồi rốt cuộc “khăn” và” đèn”cũng chỉ là cách nói gáin tiếp thông qua biện pháp nhân hoá. Đến dòng thơ thứ chín, không kìm lòng được nữa, thứ “cảm xúc không gọi được tên” trên kia chực vỡ oà, cô tự hỏi chính mình:

“Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên.”

Hình tượng các nghệ nhân dân gian sử dụng thật hợp tình hợp lý, nhất quán và xuyên suốt: “đèn chẳng tắt” vì “mắt không yên”, “mắt không yên” nên “đèn chẳng tắt”. Nỗi ưu tư còn nặng trĩu, khối tinh thần bất biến vẫn vẹn nguyên, tình yêu chung thuỷ chẳng đổi dời. Cứ khép đôi bờ mi đẫm lệ, hình bóng người thương lại hiện về, giấc ngủ dẫu có cũng vô cùng ngắn ngủi và mãi chập chờn những giấc vơ vô ảo vô thực. Năm lần hỏi, năm lần điệp từ “ai” vang lên thổn thức xoày vào lòng ta một nỗi niềm khắc khoải, đồg cảm bi ai. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, nên câu trả lời thực chất được khẳng địh ngay từ câu hỏi tưởng như không có lời đáp. Cách khẳng định này không được diễn đạt bằng ý chính mà mang tính nghệ thuật, thi vị hơn, mạnh mẽ hơn. Dẫu vậy, với tính chấ nghệ thuật rất riêng của văn học dân gian, chẳng mấy ai yêu quý bài ca dao này không tự lý giải được, rằng không ai khác ngoài chàng trai đã gây nên nỗi lòng cô đọng trong điệp từ “ ai” kia. Mười câu thơ bốn chữ còn hay về cách gieo vần: vần chân xen lẽ vần lưng, trong đó thanh bằng và thanh trắt lại xoắn quýt lấy nhhau tạn nên âm điệu luyến láy liên hoàn, bâng khuâng mãi. Và nếu cứ đi theo cung cách cấu tứ như thế, lòng cứ tự hỏi lòng, thì bài ca dao sẽ trải dài cùng nỗi sầu đến vô tận. Lần theo mạch xúc cảm xuyên suốt, qua tới mấy lần hỏi, điểm cao trào bất chợt xuất hiện đột ngột dưới hình thức câu tho8 lục bát, biến nỗi nhớ nhung dằng dặc kia thành:

“Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề”

Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập và gây rung động lạ kỳ chuyển sang lục bát nhẹ nhàng và xao xuyến, bởi lẽ, cô gái một mực thương nhớ người yêu vẫn biết lo lắng cho số phận trái ngang của mình. Cô nhớ lắm, đến nỗi:

“Qua cầu dừng bước trơng cầu
Cầu bao nhiêu nhịp lòng sầu bấy nhiêu”

Guồng quay cuộc sống thì cứ mãi lừng lững tiến về phía trước, hoàn cảnh trớ trêu không cho phép người con gái đơn thân mãi “ Thương thương nhớ nhớ sầu sầu”, xã hội không đồng ý để cô “Một ngày ba bận ra cầu đứng trông” . Từ “lo” được lặp lại đến hai lần, cùng chỉ từ số nhiều “những” chứng tỏ trong lòng cô gái đang có nhiều lo sợ mênh mông khi nghĩ về người mình yêu cùng một lúc; nhói cả tim khi nghĩ rằng anh sẽ thay đổi, sẽ như” vầng mây bạc giữa trời mau tan”; quặn cả lòng khi hay cả một xã hội phong kiến thối nát đang chực chờ ép duyên... Hạnh phúc quá mong manh và cái quyền tự do yêu đương cũng thật là bấp bênh, khi tình yêu tha thiết chân chính luôn bị nỗi sợ nơm nớp vô biên lấn át, “Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời”. Nỗi lo phiền trĩu nặng tâm can, xuất phát từ chính nỗi nhớ thươngkho6n nguôi, từ khát vọng yêu và được yêu, từ sự bức bối muốn được vùng dậy giải thoát. Tình yêu, nỗi nhớ nơi con tim mồ côi và nguội lạnh vẫn cứ chan chưa tình người, dạt dào sức sống mà không hề bị luỵ, đau thương, yếu hèn. Càng yêu, càng nhớ thì con người ta càng bộc lộ sự lạc quan trữ tình và chung thuỷ của mình:

“Chờ anh cho tuổi em cao
Cho duyên em muộn má đào em phai”

Để diễn tả được hết nỗi long cũng như tính nhân văn sâu sắc, bài ca dao mang những yếu tố thi pháp và biện pháp nghệ thuật quen thuộc: điệp từ, điệp ngữ gây cảm giác quyến luyến mà dồn dập; dùng hình ảnh tượng trưng và nhân hoá chúng đạt hiệu quả cao. Quan trọng hơn cả, ẩn chưa trong toàn bài ca dao là nét đẹp kín đáo, thu hút, đằm thắm nữ tính; khá đặc biệt so với các khúc ca thương nhớ khác dung hình thức biểu đạt trực tiếp…:

“Nhớ ai hết đứng lại ngồi,
Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.”

“Nhớ ai nhớ mãi thế này?
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

...Vì thế, “Khăn thương nhớ ai” luôn có một chỗ đứng nhất định trong ca dao nỗi nhớ nói riêng , toàn bộ kho tàng văn học dân gian nói chung và một vị trí riêng trong lòng người đọc. Vượt chặng đường “những mấy nghìn năm”, bài ca dao sẽ mãi là viên ngọc long lanh, tuy hình thành từ bàn tay thô kệch nhưng được gọt giũa bởi tấm lòng và tâm hồn đẹp đẽ cao quý của người bình dân Việt Nam.


-------------


Viết bởi: Hoami
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:29am
Chung ô

Trời đêm chợt đổ cơn mưa
Hình như
Trời chỉ muốn đùa chút thôi
Đường quê đi chật hai người
Chưa thân…
Mà dám đi đôi 
cũng liều !
Ai xui mưa tưới xiêu xiêu
Cái ô nghiêng nhẹ
theo chiều giọt mưa
Mình về……mang nợ cái ô
Còn ta mắc nợ
cơn mưa quê người .

                                       PHI TUYẾT BA
 

Trời mưa hai đứa che chung một chiếc ô thì đã có vẻ ‘’văn minh tiến hoá ‘’ở mức cao rồi! Ông cụ bà kỵ ta xưa chỉ che chung một tàu lá chuối non thậm chí một cộng khoai môn bứt vội mà một ngày nào đấy không xa cũng quấn quýt vợ chồng .Có điều tại sao hai người lại che chung một cái ô trong cái thời gian môi giới tuyệt diệu’’trời đêm’’ nhỉ? Lai thêm’’chợt đổ cơn mưa ‘’nữa thì mới khéo làm sao ! Dẫu ông trời chỉ ‘’muốn đùa chút thôi’’ hay đùa dai cặp trẻ này cũng quá chừng  hạnh phúc  bởi ông đã làm tròn nhiệm vụ tạo dựng cơ sở ban đầu cho hai trẻ:
‘’Chưa thân
  mà dám đi đôi
    cũng liều !’’
Tôi cho rằng đợi đến đêm ông trời đùa cợt ‘’đổ cơn mưa’’ tạo cơ hội ‘’đường quê đi chật’’ không phải chỉ là sự khao khát  mong đợi của riêng anh chàng rắp ranh bắn sẻ mà có cả dụng tâm của cô nàng nữa vì cớ phụ nữ họ ý tứ lắm không đuểnh đoảng như cánh đàn ông  gặp vui là cứ ba hoa thiên địa để đến khi đêm dần buông, mưa mù bay mới quýnh quíu ra về .Cái cơ hội tạo đà cho sự gặp gỡ xem ra có vẻ rất tình cờ mấy anh con trai’’khờ khạo lắm ngu ngơ quá’’ làm sao mà phát hiện ra sự kín kẽ của cô nàng cho dược .
   ‘’Đường quê đi chật hai người’’
Đường quê ngày xưa thường chỉ nho nhỏ xinh xinh mấy khi có được con đường thênh thang mà dù có rộng bao nhiêu đi nữa cũng phải ‘’đi chật’’ trong hoàn cảnh chiéc ô che cho phép, nếu không muốn một trong hai người bị ướt.Chắc chắc không anh chàng galăng nào lại để cho người chung ô bị ướt dĩ nhiên phải hứng chịu cơn’’mưa tưới xiêu xiêu’’ về phía mình.Còn cô gái đi nhờ ô người ta lại nỡ nào  chiếm phần tiện nghi để người bạn đường ướt át thì coi sao tiện dù anh ta có tự nguyện chăng nữa thì sự nhân hậu của một người phụ nữ có văn hoá cũng không cho phép cô làm thế.Vì thế cho nên’’đi chật’’ là một việc làm phải đạo không ai cảm thấy mình không nên không phải trong tình huống này.Ai đã qua cái thời tuổi trẻ đi chung ô bên em trên con đường quê mưa tuôn, mưa xối  giưa trời đêm, mùi hương chanh hương bưởi trên tóc nàng bị gió quê truy đuổi phải trốn vào lồng ngực vạm vỡ  đầy khát khao của chàng trai mới  thấu cảm được giây phút thần tiên mà nhiều năm sau ‘’tuổi cao tóc bạc cái râu bạc’’ muốn tìm lại chỉ còn trong tuổi thơ ký ức xa mù.
   ‘’Cái ô nghiêng nhẹ
      theo chiều giọt mưa’’
‘’Gió mưa là bệnh của trời mà’’ nó rơi theo chiều nào mà chả được ,bổn phận anh con trai là phải nghiêng nhẹ cái ô theo chiều giọt mưa để em khỏi ướt.Mỗi lần nghiêng nhẹ như vậy…Phi Tuyết Ba không nói gì thêm bởi lòng tới rồi bút bất tất tới nữa mà chi ..Hãy để nó ở ngoài lời.
  ‘’Mình về …mang nợ cái ô
     Còn ta mắc nợ
    Cơn mưa quê người ‘’
Hai người chung ô ai cũng nợ cả ,một người mắc một người mang.Có gì khác nhau trong cách dùng từ của tác giả? Không khéo sự suy diễn của chúng ta trước đây  sai trật cả.Vì sao cô gái phải mang nợ mà chàng trai chỉ mắc nợ mà thôi? Bởi vì mắc nợ thì còn có ngày trả được chư nợ đã  mang  thì ‘’xuống tuyền đài’’ cũng vẫn chưa tan.Niềm vui đang rộ bỗng vội cắt ngang bởi một nét buồn ,hỉ kịch nhuốm màu bi kịch :Có thể một ngày không xa em sẽ lên xe hoa với người do mẹ cha em lựa chọn, đêm nay trời giúp em tạo ra cơ hội cho hai đứa được gần nhau một lần,chưa thân chớ nào phải chưa yêu  chắc  cô gái ấy có yêu chàng trai lắm lắm mới dám liều đi đôi như vậy.Cô sẽ mang nợ cái ô suốt đời mà không bao giở trả được.Cô mong người con trai ấy sẽ trả được món nợ ‘’cơn mưa quê người’’ với một hình bóng khác.Ấy là tôi nghĩ cô gái tự an ủi như vậy chứ chàng trai sẽ không bao giờ trả được. Suy cho cùng trong tình yêu đích thực mắc cũng là mang.

Nguyễn Hàn Chung


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:58am

TRÁI TIM MẮC CẠN

Dòng đời con nước vèo qua
Trái tim mắc cạn trong tà áo bay
Cỏn con một sợi lông mày
Mà đem cột trái đất này vào anh

Trần Mạnh Hảo
  

    ‘’Dòng đời con nước vèo qua’’
Câu lục đàu tiên là một lời nói thông thường ,nêú không nói môtíp so sánh khá mòn cũ.Ai có một chút chiêm nghiệm việc đời đều có thể  buông ra một lời cảm khái nhân sinh như thế huống hồ là nhà thơ –người nhạy cảm nhất với bước đi không ngoái lại của thời gian.Câu thơ đầu chỉ có giá trị dẫn dụ người đọc nhích tới gần nơi có đạo phục binh bằng phục bút.
     ‘’Trái tim mắc cạn trong tà áo bay’’
Câu bát này dụng ý kỹ thuật quá rõ.Hình ảnh thơ cũng không mới hơn cách nói của Nguyên Sa’’Hay là em gói mây trong áo’’.Mạch thơ đã lộ ra ngay từ hàm nghĩa từ vựng đầu tiên.Tuy nhiên kỳ binh mai phục vẫn còn ẩn tàng chưa lộ diện.Người đọc còn khổ công kiếm tìm.
   ‘’Cỏn con một sợi lông mày
Mà đem cột trái đất này vào anh’’
Hai câu cuối mới thực sự là ngón ‘’đà đao, là nhát thiên tài loé ở cuối câu’’(Chế Lan Viên ) tuôn trào ẩn ngữ trong mối quan hệ biến hoá mà đồng nhất.Tứ thơ không phải đã khác thường nhưng cách ngoa dụ khá độc đáo.Tác giả sử dụng động từ ‘’cột’’ thật diệu.Sợi lông mày cỏn con của một hình bóng tha nhân nào đó đã ‘’cột người mắc cạn với trái đất này.Đây là sự cột bắt buộc của tự nguyện nếu con người còn muốn sống cho đáng sống.Hình tượng ngôn từ có đôï sáng rõ, xuyên thấm,có sức khơi gợi,tác động vào những vỉa tầng khao khát ,cống hiến vốn là một thuộc tính cố hữu của  bất cứ con người nào. Mối quan hệ tương tác giữa hai vật thể cực nhỏ’’một sợi lông mạy’’ với một vật thể cực lớn’’trái đất này’’ có sự mê hoặc của từ ‘’cột’’ kết dính làm tăng độ phấn hứng của người cảm thụ.hoá giải sự xói mòn về đạo đức ,sự tha hoá về nhân cách của một số người thờ ơ vô trách nhiệm đối với chức năng người cao quý chỉ nhằm thoả mãn bản năng con đầy dục vọng.
 Bài thơ có 4 câu nhưng có đến 3 câu làm nhiệm vụ dọn đường để câu bát cuối cùng thực thi  sứ mệnh ‘’cột’’ lãng mạn và vinh quang.Tác dụng giáo dục của bài thơ rất lớn,giá trị nhân văn rất cao thế nhưng không hề thấy sự cao giọng giáo huấn nào trong ngôn ngữ thơ.Tác giả dẫn dắt chúng ta từng bước cảm nhận sự luân chuyển của thời gian,chiếm lĩnh cái đẹp hình thể đến cái đẹp vĩnh hằng,tự nguyện cột đời mình vào bao nhiêu ngang trái bất công trên trái đất này.
Bài thơ Trái tim mắc cạn sở dĩ neo đậu lâu dài trong người đọc chính là nhờ ở sự mắc cạn đến độ rất sâu của tấm lòng thi sĩ.Và khi đã thực thi sứ mạng ‘’giải bày tâm sự và tuyên truyền niềm tin’’(Phùng Quán) ta còn có thể đòi hỏi gì ở nhà thơ hơn nữa.



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:00am

Tự tình II

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn!
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
   
                               
Hồ Xuân Hương


Câu phá chưa có gì ghê gớm cả bởi trách nhiệm của nó là làm nền cho tứ thơ, một loại nền bị cơn lốc thời gian thúc giục ’’văng vẳng trống canh dồn’’ câu thừa kia mới bắt đầu khuấy động  kiếp nạn dập vùi vốn là dĩ mệnh của phận đàn bà lẽ mọn.
  ‘’Trơ cái hồng nhan với nước non’’
Ném từ trơ vào đầu câu là đã bức bối xót xa lắm rồi.Không ,thời gian ấy một người phụ nữ lẻ loi cô độc nghe tiếng trống sang canh dồn đuổi,ức hiếp nụ xuân tình rạo rực đã phản ánh  nỗi khát khao hạnh phúc vốn là một đặc quyền được hưởng của con người.Nhưng còn kinh khủng hơn khi tác giả kéo theo cụm từ ‘’cái hồng nhan’’ làm bổ ngữ cho động từ trơ tạo thành một vế câu ‘’trơ cái hồng nhan’’.Không còn là mảnh, tấm mà chỉ còn cái hồng nhan trơ tráo ,chai lì  mọi sự bởi chỉ cần cất lên hai tiếng hồng nhan đã thấy nỗi bạc mệnh ,đa truân hiển lộ ngay trong hàm nghĩa ngôn từ, huống hồ nữ sĩ lại dùng từ’’ cái’’ áp giải người đàn bà đi suốt tháng năm tuổi trẻ trong cảnh lạnh lùng của phận đời làm mướn không công.Chính vì thế người phụ nữ trong bài thơ mới ‘’dục phá thành sầu’’ bằng việc mượn chút hương nồng làm pháo thủ’:
  ‘’Chén rượu hương đưa say lại  tỉnh’’
Cổ nhân đã trải cảnh nâng chén tiêu sầu mà đời nào đặng bởi say rồi cũng đến lúc tỉnh’’khi tỉnh rượu lúc tàn canh’’ chính là lúc trái tim tỉnh thức hơn lúc nào hết.Nỗi sầu ngỡ như tiêu tán lúc này lại hiện về .Bệnh sầu sau mỗi lần tái phát sức công phá càng tăng lên gấp bội nhất là khi ‘’Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn’’.Tròn làm sao được khi cái ách nam quyền phong kiến đồ sộ ngàn đời cứ đày đoạ những mảnh  hồng quần liễu yếu đào thơ.Càng thương Bà chúa thơ Nôm biết bao khi bà dùng từ ‘’chưa’’. Chưa chứ đâu phải là không,trong tận cùng tâm thức của bà vẫn cứ le lói một niềm tin vào cái sự ‘’tròn’’ không tưởng ấy.Tuy nhiên chỉ cần một chút lạc quan kín đáo loé lên đã làm nhà thơ phấn chấn:
  ‘’Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
            Đâm toạc chân mây đá mấy hòn’’
‘’Xiên ngang,đâm toạc’’những động từ cực mạnh phản ánh sự vùng cựa quẫy đạp của một con người ngồn ngộn sức sống,tràn trề sinh lực thế mà phải cam chịu ‘’trơ cái hồng nhan’’ trước một hiện thực khách quan tàn nhẫn không làm sao cải biến.Nỗi khát khao mãnh liệt không có đường đào thoát tác giả đành trốn lánh vào các từ ‘’xiên,toạc.đám.hòn’’.Phải chăng đó cũng là một thứ rượu chữ để làm khuây nỗi khát? Mà cũng nhờ thế đời mới  hưởng được chút dư hương của chủ nhân Cỗ Nguyệt Đường.
    ‘’Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
                       Mảnh tình san sẻ tí con con’’
Người ta thường nói’’xuân bất tái lai’’ nữ sĩ họ Hồ lại nói ngược ‘’xuân đi xuân lại lại’’.Từ xuân đã được bà dùng một cách biến hoá ,xuân mà lạï ‘’ngán nỗi’’,xuân mà’’ lại lại’’ thì chắc hẳn từ xuân phải được cảm theo một hàm nghĩa khác có khi tương phản hoàn toàn với nghĩa vốn có của từ.Ta nghe đâu đây tiếng thở dài chua chát ‘’mảnh tình’’ chứ nào phải khối tình đồ sộ gì cho cam mà cũng bị san sẻ còn một ‘’tí con con’’.Tí con con thì làm sao bù đắp nỗi sự quẫy đạp bạo liệt của một trái tim khao khát sống,khao khát yêu đến độ muốn ‘’xiên ngang ’’muốn ‘’ đâm toạc’’ mọi ràng buộc khắt khe của thói đời.
 Tiềng gà, tiếng trống canh văng vẳng,tiếng mõ cốc, tiếng chuông om vang lên trong ba bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương khuấy động từ cổ nhân đến lai giả .Người phụ nữ tuy bị bao vây tứ phía bởi những tập tục cổ hủ, khắt khe truyền đời của xã hội nam quyền phong kiến, trong nỗi chua xót lẽ mọn trào dâng vẫn hóm hỉnh ,trào lộng.Và điều đó  cũng là cách thế sống của những ‘’cái hồng nhan ‘’ trong bi kịch đời mình.


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:02am

                                Ngẫu hứng Valentin

                                                               Ánh Tuyết
Valentin với ngưòi ta
Mình đâu còn thuở nhận hoa của người
Bồi hồi ,mình với mình thôi
Bước cao , bước thấp đường đời chênh vênh

Năm qua nhanh , tháng qua nhanh
Mới thôi đã lại mấp mênh cái già
Người như ảo ảnh phía xa
Mải mê, ta vớt trăng ngà đáy sông

Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Xót cơn đại hạn, khát trông mưa rào
Hình như… xuân cũng cồn cào
Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai.
                                                 (Đánh thức than hồng –NXB Hội Nhà Văn 2005)


Thoạt tiên mới đọc 2 câu thơ mở đầu  bài thơ Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết in trên báo Văn Nghệ dù chưa hân hạnh quen biết  nữ thi sĩ tôi đã  võ đoán muốn nói  lời đôi co với tác giả: Tuổi nào là tuổi còn thuở nhận hoa của người tuổi nào thì mất quyền công dân tình yêu ? Theo thiển ý của kẻ này thì bất kỳ ở thuở tuổi nào cũng ‘’còn‘’cả .  Người trẻ  trung tươi như hoa  nhận  cái đẹp của hoa tươi , người già cỗi như hoa úa mà thậm chí hoa tàn nhận cái đẹp riêng của hoa tàn chẳng thế mà cụ Nguyễn Tiên Điền bật đèn xanh  cho chàng Kim thốt một lời nghịch lý mà thuận tình  đó sao :  ‘’hoa tàn mà lại thêm tươi- trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa‘’ Tình yêu nào phải độc quyền của tuổi trẻ .  Nhà  thơ Phan Khôi đã từng  khơi mở quyền yêu của cặp tình xưa hom hem, héo hắt trong bài thơ Tình già bất hủ ‘’Hai mươi bốn năm sau ,tình cờ đất khách gặp nhau – Đôi cái đầu đều bạc’’  thế mà bất chấp cái  dâu bể hai mươi bốn năm trời họ vẫn còn ‘’ liếc đưa nhau đi rồi ,con mắt còn có đuôi ‘’.Còn sâu đậm hơn gấp bội lần việc nhận hoa của đôi trẻ đấy chứ! Thật thế , có khi  tình yêu đã lặm vào phế phủ  nó còn công phá ghê gớm gấp mấy lần cái tình yêu bùng phát mãnh liệt nhưng chóng lụi tàn của nam nữ thanh niên  ! Nghĩ thế mà nghe em than thở ‘’Bồi hồi mình với mình thôi- Bước cao, bước thấp đường đời chênh vênh ‘’anh vẫn thấy một nỗi xót xa không thể kìm nén .Em than oán cái gã thời gian vô tình ‘’ năm qua nhanh tháng qua nhanh ‘’ người con gái  ‘’Mới thôi đã lại mấp mênh cái già ‘’ để rồi bóng hình năm cũ  như ‘’ ảo ảnh phía xa’’ còn chủ thể trữ tình thì lại ‘’mải mê vớt trăng ngà đáy sông ‘’.Ai vớt , tác giả không nói rõ rành em hay là anh ,tác giả lại  hạ đại từ ta như là sự khái quát một quy luật vĩnh hằng tất yếu : không ai đủ sức ‘’lạy muôn vì tinh tú nhé –xin đừng luân chuyển để thời gian – chậm đi……”nên đành phải làm một công việc lãng mạn đấy ,thi vị đấy mà cũng đầy  xót xa cay đắng  bởi có ai dẫu là thi tiên họ Lý chăng nữa vớt bóng tìm xưa đặng nào ?
Câu thơ ‘’Dốc bồ, thương kẻ ăn đong ‘’tác giả cũng dùng lối nói phiếm chỉ không khẳng định ai dốc bồ bố thí cho kẻ ăn đong một chút cho tình yêu nhưng đến câu thơ tiép theo ‘’xót cơn đại hạn ,khát trông mưa rào ‘’thì cái tôi chủ thể buộc phải xuất đầu lộ diện Ai găp cơn đại hạn ,khát khao một trận mưa rào nữa nếu không phải là tác giả sau khi cúi thân vớt cái trăng ngà lên cồn cào một nỗi “xuân đi xuân lại lại’’khi bắt gặp cái ngày tình yêu  dạt dào tuôn chảy vào cái bồ tình yêu trống không trong tâm hồn nữ sĩ .
Mượn cái tiêu đề bài thơ Ngẫu hứng Valentin tác giả muốn  người đọc
hiểu rằng đây chỉ là phút ngẫu hứng nhất thời khi ngày tình yêu tới mà ta đã mấp mênh cái già không còn ai đoái hoài  đón đưa biếu, tặng  nữa phải chua xót  thốt  lên ‘’bồi hồi mình với mình thôi ‘’.nhưng rồi cuối cùng vẫn bộc tỏ sự lạc quan đáng kính nể khi tác giả tự khẳng định ‘’ Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai’’ ..Tháng hai  tình yêu của người  trẻ trung nồng nàn say đắm bao nhiêu thì tháng  hai  tình yêu của  người  già cũng cồn cào không kém đắm say bấy nhiêu mà có phần bền chặt hơn là đằng khác, không hơn sao’’ vẫn dạt dào tháng hai ‘’
                   Ngẫu hứng Valentin  của Ánh Tuyết cũng không đào thoát khỏi  môtip cảm khái tình yêu  ngoái lại thời trai trẻ của những người mải lo toan ‘’ áo xiêm ràng buộc ‘’ chợt một ngày nào đó cảm thấu bước đi không ngoái lại của thời gian mà bồi hồi ngẫm ngợi.  Thôi người ạ!Ai muốn bước cao bước thấp  hái  trái cấm vào thời gian nào còn  tuỳ thuộc vào thể trạng tình yêu, bản chất tình yêu của cái đường đời chênh vênh ấy . Tuy nhiên tôi muốn thầm thĩ  với tác giả Ngẫu hứng Valentin một câu này :Người nằm dưới đáy mộ sâu cả mấy  nghìn năm  còn thượng hưởng hoa hương của khách đa tình đời sau huống hồ…Đừng’’ hình như’’ , đừng ‘’cũng ,vẫn ‘’nghe nó miễn cưỡng và buồn làm sao ấy’’. Xin được chung vốn với tác giả mấy câu thơ của người bình “
Bây giờ có thể người ta chán những người già đang yêu –Khi họ chiều- những người già không dám yêu mới làm ta chán ‘’.
 
Nguyễn Văn Chung


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:05am

CON ĐƯỜNG

Nếu anh đi với người yêu
Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi
Con đường ta đã dạo chơi
Xin đừng đi với một người khác em
Hàng cây nay đã lớn lên
Vươn cành lá để êm đềm chạm nhau
Hai ta ai biết vì đâu
Hai con đường rẽ xa nhau xa hoài

Nếu cùng người mới dạo chơi
Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu

                                         PHAN THỊ THANH NHÀN

 

Đã chia xa rồi ,yêu ai  đi với ai là quyền của anh,em có quyền gì đâu mà can thiệp vào chuyện riêng tư của người khác. Chỉ xin anh nhớ cho một điều ’’một điều nhỏ thôi’’. Nhỏ mà không nhỏ một chút nào:’’Con đường ta đã dạo chơi-Xin đừng đi với một người khác em’’

 Đâu phải là sự ghen tuông đầy hệ luỵ của thói đàn bà? Sao người cũ lại nghiệt đến thế.Van xin mà còn hơn là cấm đoán.Con đường ta đã dạo chơi ấy là cõi riêng của cuộc tình đã mất là thánh địa tình yêu mà em là một tín đồ ngoan đạo.Anh không có quyền ‘’đi với một người khác em’’ để phá vỡ sự thiêng liêng em hằng cát giữ. Con đường ,hàng cây-chứng nhân của cuộc tình hai ta ‘’nay đã lớn lên’’ đã’’ vươn cành lá để êm đềm chạm nhau’’.Thế nhưng hai con người ‘’chân bên chân ,hồn bên hồn ‘’ấy lại ‘’rẽ xa nhau xa hoài’’.Thật buồn mà không biết vì đâu ! Từ con đường trong ký ức tác giả nâng lên thành con đường hình tượng của hai người bắt đầu từ ngã rẽ chia xa.

 Lan man trong chiều sâu kỷ niệm song cô gái không quên quay về hiện thực với lời nhắn nhủ’’Nếu cùng người mời dạo chơi-Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu’’.Vẫn là nẻo đường vui của mối tình đầu vụng dại dù nẻo đường vui ấy rồi cũng dẫn đến sự ly tan.Với em nẻo đường xưa ấy vô cùng quý giá.Xin anh đừng cùng với ai kia dẫm lên trái tim em.

 Có thể những lời tán trên đây là một hướng tiếp cận bài thơ “”Con đường’’ lâu nay của bạn đọc.Người viết bài này lại nghĩ đến một hướng tiếp cận khác.Cô gái nhỏ nhẻ ‘’xin’’ người tình cũ đến những ba lần.Lần đầu ‘’xin anh nhớ’’,lần thứ hai’’xin đừng đi’’ và lần thứ ba ‘’xin anh tránh’’.Quả có hơi lạ,thường những cuộc tình đã tan vỡ dù cho vì bất cứ nguyên nhân nào đi nữa người ta cũng tránh chạm mặt nhau hoặc gặp nhau là để  mát mẻ, trách móc, chua chát với nhau chứ mấy ai lại hạ mình ‘’xin’’ nhiều lần như vậy.Rõ ràng không phải xin  cho mình ,phẩm cách của người phụ nữ không cho phép cô gái làm thế.Lời xin lại có vẻ quyết liệt chứ không chịu nân nhượng một chút nào? Chỉ có một cách lý giải duy nhất là cô gái không  xin cho mình mà cho tha nhân –một cô gái  nào đó trong giả thiết là người mới của anh.Anh đã cùng em dạo chơi trên nẻo  đường vui dẫn đển sự ‘’xa nhau xa hoài’’ lại còn muốn tái diễn bi kịch với một người con gái khác nữa sao? Con đường ấy chỉ vui ban đầu và khổ về sau và người nhận chịu nhiều nhất vẫn là người phụ nữ.Vì thế van xin anh đừng đi,van xin anh tránh nó dể khỏi làm khổ người ta .

 Bài thơ thấm một sự cảm thông’’chút phâïn đàn bà’’ giữa hai người phụ nữ hoàn toàn xa lạ vì thế mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Nguyễn Văn Chung

-------------


Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:12am
Khi người ta không còn yêu nhau của Phi Tuyết Ba
 

Mọi lời giải thích
nào có cần đâu
Khi người ta không còn yêu nhau
có lẽ tốt nhất là nên im lặng

Vườn hoa đỏ trút màu thành hoa trắng
nhưng không là hoa trắng thưở ban đầu
Khi người ta không còn yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn
mùa quả nào cũng đắng…

Thế giới đông người ư?
nhưng thiếu vắng
Khi người ta không còn nữa yêu nhau
giá như quên được nỗi đau
có lẽ đó là điều tốt hơn điều tốt nhất

 
Trong bài thơ Vô đề ông Lý Thường ẩn từ thuở Đường Thi mù tít mù tăm kia đă từng đau đớn than thở cho nỗi niềm chia biệt của các cặp chàng nàng: “Tương kiến thì nan biệc diệc nan”. (Tạm dịch: Gặp nhau đă khó xa nhau lại càng khó hơn nữa). ấy là họ yêu nhau quá thể tơ lòng vấn vít bị hoàn cảnh khách quan rẽ thúy, chia uyên nên ruột rầu, gan héo vò xé tâm can là chuyện tất yếu rất bình thường. ở đây mới nhập vào cái tiêu đề bài thơ đă thấy không phải vậy:

Mọi lời giải thích
nào có cần đâu
khi người ta không còn yêu nhau

Phân trần giải thích chẳng còn tác dụng gì nữa khi hình đă chia, bóng đă tách trở thành 2 thực thể xa lạ, còn gì nữa đâu để níu kéo. Im đặng là tốt nhất, khoảnh khắc vô ngôn ấy sẽ làm hai con người không còn yêu nhau nữa đốn ngộ bao điều. Hệ quả tất yếu cái gì xảy ra sẽ phải xảy ra không thể nào khác được:

Vườn hoa đỏ trút màu thành hoa trắng
nhưng không là hoa trắng thuở ban đầu
khi người ta không còn nữa yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn…

Tôi nghĩ Phi Tuyết Ba hơi kỹ tính, chị sợ người ta hiểu nhầm màu hoa trắng trong câu thơ đầu khổ 2 nên mới thêm một câu lý giải tiếp theo. Có lẽ không cần đâu chị ạ, “trắng” làm sao được nữa. Từ trút đă nói hết rồi. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” – cái lần đầu tiên rụt rè nắm lấy bàn tay thon nhỏ của em, đặt nụ hôn vụng về lên làn tóc mây huyền diệu, “bao nhiêu năm qua rồi lòng khôn nguôi gió băo” vẫn phảng phất trong ta mùi vị nụ hôn đầu, màu trắng trong của khu vườn tình yêu thuở ban đầu thiêng liêng đến vậy. Hơn nữa khi khu vườn tình yêu đă bừng nở thành “vườn hoa đỏ” thì tình đă thâm sâu biết đến nhường nào? Màu đỏ ấy có thể dần phai theo dòng chảy của thời gian nhưng “trút màu thành hoa trắng” thì nhất định màu hoa trắng ấy phải là biểu hiện của màu hoa tang “và một vòng hoa trắng rợn người” (Nguyễn Bính).

“Khi người ta không còn yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn
mùa quả nào cũng đắng…”

Sự việc không có gì mới mẻ nếu không nói là quá cũ, tại sao nhà thơ nói đi nói lại làm gì trong suốt hai khổ thơ như thế, có tiềm ẩn một cuộc mai phục nào chăng? Người đọc phải huy động hết khả năng tiếp nhận chiếm lĩnh của hồn thơ mới vỡ lẽ ra một điều: tác giả sử dụng thủ pháp nghịch dị muốn lạ hóa một điều đă quá quen thuộc, từ đó, giúp người đọc hiểu ngược lại vấn đề, thấy được giá trị đích thực của tình yêu vĩnh cửu. Điệp khúc “Khi người ta không còn yêu nhau” thể hiện bản lĩnh nghệ thuật mượn hình nói bóng của một tài nghệ cao tay.

Trong khổ thơ cuối cùng, ba câu đầu là sự kết ý của hai khổ trên nhưng không khép ý mà là rút ra một hàm nghĩa khác: Nỗi hăi sợ của con người “Khi người ta không còn nữa yêu nhau”. Quả thật là đáng sợ, màu hoa tang chế, đêm tối mịt mùng, mùa quả nào cũng đắng, sự cô đơn thiếu vắng… dù xung quanh có cả một “thế giới đông người”. Điệp khúc lại được tác giả sử dụng nhấn mạnh ở khổ cuối nhưng không hạn hẹp như trong 2 khổ thơ trước. Rõ ràng tác giả rất có ý đồ nghệ thuật khi thêm vào điệp khúc một từ “nữa” – “Khi người ta không còn nữa yêu nhau”. Sự đơn lẻ đă được nâng lên tầm khái quát, không chỉ là tình yêu cá nhân với cá nhân mà là tình yêu giữa con người với con người, con người với những điều thiêng liêng khác. Giá trị nhân văn của hình tượng thơ tự nhiên thấm vào mạch cảm xúc của người đọc không cần qua một kênh tiếp dẫn có tính cách giáo huấn nào khác. Chính từ mạch cảm xúc ấy tác giả nêu ra một sự giả định:

Giá như quên được nỗi đau
có lẽ đó là điều tốt hơn điều tốt nhất…

“Quên được nỗi đau” ư? Ai mà không mơ ước điều hạnh phúc ấy, nhưng nào có dễ dàng gì? Nhưng dù sao đi nữa con người cũng phải quên nó thôi. Quên nó, con người mới đủ dũng lực để sống, để cống hiến cho cuộc đời những điều cao đẹp khác. Quên nỗi đau chính là để nhớ trách nhiệm làm người. Nỗi đau giống như liều độc dược nếu biết “dĩ độc trị độc” nỗi đau sẽ thăng hoa thành báu vật. Ly Tao của Khuất Nguyên, Đoạn trường Tân Thanh của Nguyễn Du , thơ Hàn Mặc Tử trở thành kiệt tác chẳng phải là giải mă nỗi đau nhân thế mà thành đó sao!

“Khi người ta không còn yêu nhau” của Phi Tuyết Ba là một sự đan xen giữa tình yêu và triết luận. Tính nhân văn xuyên suốt với các tầng ngữ nghĩa gửi gắm một thông điệp đến con người. Đó là: Hăy yêu đi, yêu chân thành, yêu cháy bỏng, có tình yêu là có tất cả. Nếu “Không còn nữa yêu nhau”, “thế giới đông người” này chỉ còn là xứ sở của tang thương chết chóc.



Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:19pm

Bình bài thơ Đợi của Vũ Quần Phương

 ĐỢI

                                      Vũ Quần Phương                                                 

Anh đứng trên cầu đợi em

              Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm

         Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy

          Nước chảy bên lòng, anh đợi em.

*

Anh đứng trên cầu nắng hạ

  Nắng soi bên ấy lại bên này

        Đợi em. Em đến? Em không đến?

         Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây!

*

Anh đứng trên cầu đợi em

           Đứng một ngày đất lạ thành quen

        Đứng một đời em quen thành lạ

         Nước chảy...Kìa em, anh đợi em! 

                                              ( 100 bài thơ hay thế kỉ XX,

                                                      NXB Giáo dục-2007) 

 

Lời bình:

       Nhà thơ Vũ Quần Phương có nhiều bài thơ hay nhưng "Đợi" là bài nổi tiếng nhất. Nó được bình chọn xứng đáng đứng vào hàng ngũ "100 bài thơ hay thế kỉ XX".

 

       "Đợi" đã có duyên may, được nhạc sĩ Huy Thục phổ nhạc từ 1986, ngay khi mới ra đời. Bằng cách hoán đổi vị trí nhân vật trữ tình giữa"Anh" và "Em" và với chất liệu ca trù tạo nên giai điệu thiết tha, ngọt ngào, trong sáng, ca khúc"Đợi" dành riêng cho phái đẹp hát, đã làm rung động bao trái tim yêu, đã là "một trong những tượng đài tuyệt đẹp về người phụ nữ Việt Nam trong âm nhạc" (Châu An)

 

      Từ bài thơ, ta lại cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của chàng trai qua hình ảnh"đứng trên cầu đợi em". Những chiếc cầu bắc qua sông, suối đã là nơi hẹn hò, chờ đợi của bao đôi lứa xưa nay. Nhưng cái tài của nhà thơ là ở chỗ khai thác ý nghĩa mới mẻ của những thi liệu quen thuộc ấy. "Anh" được đặt giữa một không gian, thời gian nghệ thuật và một trạng huống đặc biệt để bộc lộ phẩm chất tốt đẹp trong tình yêu của mình. Cuộc hẹn gặp tưởng sẽ đầy tình tứ, lãng mạn của hạnh phúc tình yêu hoá ra đã lỗi hẹn! Thế mà giữa ngày"nắng hạ", chàng đã đứng đợi nàng từ lúc ban mai khi"nắng soi bên ấy" cho đến trưa, đến chiều nắng soi"lại bên này" và... cho đến cả lúc "nắng tắt", hoàng hôn buông xuống vẫn cứ đứng đấy mà đợi, mà chờ. Sự bền bỉ ấy được diễn tả qua hàng loạt điệp ngữ và sự tăng cấp của các hình tượng vừa sóng đôi vừa đối lập. Dù có phấp phỏng, băn khoăn "Đợi em.Em đến? Em không đến?" thì anh vẫn sẵn sàng:

 

                                             Đứng một ngày đất lạ thành quen

                                             Đứng một đời em quen thành lạ

 

Với  đất,"đứng một ngày"cũng khiến cho những gì xa lạ trở thành gần gũi, quen thân. Với em, anh biết, khi anh "đứng một đời" để đợi thì em có thể đã nhiều đổi thay, khiến cho"em quen thành lạ". Nhưng anh vẫn cứ "đứng mãi đây" để đợi, để chờ. Em đây là em của " cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm chưa dễ mấy ai quên" (Thế Lữ), em của tình yêu tuyệt đẹp trong anh. Anh sẽ đợi em cho đến khi có thể thốt lên:"Kìa em, anh đợi em!".

 

        Đây quyết không phải là sự đơn phương của kẻ tình si. Nhân vật có một tư thế trữ tình thật đẹp, tư thế đứng đợi đầy bản lĩnh: đàng hoàng, đĩnh đạc, tự tin! Mới hiểu, trong tình yêu, việc bền bỉ đợi chờ, thuỷ chung son sắt cũng là phẩm chất, là sức mạnh của phái mày râu. Cứ nghĩ, giá có nhà nghệ sĩ điêu khắc lấy cảm hứng từ bài thơ dựng lên bức tượng một chàng trai đẹp khoẻ khoắn, lành mạnh đứng trên chiếc cầu dưới có dòng nước chảy, dõi tầm mắt ra xa, đăm đắm đợi chờ...và đề vào đó một chữ "ĐỢI". Tượng đài này sẽ "trơ gan cùng tuế nguyệt", cùng với tình yêu bất tử!

 

      Giữa thi phẩm và nhạc phẩm "Đợi" đã cùng có chung một hằng số: cả chàng và nàng đều biết yêu bằng tình yêu đích thực, biết lấy cái bất biến của tấm lòng mà ứng xử với mọi cái vạn biến của cuộc đời để giữ lấy một tình yêu lí tưởng. Cái ý tưởng ấy đã được thể hiện bằng một cấu trúc ngôn ngữ thơ thật là hoàn mĩ. Cả một hệ thống từ ngữ thuần Việt được chọn lọc, gọt dũa, tinh luyện đến hàm súc tối đa. Tên đề chỉ một từ "Đợi". Và ba khổ thơ láy đi láy lại cũng cốt thể hiện cho được tình cảm và ý chí "đợi" của chủ thể trữ tình. Khi đã  "đợi", ta chẳng những giữ trọn lời hẹn ước, mà cao hơn, còn chờ đón một điều gì tốt đẹp, còn hướng về một điều kì diệu ở tương lai. Từ hoàn cảnh ra đời, từ ngôn ngữ, hình tượng thơ và tình cảm của câu chyện tình yêu, người đọc còn liên tưởng đến một tầng nghĩa khác. Thời gian trôi làm biến đổi tất cả, dòng đời  cứ chuyển biến như nước dưới chân cầu "xưa đã chảy, sau còn chảy", như ánh mặt trời cứ soi, tắt ngày ngày. Nhưng người ta khi đã có một định hướng đúng đắn, đẹp đẽ về một sự nghiệp, một khát vọng sống, một lí tưởng xã hội, một lí tưởng nghề nghiệp, một lí tưởng thẩm mĩ... thì hãy biết giữ vững niềm tin và hi vọng; hãy biết kiên tâm, bền chí "đứng đợi" trên chiếc cầu nối đôi bờ hạnh phúc ấy; cũng giống như văn hào Victor Hugo đã từng nói: "Mơ ước là hạnh phúc, chờ đợi là cuộc đời". Đó là triết lí, là tư tưởng toả sáng đằng sau giọng thơ trữ tình của bài thơ. Bằng sự trải nghiệm của thế hệ nghệ sĩ nửa sau thế kỉ trước, chứng kiến bao nhiêu cuộc đợi chờ, có mất mát, có hội ngộ; chứng kiến bao nhiêu biến đổi lớn lao của nhiều số phận và cộng đồng, Vũ Quần Phương  nhắn gửi chúng ta thông điệp này.

        "Đợi" vừa là một bài thơ tình tuyệt đẹp vừa là một bài thơ trí tuệ sâu sắc. 

Phạm Văn Chữ



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:39pm
Đến với bài thơ hay: "Tống biệt hành" của Thâm Tâm

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng...

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót (*).

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Mây thu đầu núi, gió lên trăng (**)
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn căm (***).
(1941)


"Tống biệt hành" là bài thơ nổi tiếng và được ưa thích nhất của Thâm Tâm. Có người không ngần ngại liệt nó vào một trong mười bài thơ tiền chiến hay nhất (1). Chục năm nay, "Tống Biệt Hành" cũng được xếp trong tuyển chọn năm mươi bài thơ trữ tình tiêu biểu của mười thế kỷ thơ ca Việt Nam (2).

Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào "Thơ Mới" thời 1930 - 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam, trước và sau Thâm Tâm, không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng, trữ tình và mãnh liệt đến như thế.

Đưa người, ta không đưa qua sông.


Từ bao đời nay, con sông, bến nước vẫn là địa điểm của những cuộc tiễn biệt. Chẳng những vì xưa kia, phương tiện giao thông chủ yếu của người dân quê là chiếc thuyền. Con sông còn như một ranh giới, một vành đai bao phủ và che chở mỗi vùng làng mạc. Mỗi người, khi qua sông, cũng là lúc rời bỏ quê hương cùng gia đình và người thân của họ. Chẳng phải là ngẫu nhiên khi dòng sông, con tàu đi vào tiềm thức mỗi người như một biểu tượng của giã biệt, xa cách. Trong thơ ca cũng vậy:

Anh Khóa ơi,
Em tiễn anh xuống tận bến tàu...
("Anh Khóa", Trần Tuấn Khải)

Biệt ly,
Sóng trên dòng sông,
Ôi còi tàu như xé đôi lòng,
Và mây trôi, nước trôi, ngày tháng trôi,
Càng lướt trôi.
("Biệt ly", Dzoãn Mẫn)

Nhưng lần này, tác giả không đưa bạn mình qua sông. Vào những năm cuối của thập kỷ ba mươi, khi Nguyễn Bính viết "Những bóng người trên sân ga", nhiều cuộc đi xa đã khởi đầu trên một bến xe, một sân ga nào đó.

Tuy thế hình ảnh con đò, bến nước trong văn chương và cuộc đời đã hằn sâu trong tác giả tự bao giờ, khiến anh phải thốt lên:

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?


Hỏi đấy, nhưng chỉ để bộc lộ nỗi lòng buồn bã pha chút vị ngây ngất của anh. Tiếng sóng ấy chưa đến độ như "tiếng đời xô động, tiếng hờn câm" ở đoạn kết, nhưng đã tựa như tiếng đàn khuấy động những cung bậc bi phẫn giữa người đi và kẻ ở.

Đã hay rằng "người" buồn đấy, còn "cảnh" ra sao? Buổi chiều ấy, dù "không thắm, không vàng vọt", nhưng "đầy hoàng hôn trong mắt trong", và có thể rất đẹp đấy. Nhưng nó vẫn đượm vẻ gì man mác vô định. Có điều, vào lúc ấy, nào ai còn để ý đến cảnh vật bên ngoài. Họ mải "giã gia đình" và "dửng dưng". Đối với tác giả, chỉ còn người đi là tồn tại, anh chỉ "đưa người ấy", ngoài ra mọi thứ khác nào có nghĩa gì.

Cuối cùng thì giờ phút chia tay cũng phải đến. Người đi hùng dũng lắm, hăng hái và hăm hở lắm:

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!

Anh thề thốt thật ghê! Người đọc không biết anh đi đâu, anh làm gì. Chắc sự nghiệp của anh lớn lắm. Có gì làm ta nhớ lại chàng Kinh Kha vào Tần qua sông Dịch lạnh tê tái, khảng khái làm hớp rượu, rồi bước thẳng không quay đầu lại:

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.
(Gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh ghê,
Tráng sĩ một đi chừ, không bao giờ về.)


Ta thấy anh đi khí thế thật đấy, nhưng sao cô đơn quá! Đi thì cứ đi, nhưng nào có rõ tương lai:

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.


Anh lên gân vậy thôi, chứ thực ra, anh thương mẹ lắm. Và khi đi, nào phải anh không day dứt. Anh còn chị, còn em. Những người chị "như sen" và người em "ngây thơ đôi mắt biếc", đâu muốn anh đi. Hẳn nhà anh nheo nhóc và cực nhọc lắm, anh đi rồi, ai lo?

Tất nhiên, chí trai bốc đồng, anh tỏ ra quyết tâm lắm. Nhưng dễ thấy đó chỉ là vẻ bề ngoài. Kỳ thực, lòng anh thật mềm yếu. Anh đã buồn, chắc là từ lâu, chứ đâu phải chỉ từ "chiều hôm trước" với "sáng hôm nay".

Và cảnh sắc bầu trời mùa hạ sang thu ấy thật đẹp. Anh nhất quyết phải từ giã gia đình, bạn bè trong khung cảnh ấy sao? Đích của anh nào có chắc chắn gì? Đâu phải anh không có những day dứt, ràng buộc bịn rịn?

Nhưng rồi anh vẫn dứt áo ra đi. Đi lúc nào mà người tiễn chẳng hay:

Người đi! Ừ nhỉ? Người đi thực!


Như một cơn mơ, lúc bừng tỉnh chẳng còn gì. Anh đã đi, đi thực. Làm người ở lại đắm trong nỗi thẫn thờ. Cuộc đời sao như tỉnh, như mơ! Đành phải chịu!

Tất cả dẫn đến một cao trào. Nhịp thơ trở nên gấp gáp, rắn rỏi, mãnh liệt, nhưng đượm vẻ chua chát và bi phẫn:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Anh muốn quên lãng đi mọi thứ. Quên đi cho hết nỗi sầu. Như người lữ khách trong "Chiều" của Hồ Dzếnh. Nhưng thử hỏi: có quên được không?

Mây tha đầu núi, gió lên trăng,
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.


Thời gian qua đi. Bóng hoàng hôn không còn nữa. Cơn lạnh và bóng tối trùm lên mỗi bước anh đi. Lúc ấy, người lữ khách còn lại một mình. Âm thầm. Lặng lẽ. Cái đích vẫn xa vời. Và nhuệ khí xưa đâu còn nữa. Anh muốn bật khóc, muốn gào lên tức tưởi:

Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm...

Chẳng biết lúc ấy, anh trách ai? Trách mình, hay trách cuộc đời cay nghiệt?


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:40pm
EM GÁI
 
Em đầy ngộ nhận như  tôi
Cũng yêu chí chết cái người mình yêu
Cũng tìm những lối phong rêu
Để rồi bước trật bước trèo uổng công
Mắt thì thăm thẳm mùa đông
Trái tim mùa hạ, tấm lòng mùa thu
Mùa xuân ở phía sa mù


Mà  băng tuyết … đến bao giờ  cho tan?
Gặp cơ nhỡ em cưu mang
Em đâu biết đến lỡ làng về sau
Em đương lấy sóng làm cầu
Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền
Lấy khao khát để làm yên
Đem duyên làm phúc, lấy tiền làm khinh
Rồi ra em giống chị mình
Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui./.

  • Đoàn Thị Lam Luyến

Có  thể nói trong số những bài thơ tình của Đoàn Thị Lam Luyến thì bài Em gái được xếp vào hàng những bài thơ hay nhất của chị. Thường khi đọc một bài thơ nào đó tôi có thể quên ngay nhưng với bài thơ này nó đã để lại cho tôi một ấn tượng khá đặc biệt. Chính vì để lại ấn tượng đặc biệt nên tôi đã thuộc lòng khi lần đầu tiên tiếp xúc với nó. Với tôi, thơ chị hay bởi vì nó thật, nói lên được những điều sâu kín trong tâm hồn, lời thơ giản dị nó bật lên từ ngôn ngữ đời thường.

Có  một nhà phê bình đã từng nhận xét: “Thơ chị giống như lời tâm sự, bày tỏ nỗi lòng của chính chị, nhưng đọc thơ chị, ai cũng có cảm giác chị nói hộ lòng mình”.

Mở  đầu bài thơ “Em gái” chị viết:

Em đầy ngộ nhận như  tôi
Cũng yêu chí  chết cái người mình yêu
Cũng tìm những lối phong rêu
Để rồi bước trật bước trèo uổng công

Đó chính là những lời giãi bày, những lời tâm tình của một con người đã từng trải qua những vấp váp, những dâu bể, vấn vương của cuộc đời. Đặc biệt  đó là vấn đề tình cảm, tình yêu và vấn  đề hạnh phúc gia đình.

Ở đây có sự so sánh giữa đứa em gái và mình. Đó là một sự ngộ nhận trong tình yêu, đó là tấm lòng của người phụ nữ biết dồn hết, biết hy sinh tất cả, yêu một cách cuồng nhiệt, cháy bỏng, tận cùng cho người mình yêu. Đó có lẽ là điều mà người phụ nữ nào khi yêu với một tình yêu chân thành, đích thực, không vụ lợi cũng đều làm thế.

Cái độc đáo của khổ thơ này là ở  chỗ tác giả đã sử dụng từ “chí chết”. Theo tôi khó có thể có từ nào đưa vào chỗ này hay bằng từ “chí chết”. “Chí chết” nó vừa cụ  thể, vừa khái quát, vừa mộc mạc, vừa sâu sắc.

Có lẽ cuộc đời chị, với những gì  chị đã làm, những gì đã xảy ra với chính bản thân chị là một minh chứng cụ thể cho điều vừa nói ở trên. Và thông qua lời tâm tình, trò chuyện, bày tỏ những tình cảm rất thật đó, Đoàn Thị Lam Luyến thấy rằng cuộc đời mình, chuyện tình cảm của mình với cuộc đời đứa em gái, hình như là một, là lặp lại giống mình. Cũng đầy chông chênh, thất bại và đổ vỡ. Hình như ông trời đã không công bằng với chị và em gái của chị trong cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc cho bản thân. Dù đã yêu hết lòng, yêu cháy bỏng, yêu hết tâm can, với năng lượng tình yêu chị có chị đều dồn hết vào nhưng đổi lại đó là sự đau xót và mất mát, một sự hy sinh vô ích và không có kết quả tốt đẹp. “Để rồi bước trật bước trèo uổng công”.

Trong bài thơ “Gửi tình yêu” chị cũng từng viết:

Gửi tình yêu vào  đất
Được hoa trái đầy cành

Nhưng gửi tình yêu vào người thì lại không thu được những điều ngọt lành như thế.

Ta trao cả  cho anh
Một tình yêu cháy bỏng
………

Ta đã gửi cho anh
Một con tim dào dạt
Và anh trả cho ta
Nỗi buồn đau tan nát.

Dù chông chênh, gập ghềnh là thế nhưng tấm lòng người phụ nữ nói chung, tấm lòng của chị, của em gái chị nói riêng vẫn đợi chờ, mòn mỏi, vẫn trông mong, vẫn hy vọng điều tốt đẹp sẽ đến.

Cái hay của khổ thơ thứ hai là tác giả  đã có một sự so sánh độc đáo. Độc đáo ở  chỗ là Đoàn Thị Lam Luyến đã lấy mùa  đông để so sánh với mắt, lấy mùa hạ so sánh với trái tim, mùa thu so sánh với tấm lòng. Mắt- đông giá: buồn; trái tim - mùa hạ: rực cháy; tấm lòng-mùa thu: dịu dàng, bao dung; mùa xuân: khởi đầu những điều tốt đẹp, cây đâm chồi nảy lộc và tình yêu rồi cũng sẽ đem lại những lộc biếc mới … nhưng ở đây cũng xa vời, vô vọng. Nhà thơ đã lấy cái rộng lớn của thiên nhiên để so sánh với cái cụ thể, cái hữu hạn của con người, đời người. Để rồi sau đó chị phải thốt lên:

Mà băng tuyết … đến bao giờ  cho tan?

Sự hy sinh trong tình yêu một cách tự nguyện, vô  tư nhưng không mang lại điều tốt đẹp. Chính vì vậy nó đã để lại một sự băng giá, một nỗi ám ảnh nặng nề, không bao giờ nguôi ngoai trong tâm hồn .Câu thơ cuối của khổ thơ thứ hai là một câu hỏi tu từ không cần lời giải đáp vì bản thân nó đã hàm chứa câu trả lời. Sự giá băng, sự thất bại, nỗi đau xót, mất mát và hụt hẫng sẽ bám riết suốt cuộc đời của chị và đứa em gái đáng yêu của chị.

Gặp cơ nhỡ em cưu mang
Em đâu biết đến lỡ  làng về sau
Em đương lấy sóng làm cầu
Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền

Em đã sống rất thực lòng, sống hết mình bằng chính tình thương và sự bao dung của một trái tim nhân hậu. Nhưng em đâu biết rằng rồi một ngày  mình cũng lỡ làng, rồi lại xót xa, đau khổ. Vì thế những việc em đang làm rồi cũng sẽ vô ích và mong manh.

Hoá ra cũng chỉ là những khao khát, những khao khát tình yêu cháy bỏng. Thất bại ê chề  trong tình yêu giờ chỉ còn cách tự an ủi để mà sống, lấy những khát khao cháy bỏng để làm yên, để sống bình lặng sau những cơn sóng gió tả tơi của cơn bão tình. Tất cả những gì đã làm, dù là duyên đã lỡ làng nhưng sự hy sinh đó cũng chính là việc làm phúc đức ở đời. Coi tình cảm quý hơn vạn lần tiền bạc. Vì tình cảm không thể bán mua, đổi chác được!

Kết thúc bài thơ là một cái vui. Nhưng để có  cái vui ấy  phải đánh đổi bằng những cái thất tình, đổ vỡ, những vất vả, gian truân trên con đường kiếm tìm hạnh phúc. Và phải chăng cái vui ấy cũng chỉ là cách nói để tự an ủi mình, sau bao sóng gió, xót xa, đau đớn của một thân phận đàn bà nhỏ bé, yếu đuối, sống hết mình cho tình yêu nhưng toàn gặp những éo le, trắc trở. Nhiều lúc Lam Luyến cũng khắc khoải, hồ nghi lắm. Chị thảng thốt trong nỗi đau của tình ái:

Sinh em mẹ không sinh ngày
Để em như kiếp trời đày thế gian
Đa tình liền với đa đoan
Tơ  duyên cứ nối lại càng đứt thêm

(Tích tịch tình tang)

Sự thực là chị đã trải qua hai lần  đò nhưng cả hai lần đều dang dở.Vì vậy, để rồi có lúc chị phải cay đắng nhận ra:

Ta trồng mía hoá lau
Chăm lan mà  tốt ngải
Nửa đời trong u mê
Nửa đời toàn chiến bại./.

  • Nguyễn Văn Hoà


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:49pm
Hoa quỳnh nở

Giữa đêm chỉ thoảng hương thơm

Cánh quỳnh vẫn khép như còn đợi ai

Em về lấp lánh sương mai

Môi cười, hoa nở ngát hai đóa quỳnh!


Thanh Trắc Nguyễn Văn
(Tuyển tập thơ Tứ Tuyệt Tình Thi – NXB Đà Nẵng 2005)
 
Lời bình của Trần Thị Hảo

Giai nhân và hoa quỳnh


Hoa quỳnh chỉ nở vào lúc giữa đêm, nhưng đã nửa đêm rồi hoa vẫn không nở. Hoa không dám nở vì thấy hình như vẫn còn thiếu một cái gì đó. Cái thiếu mà hoa quỳnh mơ hồ cảm nhận được chính là một bông hoa xinh đẹp biết nói khác cũng có tên là Quỳnh! Tên của người trùng với tên hoa! Giai nhân Quỳnh chưa về thì hoa quỳnh, tuy có hương sắc nhưng vẫn không sánh bằng, làm sao dám tùy tiện nở một mình! Hoa đành phải chờ, phải đợi thôi! Và đúng như vậy, khi cô gái xinh đẹp tên là Quỳnh về đến nơi thì những ý chính của bài thơ mới bắt đầu hé mở. Nàng Quỳnh xuất hiện lấp lánh hào quang khiến ta cứ ngỡ nàng như một tiên nga: “Em về lấp lánh sương mai"Người ta thường nói người đẹp sẽ đẹp lên rất nhiều mỗi khi nàng cười. Đôi môi của nàng Quỳnh vừa nở một nụ cười (cũng là lúc sắc đẹp của nàng lên đến cực đỉnh) thì cũng là vào thời điểm hoa quỳnh hé nở. Như vậy có đến hai đóa hoa quỳnh! Tựa bài thơ tuy nói hoa quỳnh nở, nhưng thật sự muốn nói đến một nhan sắc khác còn đẹp, còn quí hơn hoa quỳnh đó là một giai nhân tên Quỳnh...

Bút lực của tác giả rất tài hoa, khi ẩn khi hiện. Dùng bút vẽ mây, nhưng thật sự là vẽ trăng!Theo tôi nghĩ bài thơ này chắc chắn tác giả đã viết tặng cho một cô gái rất xinh đẹp có tên là Quỳnh mà anh đã từng gặp gỡ ở ngoài đời.

Trần Thị Hảo




-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 9:52pm
Khoảng cách - Bùi Kim Anh

Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh
Chỉ một lần thôi êm ả
Dẫu đã có bao lần vội vã
Anh vẫn là anh xa cách giữa nỗi đời

Sẽ chẳng bao giờ có được giữa lòng tay
Chút ấm áp hương người thương nhớ
Một bông cúc muộn mằn mới nở
Dẫu vàng tươi vẫn trơ trọi cuối mùa

Một tình yêu tha thiết hẹn hò
Anh với em chỉ là trong mộng ước
Một giấc mơ rất gần mà không thực
Rất mặn nồng mà trống trải đơn côi

Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh
Chỉ một lần thôi là tất cả
Để cứ đến rồi đi trên đường cúc nở
Không mùi hương vẫn gợi nhớ âm thầm.   

LỜI BÌNH 

     Đọc bài thơ của Bùi Kim Anh tôi lại nhớ những câu thơ cùng ý tứ của  nhà thơ Tế Hanh, những câu thơ nói về khoảng cách đi một đời không hết " Em gần gũi. Em xa xôi. Sao em như thể chân trời trước anh. Giơ tay tưởng với được tình. Bước đi tới mãi mà mình vẫn xa" và những câu thơ của một thi sĩ khác ( tôi quên tên) " Lúc đến được bên em là lúc biết rằng em là nơi không bao giờ đến được. Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm" và cái khoảng cách khắc nghiệt như một vạn lý trường thành ngăn cách lứa đôi  qua hình ảnh cái giậu mồng tơi xanh rờn trong thơ Nguyễn Bính " Nhà nàng ở cạnh nhà tôi; cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn. Hai người sống giữa cô đơn, nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi. Giá đừng có giậu mồng tơi, thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng...".  Khoảng cách ở đây không chỉ là khoảng cách của thời gian, khoảng cách của không gian. Nếu là khoảng cách không gian tình yêu sẽ cho người ta sức mạnh " Tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua". Cái xót xa, cái đáng sợ ở đây là một  khoảng cách vô hình đó là khoảng cách của cõi lòng, khoảng cách  mong manh của tình cảm bị chi phối bởi muôn vàn mối ràng buộc của đời thường vì anh chẳng còn là " Anh của thời trai trẻ ngày xưa" và em cũng không còn là " Em của thời hoa đỏ ngày xưa". Câu thơ " Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh"  được lặp lại 3 lần  (cuối  khổ thơ 1, đầu khổ thơ 2 và đầu khổ thơ 4) như một lời khẳng định thốt lên đầy đau khổ của sự bất lực, sự bất lực dễ  làm cho người ta dễ buông xuôi trong tuyệt vọng.      

Hàng loạt hình ảnh thơ, ý thơ sắp xếp sóng nhau, một ở bên này, một ở bên kia của khoảng cách : Cúc mới nở -  muộn màng mới nở; cúc vàng tươi - trơ trọi cuối mùa; Một tình yêu - không hẹn hò; Một giấc mơ - không có thực; Rất mặn nồng- trống trải đơn côi; anh với em - chỉ là trong mộng ước.            

Bao lần vội vã đến rồi đi  nhưng khoảng cách vẫn cứ là khoảng cách không vượt qua nổi nên " Sẽ chẳng bao giờ có được giữa lòng tay. Chút ấm áp hương người thương nhớ". Ước mơ nhỏ thôi bỗng trở nên quá xa vời, vô vọng, vô vọng đến xót xa.      

Nếu chỉ vậy thì bài thơ thật buồn, tình yêu cũng thật buồn và xâm chiếm lòng người là nỗi cô đơn, trống trải, thất vọng của khoảng cách không thể lấp đầy, không thể vượt qua.            

Nhưng  bài thơ còn xuất hiện  sắc vàng tươi  của hoa cúc cuối mùa. Hoa cúc mùa thu . Bao lần cúc nở. Tàn rồi lại nở. Màu vàng tươi của loài hoa ấy bất chấp thời gian, bất chấp mọi khoảng cách cứ ngời lên sắc thắm và làn hương đơn côi " Không hương người thương nhớ" vẫn bền bỉ, vượt qua mọi khoảng cách vẫn gợi nhớ âm thầm, da diết và mãnh liệt " Không mùi hương vẫn gợi nhớ âm thầm".            

Mầu hoa đã vượt qua được khoảng cách, mùi hương cũng đã vượt qua được khoảng cách và khoảng cách như đã bị xóa nhòa. Bài thơ đem lại cho người đọc niềm tin họ không còn khoảng cách trong nhau để không " trơ trọi", không " đơn côi", không " xa cách giữa nỗi đời".       

Sưu tầm                                 



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:09pm

Lời thề lá sen

Nguyễn Đăng Luận

                 Lá sen chưa kịp đi tu
                 Mà hoa cúc đã nhuộm thu óng vàng
                 Yêu em mua cốm làng Vòng
                 Nâng niu anh gói trong lòng lá sen
                 Lời thề hôm ấy của em
                 Thơm như cốm ướp hương sen giữa mùa
                 Không ngờ anh thật không ngờ
                 Lá sen rách.Cốm bây giờ thơm đâu ?

Lời bình của Ngô Quân Miện:

     

Lời thề lá sen,như một bài dân ca xinh xắn , nói về một tình yêu thất vọng.Nó chiếm được tình cảm của người đọc vì cái cốt hồn nhiên chân thật của hương đồng gió nội mà vẫn có cái duyên dáng thanh lịch :

                       " Lá sen chưa kịp đi tu "

Hai chữ "Đi tu" nghe thì quê kiểng nhưng ý nhị lắm.Ngày xưa những cô gái thất tình thường hay thề thốt "cắt tóc đi tu" nếu không lấy được người mình phải lòng đắm say thì thà xa lánh trần duyên còn hơn gánh cả đời trần duyên oan trái . Cũng ngày xưa con trẻ nhà quê nghịch ngợm thường bắt bướm vặt bỏ hết chân không cho đậu vào hoa nữa như thế gọi là bắt con bướm đó "đi tu ".Nguyễn Đăng Luận dùng trong câu mở đầu bài thơ có sức gợi .

Anh đã khéo tìm được tứ thơ hay để góp vào những hình ảnh và từ ngữ dân gian :

        " Lời thề hôm ấy của em

          Thơm như cốm ướp hương sen giữa mùa "

Tứ thơ này là một tứ thơ độc đáo đáng yêu. Cũng phải hiểu rằng : Sự bắt đượctứ thơ mới trong thơ không phải là ngẫu nhiên, trời cho mà là sự tích đọng tiềm tàng khi gặp thuận thì ngẫu hứng nảy bật lên Nếu không có được cái tứ "chủ bài" ấy thì không thể có được cái tình huống bất ngờ lý thú đầy kịch tính sau :

           Không ngờ anh thật không ngờ

           Lá sen rách . Cốm bây giờ thơm đâu ?

 Lời thề yêu thương được gói trong chiếc lá sen tơ thì đẹp quá thơm quá thi vị quá .Ai ngờ đâu lại gặp phải cái lá sen rách. Sự hóm hỉnh ở đây cũng chính là một nét truyền thống của thơ ca dân gian Có duyên cũng chính là ở chỗ đó.



-------------


Viết bởi: ThoNau
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:30pm
Sông Thao - Nguyễn Duy
 

                            

Sông Thao thêm một lần tôi tắm 
thêm một lần đến để rồi đi 
gió cứ thổi trống không ngoài bãi vắng 
em nhìn tôi để không nói năng gì
 
Tôi gửi lại đây cái buồn vô cớ 
để mang về cái nhớ bâng quơ 
xin chớ hỏi tại làm sao vậy 
tôi vốn không rành mạch bao giờ
 
Em đưa tiễn bước chân gìn giữ lắm 
hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê 
yêu mến ạ xin đừng buồn em nhé
dòng nước trôi đi, giọt nước lại rơi về…

                                       

 

-----------------------------------------------------

Thoáng đọc qua tiêu đề, cứ ngỡ bài thơ sẽ vẽ lên bức tranh phong cảnh thiên nhiên tuyệt mĩ: dòng nước trong xanh, uốn lượn, hàng cây soi tóc đôi bờ, những con thuyền nhấp nhô trên sóng… Song kì thực lại không như vậy. Sông Thao của Nguyễn Duy mang một dáng hình mới trong cảm xúc hoài niệm, nhớ thương:

 

Sông Thao thêm một lần tôi tắm 

thêm một lần đến để rồi đi

 

Điệp khúc "thêm một lần" được nhắc lại hai lần. Dòng sông tôi tắm, tôi đã từng qua cũng như bao nhiêu dòng sông khác trên đất nước rộng lớn này, tôi đến rồi đi… chặng đường có bao giờ kết thúc. Thế mà, lòng lại bồi hồi xốn xang mỗi lần gặp mặt. Phải chăng vì nơi đó có em, có mối tình thuỷ chung da diết, có những kỉ niệm thiêng liêng đã gắn chặt hồn tôi với mảnh đất này.

 

Khổ thơ đầu mở ra một không gian rất rộng, khoáng đạt, một không gian lồng lộng gió, tràn ngập cỏ. Không gian đó làm điểm tựa cho tâm hồn, cho những cảm xúc dạt dào thăng hoa.

 

Gió cứ thổi trống không ngoài bãi vắng 

Em nhìn tôi để không nói năng gì

 

Một cái nhìn đăm đăm thay bao lời muốn nói. Bài thơ có nhiều khoảng trống: trống không, không nói, không rành mạch… những nốt lặng trong một bản nhạc buồn; những im ắng, ngừng nghỉ mà gợi bao da diết, băng khuâng.

 

Tôi gửi lại đây cái buồn vô cớ 

để mang về cái nhớ bâng quơ 

xin chớ hỏi tại làm sao vậy 

tôi vốn không rành mạch bao giờ

 

Cái buồn vô cớ, nỗi nhớ bâng quơ… tất cả cứ mơ mơ thực thực, cảm xúc đan xen, hoà trộn, chơi vơi giữa những giới hạn, những miền kí ức vô danh. Bài thơ bao trùm một màu không khí bàng bạc, bàng bạc từ bức tranh thiên nhiên chỉ gợi mà ít tả, bàng bạc từ trong nỗi nhớ không thể gọi tên.

 

Em đưa tiễn bước chân gìn giữ lắm 

hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê

 

Một bức tranh chia ly buồn với điểm nhấn là em và tôi trên nền xanh mướt của cỏ non sau cơn mưa. Hạt mưa "dùng dằng" hay chính lòng người cũng dùng dằng, nửa ở nửa đi, như không muốn có cuộc chia ly này. Bước chân "gìn giữ" là bước chân ngập ngừng, e thẹn "bước đi một bước giây giây lại dừng”…

 

yêu mến ạ xin đừng buồn em nhé 

dòng nước trôi đi, giọt nước lại rơi về…

Tác giả dùng hai chữ "giọt nước" chứ không phải "hạt nước". Giọt nước gợi cảm giác tinh khiết, nguyên sơ. Cũng như dòng sông miệt mài đổ ra biển để những cơn mưa trong lành trở về đất liền, con người dù có bôn ba khắp chân trời góc bể vẫn mong một ngày được đắm mình trong dòng sông nguồn cội. Những triết lý trong thơ Nguyễn Duy bao giờ cũng giản dị, sâu xa.  Sông Thao đã góp thêm một hương sắc mới cho vườn thơ về quê hương đất nước.

Thanh Phương

                         


Viết bởi: ThoNau
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:37pm

Bài thơ Không nói - giai điệu buồn của chia ly

Không nói là một trong những sáng tác đầu tay của nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Và công bằng mà ngẫm, Không nói không tạo được tiếng vang như Sáng mát trong như sáng năm xưa hay những thi phẩm rất thành công của ông sau này, song bài thơ có vị trí quan trọng, góp phần làm nên diện mạo Nguyễn Đình Thi trên văn đàn bấy giờ vốn đã đông đủ anh tài.

 
Dừng chân trong mưa bay 
Ướt đầm mái tóc 
Em, em nhìn đi đâu 
Môi em đôi mắt 
Còn ôm đáy 
Nhìn em nữa 
Phút giây 
Chiều mờ gió hút 
Em  
         Bóng nhỏ
                             Đường lầy  
 

Nếu quan niệm thơ hay trước hết phải là thơ dễ đọc, dễ hiểu, chúng ta sẽ rất lúng túng khi tiếp nhận, thưởng thức, đánh giá Nguyễn Đình Thi. Thơ ông không bề bộn chất liệu hiện thực, không sa vào kể lể dài dòng mà chỉ chọn lấy những hình ảnh tiêu biểu làm điểm tựa cho những cảm xúc mãnh liệt. Không nói có thể nói là một minh chứng tiêu biểu, thuyết phục cho phong cách thơ Nguyễn Đình Thi: buồn mà không bi luỵ, cô đơn mà vẫn kiêu hãnh, dịu dàng mềm mại mà lắng sâu ân tình.

 

Bài thơ chỉ có 35 chữ, nhỏ nhắn, vừa vặn, đủ để diễn tả một thoáng cảm xúc, một thoáng rung động của tâm hồn thi sỹ vốn rất kiệm lời, đặc biệt là kiệm trong sự mô tả. Viết về cuộc chia tay giữa hai người trên đường hành quân mà không thấy một từ nào nói về chiến tranh hay gợi lên hình ảnh chiến trường khốc liệt. Chỉ có im lặng, buồn, và cô đơn.

 

Câu thơ Dừng chân trong mưa bay được cấu tạo bằng năm thanh bằng gợi lên cảm giác chơi vơi, mênh mang như không gian đất trời giăng kín mưa. Tôi chợt nhớ đến Quang Dũng trong một câu thơ rất mực tài hoa: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Có cái gì đồng điệu giữa Nguyễn Đình Thi và Quang Dũng ở chất nhạc, chất tình. Khúc nhạc dạo đầu của bản nhạc buồn trong mưa bay đã ngay lập tức cuốn hút người đọc.  Gương mặt nhân vật trữ tình hiện lên qua một nét phác hoạ sơ khoáng nhưng đầy ấn tượng: “Ướt đầm mái tóc”. Bao nhiêu gian khổ đọng lại trong hai chữ “ướt đầm”…

 

Trong cố gắng đưa ngôn ngữ thơ trở về với ngôn ngữ đời thường, Nguyễn Đình Thi đã đưa vào thơ mình những từ ngữ thuần Việt giản dị, mộc mạc tự nhiên như lời nói. Ai cũng có thể đọc, cũng có thể cảm nhận theo cách của riêng mình. Song không vì thế mà bài thơ thành ra dễ dãi, hời hợt. Chỗ tìm kiếm của Nguyễn Đình Thi lại đọng ở những khoảng trắng giữa các dòng. Những đối thoại cũng là một phát hiện mới mẻ, tạo nên sắc điệu mới cho thơ: Em, em nhìn đi đâu? Từ “em” vang lên hai lần, thiết tha, sâu lắng như một nốt nhấn. Câu hỏi bỏ lửng, nhân vật trữ tình tự hỏi mình mà không hướng đến người đối thoại.

 

Người đọc rất lúng túng khi tiếp nhận những vần thơ như thế này:       

                                                                  Môi em đôi mắt  

                              Còn ôm đáy

                              Nhìn em nữa 

Nỗi buồn gợi lên từ không gian “mưa bay”, từ thời gian “chiều mờ gió hút” từ cuộc gặp gỡ quá ngắn ngủi. Không một lời từ biệt, im lặng trở thành ngôn ngữ duy nhất có ý nghĩa. “Chiều mờ gió hút”, cái lạnh lẽo của buổi chiều và mưa gió càng làm cho không khí cuộc chia tay thêm xót xa, ngậm ngùi. Dường như có điều gì phấp phỏng chờ đợi từ cả hai phía mà không một ai dám lên tiếng. Từ “hút” cuối câu thơ gợi lên một không gian xa xăm, vô định như tương lai mờ mịt phía trước, như cuộc chia tay có thể là từ biệt, không hẹn ngày trở về.

 

Hình ảnh người em lùi lại phía xa, chỉ còn là cái bóng nhỏ mà người ra đi mang theo bên mình. Cuộc hành quân tiếp tục. Con đường lầy hiện ra như biểu tượng của chặng đường sắp tới đầy những gian truân, cực nhọc. Nhịp điệu câu thơ chùng xuống. Kết thúc bài thơ cũng lại là một nốt nhạc buồn, mênh mang, sâu thẳm. Viết về cuộc chia tay giữa hai người trên đường hành quân nhưng ở một bài thơ nổi tiếng khác, Nguyễn Đình Thi lại viết trong nguồn cảm hứng chiến thắng, trong niềm tin yêu mãnh liệt vào cuộc đời, vào thắng lợi tất yếu sẽ đến. Nó đối lập hoàn toàn với âm hưởng trầm buồn của Không nói:

                  Chào em, em gái tiền phương 

                   Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn

Không nói có những câu rất hay, đi giữa thực và ảo, giữa không gian và thời gian, người đọc khó nắm bắt rõ ràng mà chỉ mơ hồ cảm nhận theo trí tưởng tượng của mình. Khác với không khí thơ kháng chiến lúc bấy giờ thường lấy chất liệu là hiện thực đời sống với những cảnh đầu rơi máu chảy, những thôn xóm tiêu điều, bốc cháy, Nguyễn Đình Thi đi tìm kiếm một sự thực nhói đau khác, sự thực về tâm hồn con người. Ông đã chạm đến nỗi đau riêng, đến số phận mỗi cá nhân trong số phận cộng đồng. Vì thế mà cùng viết về đề tài chiến tranh, nhưng bài thơ lại mang một âm điệu khác, có sức nặng không kém những bài thơ cùng thời.

Phương Thanh

 



Viết bởi: ThoNau
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:41pm

Hoa cỏ may - một bài thơ hai câu mà đa nghĩa, đa tình

 

Bài thơ phảng phất hương vị ca dao ngọt ngào, đắm say lòng người. Thoạt nghe, ta không thấy mới lạ, ấn tượng. Vẫn là những anh, em, một buổi chiều vu vơ… quen lắm rồi. Chỉ có điều, đọc thơ Nguyễn Bính, ngay cả những bài “cũ” thế này, người đọc vẫn tìm thấy cảm giác mới mẻ, thích thú. 

 

Cái đẹp của “Hoa cỏ may” là sự trong sáng, giản dị từ ngôn từ đến thi tứ, từ cảm xúc đến giọng điệu, hình ảnh. Nguyễn Bính sử dụng thơ lục bát dân tộc với tiết điệu nhịp nhàng uyển chuyển, rất phù hợp để diễn tả những cảm xúc trữ tình dịu dàng, những rung động vẩn vơ, mong manh:  

 

Hồn anh như hoa cỏ may

Một chiều cả gió bám đầy áo em

 

Cách so sánh cũng thật lý thú, giữa một bên là hồn anh – trừu tượng, vô hình – và bên kia là hoa cỏ may đời thường, gần gụi. Phải chăng, chính cái vẻ đẹp dung dị, mộc mạc, cái đặc tính vô hại, dễ bám, khó rời mà hoa cỏ may rất có duyên với thơ ca. Không thể kể hết những thi sĩ đã từng tốn bút mực cho loài hoa này.

 

Người Việt mình hay nói: sóng cả, nước cả, sông cả.. rồi cả tin, cả nghĩ, cả locả tiếng nữa. Một chữ cả mà chia đi muôn nơi, hoà vào khắp chốn. Mà lạ thật, ở đâu cũng thấy có hồn. Hai chữ cả gió là của riêng Nguyễn Bính. Ông đã hút nhụy trong cái bầu hương lời ăn tiếng nói dân tộc và trả lại cho đời hai chữ thuần Việt đến tận hồn, tận cốt. Cả gió vẫn là gió, tuy gió có hơi to đấy nhưng không phải là gió lay, gió giật một cách vô hồn, ngẫu nhiên mà ngầm ý định hướng, có chủ định hẳn hoi. Gió trời qua thơ Nguyễn Bính đã trở thành gió có tình và gió của riêng ông. Câu thơ có thể hiểu theo nhiều cách: Hồn anh là hoa cỏ may, chỉ muốn suốt đời làm kiếp cỏ nhưng một chiều vì gió to quá mà vô tình bám vào áo em; hoặc anh cố tình bám vào áo em đấy nhưng mượn gió làm lá chắn: tại trời cả gió chứ có tại anh đâu! Nhà thơ quả là khéo khi thanh minh cho cái lẳng lơ thiên phú của mình.

 

Bài thơ chuếnh choáng giữa mộng và thực. Và hình như mộng nhiều hơn thực. Thơ Nguyễn Bính nhiều mộng: Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng… Cái mộng ấy như màn sương, khi bảng lảng, lúc đậm đặc trên từng trang thơ. Nhiều khi là nỗi nhớ bâng khuâng, da diết: Trời còn có bữa sao quên mọc/Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em.

 

Hai câu thơ - một bức họa đồng quê duyên dáng, mềm mại: Không gian trời mây bát ngát, triền đê tràn ngập gió, hương cỏ may thoang thoảng, vương vất, cô gái quê dịu dàng, đằm thắm… Đọc thơ Nguyễn Bính, ta có xúc cảm như đứng trước bức tranh phong cảnh ấn tượng mà phóng khoáng. "Hoa cỏ may" đã góp vào vườn thơ tình yêu trăm hồng ngàn tía một nét hương thầm quyến rũ.

 

Trần Phương

 



Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:50pm
Biển (Xuân Diệu)
 

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê…

Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng…

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt…

Cũng có khi ào ạt

Như nghiến nát bờ em

Là lúc triều yêu mến

Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết,

Để những khi bọt tung trắng xóa

Và gió về bay tỏa nơi nơi

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa,

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

4.4.1962
XUÂN DIỆU

LỜI BÌNH:
Biển là một bài thơ tình đặc sắc của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám, được sáng tác trên bãi biển Sầm Sơn. Nhưng như chính nhà thơ tâm sự, nguồn thi hứng của ông được gợi lên từ biển Quy Nhơn cát vàng nước biếc dạt dào, tiếng thầm thì của phi lao như lời tâm sự của những tình nhân. Con người từng được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình” thời Thơ Mới đã nói lên cảm xúc yêu đương nồng nàn từ vọng tưởng về con sóng quê hương thấm đẫm hồn thơ từ thuở hoa niên. Một tình yêu mới mẻ, không còn cảm giác mong manh vì lo sợ “tình yêu đến tình yêu đi ai biết” mà gắn kết vững bền trong quan hệ sóng - bờ. Vượt ra khỏi phạm vi của tâm tình lứa đôi, bài thơ còn nóng hổi những bồi hồi của đứa con miền Nam những ngày phải xa cách quê hương khi đất nước cắt chia làm hai nửa.

Bắt đầu bài thơ là một lời thú nhận nhưng cũng đồng thời là một khát vọng hóa thân, để được hướng về em bằng tất cả niềm ngưỡng vọng, đắm say:

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Em - bờ cát trắng, như một biểu tượng của cái đẹp muôn đời, được cảm nhận bằng tất cả sự say mê của một trái tim si tình. Cái nhìn của nhà thơ trước sau vẫn thế, luôn lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn mực cho những vẻ đẹp tự nhiên. Sắc nắng pha lê làm nên sắc cát vàng óng ả. Một dáng nghiêng mềm mại “thoai thoải hàng thông” tạo thành vẻ đẹp mang đậm nữ tính. Vẻ đẹp ấy là cái cớ để nhà thơ bộc lộ tình yêu tha thiết với em khi tự nhận: “Anh xin làm sóng biếc”. Cái tôi hóa thân thành con sóng mới tự do và mãnh liệt làm sao!

Có lẽ cho đến nay trong thi ca Việt Nam, kể cả những nhà thơ cách tân mới nhất, chưa ai dám bạo dạn tả cái hôn đắm đuối đến thế: hôn mãi, hôn thật khẽ thật êm, hôn êm đềm, mãi mãi, hôn rồi hôn lại, tan cả đất trời… Ngỡ như cả vũ trụ nghẹt thở bởi những cái hôn nồng cháy đến thế! Thấp thoáng trong câu thơ những ám ảnh dục tính rất đời thường mà không hề vẩn đục bởi những dục vọng thấp hèn.

Và con sóng tình không chỉ dừng lại đó mà rất bạo liệt ào ạt, nghiến nát bờ em. Ta lại gặp một Xuân Diệu - kẻ uống tình yêu dập cả môi thuở nào! Con người đã tìm thấy trong tình yêu sự sống vĩnh cửu, vượt ra khỏi giới hạn đời người trăm năm để quyện chặt với đời bằng nụ hôn ngàn năm không thỏa. Bằng tình yêu ấy, thi nhân đã hoà con sóng biếc tâm hồn góp thành bể biếc cuộc đời - màu tình yêu muôn thuở. Ân tình nhà thơ cũng hòa chung quan niệm của một thời người yêu người sống để yêu nhau (Tố Hữu). Có lẽ cũng không cần phải bàn nhiều về tính chất của tình yêu hiển hiện trong những vần yêu nồng nàn ấy.

Đó cũng là tình yêu vọng về mảnh đất Bình Định thân thương, nơi đã nuôi hồn thơ cho Xuân Diệu. Biển Quy Nhơn lung linh trong bao thi ảnh: bể biếc, cát vàng, thoai thoải bãi bờ… Tình yêu lứa đôi quyện hòa cùng tình yêu quê hương. Để những người yêu nhau ra trước biển Quy Nhơn giờ đây lại có thể ngâm ngợi những vần thơ của người nghệ sĩ đa tình thuở ấy:

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết

Trần Hà Nam


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 02 Nov 2011 lúc 10:54pm
Cuộc chia li màu đỏ
 
                                    Nguyễn Mỹ 

Được sáng tác vào năm 1964, sau hơn 40 năm, Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ vẫn được nhiều người yêu thích. Bài thơ có mặt trong hầu hết các tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại.


Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ.
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa


Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rạng đông đang hừng trên nét mặt
Một rạng đông với màu hồng ngọc
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai...


Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp!
Nắng vẫn còn ngời trên những lá si
Và người chồng ấy đã ra đi...
Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói, tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau..."


Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét...
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly...


* Lời bình của Tú Anh



Người đọc cho tôi nghe lần đầu bài thơ này là nhà thơ Tô Hà. Anh đọc thuộc lòng, riết róng và nức nở. Tô Hà đọc thơ bao giờ cũng riết róng, nhưng không phải khi nào cũng nức nở như khi đọc thơ Nguyễn Mỹ. Dường như trong mỗi câu thơ đều thấm đẫm nước mắt nhớ thương người bạn đã vĩnh viễn ra đi. Và khi đọc đến câu thơ cuối cùng, Tô Hà đã khóc thật, khóc nức nở, đến nỗi những câu thơ bỗng nhòe đi, thảng thốt lạ lùng:


Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly!


Nhà thơ Bằng Việt từ trong phòng làm việc của Tạp chí Tác phẩm mới bước ra, ngạc nhiên hỏi:


- Sao Tô Hà... khóc?


- Vì đọc thơ Nguyễn Mỹ! - Tôi trả lời. Nghĩ ngợi một lát, Bằng Việt bảo:


- Mình sẽ giúp Tô Hà in tập thơ cho Nguyễn Mỹ! Phải in cho bằng được!


Suốt mấy chục năm qua, mỗi lần chạm vào Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ, tôi không sao quên được kỷ niệm xưa.


Vậy mà, cuộc kháng chiến chống Mỹ đã đi qua trọn ba mươi năm rồi, tôi vẫn chưa viết được dòng nào về Nguyễn Mỹ và bài thơ định mệnh ấy của anh!


Cũng như tôi, bao thế hệ nhà thơ trước và sau chiến tranh, đều yêu thích Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ. Vì sao vậy? Cùng với bài thơ Con đường ấy, Cuộc chia ly màu đỏ xuất hiện thường xuyên trong hầu hết các tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại, chứng tỏ sức sống và vẻ đẹp trường tồn của nó. Vì sao?


Bài thơ được viết vào năm 1964, năm đầu tiên giặc Mỹ đem máy bay đánh phá miền Bắc. Chiến trường miền Nam đang đánh và thắng lớn, kêu gọi lớp lớp thanh niên lên đường vào mặt trận. Những cuộc chia tay, tiễn đưa người lính ra chiến trường diễn ra từng ngày, từng giờ, làm xao xuyến trái tim thi sĩ. Nguyễn Mỹ đã chọn đúng thời điểm này để viết bài thơ, Cuộc chia ly màu đỏ như là một tất yếu khách quan. Ngay từ cái "tít" bài thơ đã khác người, đã làm cho bạn đọc phải sửng sốt. Sao lại "chia ly"? Hai từ này là hai từ tuyệt đối "cấm kỵ" trong thời buổi đó. Chỉ có thể nói tạm biệt, chia tay, chúc chân cứng đá mềm và hẹn ngày gặp lại... chứ sao lại nói "chia ly"?


Vậy mà Nguyễn Mỹ vẫn gan góc viết là "Chia ly". May sao, đó là cuộc "chia ly màu đỏ". Một cuộc chia ly có màu, màu đỏ, vừa là cái giá đỡ, cái khiên che, vừa là một ẩn dụ đầy linh nghiệm.


Nhân vật trữ tình - nhà thơ - ở đây là nhân vật thứ ba, là người quan sát. Nhà thơ cảm thấy, trong cuộc chia ly này, mình phải là kẻ khách quan, là người quan chiêm mới thỏa đáng, và ngầm tuyên bố rằng: Hỡi các bạn, tôi là kẻ đứng ngoài đấy nhé! Bất chợt trưa nay, Trưa một ngày sắp ngả sang đông/ Thu bỗng nắng vàng lên rực rỡ, tôi vô tình lạc bước vào công viên và chợt bắt gặp một cô áo đỏ tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa. Chỉ vừa thoạt nhìn thôi, nhà thơ đã xúc động rồi, và ngay lập tức, nhà thơ định danh cho cuộc chia ly ấy: Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/ tươi như cánh nhạn lai hồng! Rồi, như một ống kính máy quay, cái nhìn của nhà thơ bỗng "Zoom" vào cận cảnh:


Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy


rồi vào đặc tả:


Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời


Và, vì là nhà thơ nên ông có ngay một lời bình về những giọt nước mắt kia, những giọt nước mắt như những hạt ngọc đang "chảy trên bình minh hé giữa làn môi/ Và rạng đông đang hừng trên nét mặt/ Một rạng đông với màu hồng ngọc".


Ống kính máy quay của nhà thơ vẫn hướng theo họ với một cú "lia" toàn cảnh và thấy:


Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình...


Họ ngồi dưới bóng rợp của cây si để nói với nhau chuyện gì thì nhà thơ không biết. Vì vậy, bằng vào cảm xúc của mình, ông tưởng tượng câu chuyện hai người đang nói với nhau và đinh ninh rằng nhất định là họ đang nói tới ngày mai :


Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp


Ống kính lơ đãng chiếu lên vòm cây và thấy "Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si" nhưng "người chồng ấy đã ra đi..." Khi ống kính quay trở lại, người thiếu phụ chỉ còn lại một mình trong vườn hoa và nhà thơ nghe phảng phất đâu đây trong tiếng gió:


Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói, tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau!"


Tới đây, cuốn phim của nhà thơ đã hết. Nhưng là người "quay phim", nhà thơ phải viết tiếp lời bình cho cuốn phim hoàn chỉnh. Và nhà thơ đã bình những hình ảnh kia thấm thía đến tuyệt vời:


Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như (cái) màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng bên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét...
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly!...


Như vậy, bài thơ là một cuốn phim tài liệu (hay phóng sự?) và những lời bình. Cái vẻ tưng tửng khách quan này làm lòng người rướm máu, nhưng cũng làm chợt thức một ý chí kiên cường! Cả bài thơ là một bức tranh theo trường phái ấn tượng, đầy màu sắc, tràn ngập màu sắc, với một gam màu nóng, rực rỡ đến chói gắt. Bạn yêu thơ, bạn hãy tính xem, có bao nhiêu màu sắc trong bài thơ này? Ở phương diện ấy, Nguyễn Mỹ chính là một họa sĩ, họa sĩ của ngôn từ! Tôi mong muốn biết bao, các họa sĩ của chúng ta, hãy vẽ một bức tranh với chủ đề Cuộc chia ly màu đỏ.


Vậy, cái tài tình của bài thơ chính là trong thơ có họa, trong thơ có phim, trong thơ có truyện, và trong thơ là... thơ!


Và Nguyễn Mỹ - với tư cách chiến sĩ - đã lấy máu của chính mình để bảo hiểm cho những dòng thơ ấy.


Hà Nội, 3-2005

Nguồn: Báo Nhân Dân


-------------


Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 5:03am
TRƯƠNG CHI

Tôi về đây với Trương Chi
Lòng ta
rót mãi
có khi nào tràn

 

Ném vào đâu một tiếng đàn
Mà sông nước dội sóng ngàn năm ơi

 

Câu ca
bỏ lại 
bên trời
Tình dan díu một bóng người
rồi...
hoang

 

Con đường vô định trống toang
Nỗi niềm
ai
với ai 
loang nắng chiều

 

Trăng còn mộng một lần yêu
Sóng còn vỗ một đời theo khuyết tròn

 

Nước trôi mà đá chẳng mòn
Tình yêu khi mất là còn mãi nhau.
  
(Bình Nguyên)
 
 

 


Câu chuyện cổ ngày xưa bỗng miên man trở về trong nỗi nhớ của tôi khi đọc bài thơ Trương Chi của nhà thơ Bình Nguyên
 
Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay…

Câu ca dao xưa tưởng như khách quan kể chuyện mà thực ra lại nghẹn ngào cho nghịch cảnh của một đời người. Có rất nhiều dị bản của câu chuyện cổ tích này. Tôi ấn tượng với một bản kể có các sự việc chính sau: Anh Trương Chi ấy, hình thức thì thậm xấu, nhưng giọng hát đẹp của anh đã làm cho cô tiểu thư con quan phải say lòng, và khi gặp mặt, nàng đã thất vọng tràn ngập để rồi lãng quên anh. Nhưng còn anh, từ sau khi gặp cô gái, tình yêu trỗi dậy cùng với sự đau khổ vì bị coi thường và lãng quên đã khiến anh héo mòn mà chết. Linh hồn anh đã hóa thân vào cây gỗ trầm, về sau cây gỗ ấy được làm thành chiếc chén mang cho cô gái. Khi nàng nâng chiếc chén trên tay, nhìn vào thấy có hình chàng ngư phủ chèo thuyền và văng vẳng tiếng ca da diết của anh. Tiểu thư đã hiểu tất cả. Giọt nước mắt muộn màng rơi xuống, chiếc chén tan ra, và trên tay nàng là một trái tim nhỏ máu… 

Câu chuyện ấy đã khiến cho bao nhà thơ, nhạc sĩ nhiều thế hệ xúc động và cảm tác. Các nhạc sĩ Văn Cao, Phạm Duy, Phó Đức Phương… có bài hát về Trương Chi vô cùng xúc động. Thơ cũng khá nhiều, mỗi bài có một nét riêng. Nhưng khi đọc Trương Chi của nhà thơ Bình Nguyên, tôi đã nhận thấy một phong vị không dễ lẫn. Đó là sự tiếc nuối được diễn tả trong vần thơ lục bát đáng lẽ là rất mượt mà, nhưng ở đây lại cứ trào lên, rồi lại lặng đi, như tiếng thổn thức, nấc nghẹn của giọng ca năm nào. Có lẽ là bởi cấu trúc đặc biệt này: Toàn bài có 6 cặp lục bát, thì 3 cặp được viết đúng quy luật trên 6 dưới 8, còn 3 cặp là những câu ngắt dòng, tạo cảm giác về một sự vỡ vụn nào đó. Ngay mở đầu bài thơ đã là một cặp như vậy:

Tôi về đây với Trương Chi
Lòng ta
rót mãi
có khi nào tràn

 Tình cảm dâng tràn trong lòng nhà thơ khi về với vùng sông nước, nơi mà theo truyền thuyết thì đó chính là con sông Tiêu Tương gắn bó với mối tình đơn phương của Trương Chi. Tình cảm ấy được diễn tả trong một hình tượng thơ rất đẹp: Lòng ta rót mãi có khi nào tràn.  Cách biểu cảm rất gợi hình, dễ làm người đọc liên tưởng đến những người đàn ông hay gửi nỗi lòng vào li rượu, rót mãi, rót mãi, càng uống càng đắm trong nỗi niềm chứ không say được. Có khi nào tràn là như vậy. Và trong tiềm thức, âm thanh huyền hoặc bỗng vọng về giữa chốn sông nước mênh mông:

Ném vào đâu một tiếng đàn
Mà sông nước dội sóng ngàn năm ơi
 
Đây là 2 câu lục bát viết đúng quy luật, ngay lập tức tạo cảm giác về một không gian bao la với sóng gió từ ngàn năm xưa cũ. Giữa không gian ấy vang lên tiếng đàn chơi vơi đơn lẻ, tiếng đàn giống như một sự vật hữu hình nhỏ bé, có thể cầm nắm được, để có thể ném được. Cái từ ném này có chút gì thật phũ phàng bất nhẫn! Chàng Trương Chi tài hoa, có tiếng đàn giọng ca làm mê đắm lòng người, nhưng tiếng đàn của chàng lại bị ném giữa nhân gian, là sự ngẫu nhiên hay đất trời xui khiến mà nàng Mỵ Nương kia lại nghe mà say đắm? Nhưng người đẹp lại nhanh chóng thất vọng vì gương mặt của chàng. Thế là cung đàn mê hoặc lòng người đã trở thành định mệnh cho cuộc đời chàng trai tài hoa bất hạnh! Giữa cuộc đời đầy sóng gió, ai là người tri âm của chàng, ai là người nâng niu tiếng đàn ấy, để tiếng đàn đừng bị ném vào đâu mơ hồ bất định? Và từ những con sóng cuộn trào, nhà thơ đã lắng nghe được tiếng đàn cô liêu, tiếp tục cảm nhận về cuộc đời chàng trai đầy xót xa :

Câu ca
bỏ lại 
bên trời
Tình dan díu một bóng người
rồi...
hoang
 
Chàng trai ngư phủ - người nghệ sĩ dân gian sống một đời với câu ca tiếng đàn giữa muôn trùng  sông nước,  bây giờ đã khuất nẻo dương gian, và câu ca của anh, mối tình của anh, xin đành bỏ lại bên trời. Sao tự nhiên lại dan díu bóng hình người đẹp, để rồi bây giờ trái tim thành hoang phế? Tình dan díu một bóng người / rồi…/ hoang. Những dấu chấm lửng giữa dòng, ngắt câu, đã làm cho tôi phải lặng cả người đi khi ngẫm về sự lãng phí của một tài năng và một tấm tình tha thiết giữa cuộc đời. 
Và trong mạch cảm xúc xót xa ấy, một không gian khác lại mở ra trước mắt - Không gian của một con đường vô định:
Con đường vô định trống toang
Nỗi niềm
ai
với ai 
loang nắng chiều

Đây không phải là con đường thực, mà là đường đời – một con đường không có điểm dừng, cứ hun hút và lạnh đến rợn người. Đã có một sự mất mát ghê gớm được gửi trong cái từ trống toang ấy! Nỗi niềm của người xưa biết chia sẻ cùng ai? Không thể sẻ chia, nỗi đau đã tràn lên cả không gian trời chiều, làm cho cái nắng cuối ngày cũng loang ra như vết mực không thể xóa mờ trên tấm áo nhân tình! Nỗi niềm ai với ai vừa là tâm trạng của Trương Chi ngày xưa, cũng vừa là sự đồng cảm sâu sắc của nhà thơ hôm nay đối với sự tuyệt vọng đớn đau của chàng trai trẻ. 
Đến hai cặp câu lục bát cuối bài, nhịp thơ trở về sự da diết bồi hồi. Nhà thơ suy ngẫm:

Trăng còn mộng một lần yêu
Sóng còn vỗ một đời theo khuyết tròn

Giấc mộng đêm trăng gắn với ước mơ về sự trọn vẹn của mối tình. Trương Chi sẽ sống mãi trong không gian riêng của mình – không gian của một tình yêu lãng mạn tuyệt vời! Cho dù đó là mối tình đơn phương, ngậm ngùi xót xa, nhưng đó là tình yêu đích thực. Giống như quy luật của tự nhiên: trăng khuyết trăng tròn sẽ kéo theo nhịp sóng thủy triều lên xuống, thì tình yêu cũng vậy, những con sóng tình sẽ còn mãi vỗ nhịp với thời gian. Trương Chi đã hát bằng tất cả sự khát khao yêu đương vô bờ bến, và trong nỗi đau không nơi hóa giải, chàng đã tìm về với dòng sông thân yêu. Dòng sông đã giữ lại mối tình ấy trong những con sóng còn vỗ một đời. Như thế nghĩa là tình yêu trong trái tim chàng đã trở nên vĩnh hằng, như truyện xưa đã kể, trái tim chàng cuối cùng đã trở về trên tay người chàng yêu:

Nước trôi mà đá chẳng mòn
Tình yêu khi mất là còn mãi nhau.

Quy luật của tình yêu được gửi gắm trong hai câu cuối bài nghe sao tha thiết quá! Thể xác là hữu hạn, nhưng tình yêu là vô hạn! Tình yêu đã mất là còn mãi nhau. Một kết thúc không hề bi lụy. Thì ra, sự mất mát đớn đau lại là sự khởi đầu cho một tình yêu bất tử. Tình yêu trong sáng tuyệt vời ấy đã tỏa sáng cả trang đời Trương Chi, tỏa sáng cả một vùng kí ức của tâm hồn Việt! 
Dư âm của bài thơ Trương Chi đã làm tôi nhớ đến ca khúc Khúc hát phiêu li của nhạc sĩ Phó Đức Phương:

Là Trương Chi ta hát khúc Trương Chi …
Là Trương Chi ta hát khúc phiêu ly 
Một bóng một mình một dòng lênh đênh thì đàn làm chi …
Yêu thương con sông nghẹn ngào gió đông một khúc tính tang tang 
tình ta đi …
 
Trương Chi của nhà thơ Bình Nguyên cũng là một khúc hát phiêu li cùng hòa chung giai điệu thiết tha với những sáng tác không thể nào quên về mối tình huyền thoại ấy!

 


Thành phố Hải Dương, 8/6/2011
Quỳnh Trâm


Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 5:17am
NGƯỜI DỆT TẦM GAI
              Vi Thùy Linh
 

Chúng mình ở hai miền
Ngày nào em cũng khóc...
Anh yêu của em ơi
Em yêu anh điên cuồng
Yêu đến tan cả em
Ào tung kí ức
Ngày dài hơn mùa
Em mong mỏi
Em (có lúc) như một tội đồ nông nổi

... Em nghe thấy nhịp cánh êm ái ân
Một làn gió thổi sương thao thác
Đêm run theo tiếng nấc
Về đi anh!
Cài then tiếng khóc của em bằng đôi môi anh
Đưa em vào giấc ngủ nồng nàn, quên đi những đêm chập chờn trĩu nặng
Ngày nối ngày bằng hi vọng
Em là người dệt tầm gai...
Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui
Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ
Truân chuyên đè lên thanh thản
Ôi, sự trái ngược - những sợi tầm gai!
Không kỳ vọng những điều quá lớn lao
Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ nỗi buồn - những sợi tầm gai - không ai nhìn thấy
Gai tầm gai đâm em đau đớn
Em chờ anh mãi...
Tưởng chừng không vượt nổi cái lạnh, em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước
Những giọt tâm hồn thấm xót mười ngón tay rớm máu
Ngay cả khi anh làm em buồn thảng thốt
Em vẫn hướng về anh bằng tình yêu trọn vẹn của mình
Dệt tầm gai đến bao giờ
Mỗi ngày dài hơn một mùa
Dệt tầm gai đến bao giờ?
Về đi anh,
Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh.

 
 
 
Yêu thương, hạnh phúc, hờn ghen, nhớ nhung,…là những cung bậc cảm xúc bất biến tạo nên sự hấp dẫn kì diệu của tình yêu. Bởi vậy tình yêu luôn trở thành cảm hứng dồi dào nhất của thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung. Thơ tình yêu cũng muôn màu muôn vẻ, từ sự hờn ghen cao cả của Tôi yêu em (Puskin), sự yêu thương trong sáng trong Thuyền và biển (Xuân quỳnh) đến sự lâm li diễm lệ của Hai sắc hoa tigôn (TTKH),… tất thảy đều mục đích chung khắc họa chân dung tình yêu. Đến thời điểm hiện nay, nữ thi sĩ trẻ Vi Thùy Linh, bằng sức trẻ sôi nổi, cũng hăm hở đóng góp vào bộ sưu tập ấy những chân dung tình yêu mới. Bài thơ Người dệt tầm gai là một bài thơ tiêu biểu như thế của chị.
Nếu đánh giá bài thơ Người dệt tầm gai của Vi Thùy Linh, tôi không cho rằng đây là một tác phẩm độc đáo to lớn về nội dung hay nghệ thuật. Trên thực tế, để đánh giá một tác phẩm thơ cho đúng đắn thì cần thiết đòi hỏi những kĩ năng chuyên môn sâu sắc cùng một lượng thời gian hợp lí. Bởi vậy ở đây, tôi đơn giản chỉ muốn đề cập đến một câu chuyện tình yêu cùng những cung bậc cảm xúc tinh vi của nó. Đồng thời, tôi cũng liên hệ so sánh với một số tác giả, tác phẩm thơ trước hoặc cùng thời để thấy được một số nét nghệ thuật tiêu biểu của cây viết thơ trẻ Vi Thùy Linh.
Vi Thùy Linh là một nhà thơ tuổi đời còn khá trẻ, nhưng với phong cách hiện đại và độc đáo, cô gái mảnh dẻ mới hơn 20 tuổi đầu đã trở thành “hiện tượng Vi Thùy Linh” vào năm 1998. Với danh hiệu này, nữ thi sĩ Vi Thùy Linh đã thực sự có chỗ đứng vững chắc trong nền thơ ca Việt Nam đương đại. Tuyển tập các tác phẩm thơ Đồng Tử (2005), Linh (2000) và Khát (1999) của nhà thơ đã nhận được nhiều sự quan tâm, yêu mến của người đọc đặc biệt là giới trẻ. Yêu mến nhiều nhưng ác cảm cũng lắm. Người khen hết lời mà người chê thì cũng mạnh mẽ. Nhưng đây cũng là một dấu hiệu đáng mừng. Bởi tác phẩm của chị đã không bị quên lãng. Nó đã có đời sống và số phận của nó. Đối với sự sáng tạo nghệ thuật, sợ nhất là sự im lặng. Một tác phẩm ra đời mà không gây nên tiếng vọng nào thì cũng chỉ như hạt cát ném vào sa mạc, rút cục là bị quên lãng mà thôi.
Dù trở thành hiện tượng cách đây đã hơn 10 năm, nhưng dường như sức nóng của những tác phẩm Vi Thùy Linh vẫn chưa giảm xuống. Đọc thơ Vi Thùy Linh, ta vẫn thấy mới mẻ, vẫn mạnh mẽ và hứa hẹn những ý nghĩa mà ta chưa thể khám phá hết. Tâm hồn thơ phong phú của chị đã tạo nên những vần thơ nóng bỏng, tinh tế và đầy gợi cảm. Người dệt tầm gai là một bài thơ tiêu biểu. Bài thơ được làm theo thể thơ tự do, bởi vậy nó không bị gò ép, qua đó cảm xúc của nhà thơ được thể hiện chân thực và tinh tế hơn. Người dệt tầm gai là một bài thơ tình diễn tả nỗi nhớ và sự chờ mong khắc khoải của người con gái khi yêu. Nó chất chứa cái thiếu thốn ngàn đời của trái tim, chất chứa cái đong đầy ngàn đời của khao khát yêu đương mê đắm. Các cung bậc cảm xúc của người con gái khi yêu được khúc xạ qua từng câu, từng chữ trong bài. Bất cứ người con gái nào khi yêu cũng có thể tìm thấy một phần bản thân của mình trong đó. Vi Thùy Linh đã nói thay, nói hộ cho tâm trạng của biết bao người con gái.
Bài thơ mở đầu với sự xuất hiện của một không gian đặc biệt: Không gian xa cách. Chỉ bằng một câu thơ duy nhất, nhà thơ đã vẽ lên một không gian xa cách đầy thương nhớ giữa “em” và “anh”:
“Chúng mình ở hai miền”
Chúng mình là một đại từ nhân xưng chỉ sự kết hợp giữa em và anh. Nó nhất quán thể hiện sự gắn bó gần gũi giữa hai con người yêu nhau. Nhắc tới chúng mình là ta nghĩ ngay đến sự đoàn tụ. Vậy mà ở đây, chúng mình lại được đặt trong không gian “hai miền” - không gian xa cách, chia lìa. Điều đó khiến cho người con gái đau đớn và cô phải yếu đuối thú nhận:
“Ngày nào em cũng khóc”
Khi yêu tất yếu ai cũng có khao khát được ở bên cạnh người mình yêu thương. Đối với người con gái, điều này còn quan trọng hơn cả bởi con gái cần lắm sự chiều chuộng chở che. Vậy mà người con gái trong bài thơ phải chịu đựng cảnh chia lìa. Nhưng cũng chính bởi vậy mà tình yêu trong cô càng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết. Tình yêu, nỗi nhớ, sự xa cách đã hợp lại tạo nên sự khao khát mãnh liệt như những con sóng. Bởi vậy mà dường như lúc này, không gì có thể ngăn cản cô gái hòa tan bản ngã trong tình yêu của mình:
“Anh yêu của em
Em yêu anh cuồng điên
Yêu đến tan cả em ra”
Ở mỗi thời đại khác nhau con người ta có cách thể hiện tình yêu khác nhau. Qua rồi cái thời yêu thương nhung nhớ kín đáo nhẹ nhàng “thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, một người chín nhớ mười mong một người” (Nguyễn Bính), thơ tình ngày nay có cách thể hiện tình yêu mạnh bạo hơn với những ý tưởng ngày càng lạ hơn. “Yêu đến tan cả em ra” thể hiện một thứ tình yêu vô điều kiện, yêu đến tôn thờ, yêu đến độ sẵn sàng hòa tan mình, dâng hiến bản thân mình cho đến giới hạn cuối cùng.
Hai câu thơ đầu tiên thật ngắn nhưng cũng thật đầy đủ để dựng lên một không gian ngập căng nỗi nhớ. Đó là sự súc tích trong ngòi bút của Vi Thùy Linh . Đối với việc tạo dựng thời gian nghệ thuật trong bài, Vi Thùy Linh cũng tận dụng triệt để thủ pháp này. Chị tạo dựng thời gian nghệ thuật bằng ba câu thơ:
“Ngày dài hơn mùa”
“Ngày nối ngày bằng hi vọng”
“Mỗi ngày dài hơn một mùa”
Ba câu thơ trên là ba câu thơ đặc sắc được thể hiện theo hình thức của nguyên lí song song. Nhưng ý đồ nghệ thuật của tác giả tập trung ở hai câu “Ngày dài hơn mùa” và “Mỗi ngày dài hơn một mùa”. Sự lặp đi lặp lại của cụm từ “ngày dài” có tác dụng tạo nên ấn tượng thời gian lặp đi lặp lại, bất biến. Nó diễn tả tâm trạng chán chường của người con gái trước sự trôi chảy của thời gian. Với cô, mỗi ngày không có anh là mỗi ngày giống nhau, buồn tẻ và dài đằng đẵng. Ẩn sau ba câu thơ ta như nghe được tiếng thở dài của một tâm hồn mệt mỏi và tuyệt vọng. Bằng chứng là câu thơ “ngày dài hơn mùa” so với câu thơ “mỗi ngày dài hơn một mùa” đã gia tăng về số lượng câu chữ, tính từ chỉ số lượng “mỗi” “một” xuất hiện. Chỉ khi sự chờ đợi đã lâu dài đến độ đủ thiêu đốt trái tim thì cô gái mới có thể thẫn thờ ngồi đếm thời gian như vậy. Ở đây sự chờ đợi tuyệt vọng được gia tăng tỉ lệ thuận với cấp độ thời gian. Nếu câu thơ thứ nhất đơn thuần chỉ thời gian thì câu thơ sau đã mang theo đầy đủ tâm trạng của cô gái: Mệt mỏi, khắc khoải và tuyệt vọng.
Từ không gian, thời gian đầy cảm xúc, nhà thơ dần dần dẫn dắt người đọc bước vào thề giới tâm trạng của nhân vật trữ tình. Mặc dầu không gian, thời gian hết sức quen thuộc trong thơ Việt Nam nhưng với biểu tượng thơ, Vi Thùy Linh đã táo bạo chọn cho mình một biểu tượng rất lạ lẫm và mang đậm phong vị cổ tích. Nếu ta từng quen thuộc với các loại biểu tượng tình yêu như hoa hồng, trái tim, sôcôla,..thì ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi bắt gặp biểu tượng tình yêu trong bài thơ này. Đó là tầm gai. Tầm gai vốn là một loài cây dùng để kéo sợi, hình dạng xấu xí lại vô cùng nhiều gai. Vậy mà Vi Thùy Linh lại chọn nó làm biểu tượng của tình yêu. Nhưng nếu ta biết đến câu truyện cổ tích về nàng Lidơ may áo bằng sợi tầm gai thì ta sẽ không còn ngạc nhiên nữa. Xưa kia nàng công chúa Lidơ xinh đẹp tuyệt trần may áo bằng sợi tầm gai để giải thoát các anh trai mình khỏi lốt chim thiên nga do lời nguyền của mụ phù thủy độc ác. Áo may xong cũng là lúc nàng giải thoát cho các anh, đồng thời đạt được hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời : có được người mình yêu thương. Có lẽ câu truyện cổ tích cảm động này là nguồn cảm hứng chính để Vi Thùy Linh viết Người dệt tầm gai. Biểu tượng tầm gai xuất hiện trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ, trở thành nỗi ám ảnh không ngừng trong tâm trí người đọc. Tầm gai trở thành biểu tượng cho tình yêu, cho hạnh phúc mà cô gái đeo đuổi bằng tất cả sự nhiệt tình và khao khát của mình. Như nàng Lidơ dệt áo tầm gai với những ngón tay rớm máu, nhân vật trữ tình trong bài thơ khao khát dệt nên hạnh phúc bằng niềm vui và cũng bằng cả nỗi buồn, nỗi đau:
“Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui
Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ
Truân chuyên đè lên thanh thản
Ôi sự trái ngược - những sợi tầm gai !
Không kỳ vọng những điều lớn lao
Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ những nỗi buồn - những sợi tầm gai - không ai nhìn thấy”

Có một nghịch lí đắng cay trong những câu thơ trên. Cô gái khao khát yêu thương, khao khát hạnh phúc và gồng mình lên để đấu tranh cho hạnh phúc ấy. Nhưng cuối cùng thì cô lại chỉ nhận được “rất nhiều nỗi khổ” bởi chính thứ hạnh phúc cô đang đeo đuổi đã trở thành một camboorang, khi không thể mang lại hạnh phúc, nó quay lại đâm ngược vào chính trái tim cô:
“Gai tầm gai đâm em đau đớn
Em chờ anh mãi...
Tưởng chừng không thể vượt qua nổi cái lạnh, em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước

Những giọt tâm hồn thấm xót mười ngón tay rớm máu”

Mỗi câu thơ đều mang nặng nỗi cô đơn xót xa đến tột cùng. Phải từng trải, phải thẩm thấu được nỗi đắng cay của sự thất bại trong tình yêu thì mới có thể viết lên được những câu thơ gợi cảm đầy xót xa đến vậy. Hình ảnh “hai bàn tay trầy xước” cũng được lặp lại tới hai lần, lần nào cũng tràn ngập cảm xúc. Đó là sự chuyển hóa thành nỗi đau tinh thần thành nỗi đau thể xác. Điều này khiến cho nỗi đau trở nên cụ thể, rõ nét hơn. Không phải là nỗi đau tột cùng nhưng nó cứ ám ảnh và day dứt trong tâm hồn cô gái. Điều này còn khó chịu hơn cả. Cách thể hiện trên của Vi Thùy Linh còn đồng thời tạo cho người đọc có thể cảm nhận được một cách sâu sắc hơn tâm trạng của nhân vật.
Vi Thùy Linh đã vận dụng dày đặc những tính từ “cuồng điên”, “mong mỏi”, “nông nổi”, “thảng thốt”,.... Đồng thời sử dụng những động từ mạnh “tan”, “run”, “nấc”, “đè” để bổ sung vào đó những trạng thái tình cảm phức tạp của nhân vật. Đó là tâm trạng yêu thương trong hi vọng có xen lẫn nhiều hơn tuyệt vọng. Mỗi từ ngữ, câu chữ được đặt đúng vị trí của mình một cách tinh tế và tài tình. Đó chính là cái tài của nhà thơ. Bởi như chính nhà thơ đã tâm sự “Tôi cho rằng viết “Tôi đang vui, tôi đang buồn, đang thất vọng” thì người nào đó biết chữ cũng có thể viết ra. Những người đã mang chữ “sĩ” – nghệ sĩ, thi sĩ hay họa sĩ, văn sĩ thì phải biết thể hiện trang thái và thế giới và con người một cách khác thường…Nhà thơ phải đem đến cho người đọc những rung cảm mới đầy tinh tế, phóng khoáng và mãnh liệt”.
Bài thơ là một bản nhạc với đủ các cung bậc cảm xúc. Cuối bài thơ, cảm xúc của thi sĩ dâng lên đến cực điểm:
“Dệt tầm gai đến bao giờ?
Mỗi ngày dài hơn một mùa
Dệt tầm gai đến bao giờ?”

Sự lặp lại của câu hỏi là biểu hiện của một sự vô vọng. Vô vọng trong tình yêu xa cách của người con gái đối với người con trai, vô vọng trong nỗi cô đơn cùng cực. Bởi vậy câu “dệt tầm gai đến bao giờ?” lặp đi lặp lại thành nỗi ám ảnh. Câu thơ cuối cùng lại là sự lặp lại của những câu thơ trước:
“Về đi anh!
Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh!”

Đây là sự thành công của tác giả trong sự vận dụng cấu trúc trùng điệp. Thủ pháp nghệ thuật này phát huy hiệu quả cao độ trong việc khắc họa tâm trạng rối ren phức tạp của nhân vật. Hai câu thơ cuối đã chuyển bài thơ từ trạng thái khao khát mong nhớ sang trạng thái van lơn. Dường như lúc này nhân vật trong bài thơ đã không thể tiếp tục gồng mình lên để chịu đựng được nữa mà chấp nhận sự bất lực của mình và van lơn được lành lặn những nỗi đau xa cách. Phải chăng đó là bi kịch của kiểu tình yêu “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”(Xuân Diệu)?
Bằng thủ pháp tạo dựng không gian, thời gian, biểu tượng cùng hệ thống ngôn ngữ mang tính chọn lọc, Vi Thùy Linh đã khắc họa thành công thế giới tâm trạng của một người con gái khi yêu. Chủ đề của bài thơ không mới nhưng bằng cách thể hiện độc đáo, ta trực tiếp cảm nhận được một luồng không khí văn thơ mới mẻ. Nếu đa phần trong số các bài thơ của chị nghiêng về bút pháp diễn đạt tâm trạng bằng những hình ảnh giàu tính nhục thể thì bài thơ này không thế. Đây là một bài thơ giản dị, trong sáng với những hình ảnh đẹp và lạ. Chính bởi vậy mà bài thơ nhận được nhiều lời khen ngợi hơn là chê trách. Bài thơ còn được nhạc sĩ Ngọc Đại phổ nhạc bằng những giai điệu nồng nàn, nóng bỏng, đó là ca khúc Dệt tầm gai. Ca khúc được đông đảo bạn trẻ biết đến và yêu mến.
Người dệt tầm gai là một bài thơ tình giàu nữ tính và cảm xúc. Bài thơ đem đến cho người đọc những cảm nhận mới trên nền đề tài tình yêu quen thuộc. Người đọc yêu bài thơ bởi sự gợi cảm tinh tế của nó và bởi nếu đã từng đọc qua, không ai có thể quên được những câu thơ đẹp và lạ cứ mãi ám ảnh tâm trí:
“Về đi anh
Cài then tiếng khóc em bằng đôi môi anh”

“Về đi anh!
Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh!”



Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 5:22am
MÀU TÍM HOA SIM
Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Phần viết tiếp bài thơ của nhà thơ Hữu Loan 50 năm sau...

"...Ai hát
vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím
có chiều hoang biết
Chiều hoang tím
tím thêm màu da diết. ..
nhìn áo rách vai
tôi hát trong màu hoa:
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm. ..!
Màu tím hoa sim tím
Tình tang lệ rớm. ..

Ráng vàng ma và sừng rúc
điệu quân hành
Vang vọng chập chờn
theo bóng những binh đoàn
biền biệt hành binh
vào thăm thẳm chiều hoang màu tím...

Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu?
- Áo anh nát chỉ dù. .. lâu!
 

"Màu tím hoa sim", bài thơ tình đau thương nhất thế kỷ

Một buổi chiều cuối tháng giêng. Cùng với vài người bạn, chúng tôi trở lại quê nhà. Trong ánh nắng đượm vàng cuối ngày, bất chợt, tôi nghe lại bài thơ "Màu tím hoa sim" của thi sĩ Hữu Loan. Với giọng khàn đục của một người đàn ông từng trải, bài thơ được đọc lên chậm rãi:

"Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những đứa em nàng
Có em chưa biết nói ..."

Mọi người ngồi hôm ấy đều ngồi trầm ngâm, xúc động.

Lâu lắm rồi, hơn 60 năm, kể từ ngày người vợ bé bỏng chiều quê của thi sĩ miền Nga Sơn - Thanh Hoá ra đi mãi mãi, dể lại nỗi thương đau tận cùng của một cuộc tình định mệnh và đầy nghiệt ngã. Tôi bồi hồi nhớ lại...


Tình yêu thời chiến chinh


Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 14-6-1919 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Năm 24 tuổi, Hữu Loan rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Lúc bấy giờ, ở Thanh Hóa có cửa hàng bán vải và bán sách của bà Tham Kỳ (tên thật là Đái Thị Ngọc Chất), vợ của ông Lê Đỗ Kỳ, kỹ sư canh nông, có thời làm Tổng Thanh tra Canh nông Đông Dương). Những ngày tháng xa quê, Hữu Loan thường ghé lại quán xem và mua sách.
Hữu Loan được ông bà Lê Đỗ Kỳ mời về dạy học. Gia đình ông bà có 3 người con trai, sau này đều gia nhập quân đội :
"Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh ..."
Ngày ấy, ông 26 tuổi, đêm đầu tiên đến nhà, bà Kỳ đã hạ sinh một đứa con gái, cô bé ấy sau này mắt luôn mở to nhìn ông không dứt, đó chính là cô em gái của cô Lê Đỗ Thị Ninh, lúc đấy mới 10 tuổi. Hữu Loan và Ninh rất thân nhau, ông xem cô như em gái và cô cũng rất quý mến ông :
"...Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới..."
Sau đó, Hữu Loan rời Thanh Hóa lên Hà Nội thi Tú tài và đỗ hạng ưu, người Pháp muốn mời Hữu Loan vào làm thư ký ở Phủ Toàn quyền với lương rất cao nhưng do không thích Pháp nên Hữu Loan quay trở lại nghề dạy học. Cô Ninh càng lớn, càng nết na và xinh đẹp, một vẻ đẹp thánh thiện. Mặc dù gia đình rất giàu, có 500 mẫu ruộng và gần năm chục người làm nhưng riêng quần áo của Hữu Loan cô không cho người làm đụng đến mà tự tay giặt ủi, xếp và cất vào tủ. Bà Chất rất quý mến ông, có ý định gả cô em gái xinh đẹp tên Nga cho ông, nhưng Nga lại không thích vương vấn chuyện đời,mu ốn xuất gia theo đạo nên bà lại đổi ý,gả con gái mình cho Hữu Loan. Ông nhớ lại : "Lúc đấy có bao giờ tôi nghĩ chuyện tình yêu với Ninh, tôi hơn cô ấy đến 16 tuổi, lại xem cô ấy như em gái nuôi"
Hữu Loan kể, lần đầu tiên tôi tới nhà, bà Chất phải gọi mãi cô bé Ninh mới chịu ra khoanh tay chào thầy, miệng nói lí nhí:
-Em chào thầy ạ!
Chào xong cô bé bất ngờ mở to mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là từ hôm ấy, tôi dạy em đọc, viết. Em là một cô bé thông minh, ít nói và mỗi lần mở miệng là giống y như một "bà cụ". Có lần tôi kể chuyện này cho hai người anh của em nghe. Không ngờ câu đùa ấy đến tai em. Thế là em dỗi! Suốt một tuần liền, em nằm lì ở buồng trong, không chịu học hành. Trước đó, hằng ngày em vẫn chăm sóc tôi một cách rất thầm kín. Lúc thì đặt vào góc mâm chỗ tôi ngồi ăn một vài quả ớt đỏ au em vừa hái ở vườn, lúc thì quả chanh mọng nước... Những buổi trưa hè, khi tôi ngủ trưa, em lén lấy chiếc áo sơ mi trắng của tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt".
Một hôm, em nằng nặc đòi tôi đưa em lên khu rừng thông. Tôi sợ em lại dỗi nên đánh liều xin với ông bà cho đưa em lên núi chơi. Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc. Tôi đuổi theo em đến đứt cả hơi. Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi:
-Thầy ngồi xuống đi!
Tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi cứ ngồi như thế và im lặng bên nhau. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tít tận chân trời, không hiểu lúc đó em nghĩ gì. Bỗng em hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim không?
Tôi nhìn xuống sườn đồi, tím ngắt một màu sim. Em đứng lên và đi xuống. Tôi mệt quá và nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tỉnh dậy, tôi thấy em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.
- Thầy ăn đi!
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng, trầm trồ
-Ngọt quá !
Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế. Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này tới quả khác. Tôi ngước nhìn em, em cười. Hai hàm răng và đôi môi em đỏ tím, hai bên má cũng đỏ tím một màu sim. Tôi phá lên cười, em cũng cười theo...

Hạnh phúc mong manh


Hữu Loan hồi tưởng...
Cuối mùa đông năm ấy, tôi lên đường đi kháng chiến, làm Chính trị viên tiểu đoàn ở sư 304 của tướng Nguyễn Sơn.
Hôm tiễn tôi, em cứ theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Lên đến bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim vẫy tôi. Tôi lại đi và nhìn lại cho tới khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, tôi biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Chín năm sau, tôi trở lại nhà... Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều nhưng em không nói, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em bây giờ đã là một cô gái xinh đẹp. Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Đám cưới thật đơn sơ:
"...Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi ..."
Hạnh phúc ngọt ngào. Hai tuần phép của tôi trôi đi nhanh quá !
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi tám năm về trước em đã đứng. Chỉ có điều giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời, người vợ yêu quý của tôi. Tôi đi và quay đầu nhìn lại... Nếu như tám năm về trước, khi nhìn lại, tôi chỉ cảm thấy cô quạnh, một nỗi sầu man mác thì lần này tôi thực sự đau buồn. Đôi chân tôi không đứng nỗi và em cũng như quỵ xuống. Tôi đâu ngờ, đây là lần chia tay cuối cùng...

Dòng sông định mệnh


Ngày 29/5/1948, một ngày định mệnh, Ninh đưa quần áo ra giặt ở sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống). Đoạn sông này gần đổ ra biển nên nước chảy xiết. Buổi trưa bà Chất rủ cô Ninh ra tắm nhưng cô đã tắm buổi sáng nên mang quần áo ra giặt. Đang giặt, Ninh bỗng trượt chân, chới với giữa dòng nước hung dữ , bà mẹ quay lại chỉ thấy tóc con mình xõa trên mặt nước. Ba ngày sau, rất kỳ lạ, xác cô Ninh mới nổi lên không xa bến nước bao nhiêu trong khi nước ở nơi này chảy rất mạnh. Có người nói do cô bị kẹt ở dưới đáy, có người bảo cô Ninh vương vấn gia đình nên không muốn đi xa...
Ninh chết trong khi đang mặc chiếc áo màu tím. Dọc bờ sông, dưới chân núi Nưa, nơi cô chết, cũng mọc đầy những hoa sim tím. Thấp thoáng những cánh quân đi qua những đồi sim bạt ngàn. Câu thơ bi hùng:
"...Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt..."
Ba tháng sau, Hữu Loan nhận được tin dữ, vợ qua đời. Ninh chết quá thảm thương. Ông chạy về đến nơi thì mọi việc đã xong. Mẹ ngồi khóc bên mộ con, chiếc bình hoa trong ngày cưới được mọi người dùng làm bình hương để thờ tự:
"...Chiếc bình hoa ngày cưới.
thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh..."
Chiếc bình đặc biệt ấy, ông Hữu Loan vẫn giữ đến tận bây giờ và được đặt trên bàn thờ cô Ninh cùng với tấm ảnh cô chụp năm lên 10 tuổi. Vào một đêm mưa bão lớn, nước tràn từ mái nhà xuống bàn thờ đã làm hỏng tấm ảnh duy nhất đó.
Ba người anh của cô Ninh mà ông Hữu Loan đã dạy học và đựợc nhắc đến ở ngay đầu bài thơ lúc đấy đang ở chiến trường Đông Bắc. Không hiểu thư từ đi lại khó khăn hay sao mà họ nhận được thư báo tin em gái mất, rồi ít lâu sau mới nhận được thư báo tin người em gái lấy chồng.
Rất ít ai biết được về ba người anh của Ninh, người anh cả Lê Đỗ Khôi là Chính ủy tiểu đoàn, hy sinh chỉ vài giờ trước khi trận Điện Biên Phủ kết thúc. Người thứ hai là Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Phạm Đình Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, còn người anh thứ ba là Lê Đỗ An tức Nguyễn Tiên Phong, nguyên Bí thư Trung ương Đoàn - Phó Ban dân vận Trung ương.
Trở về doanh trại với nỗi đau xé lòng, Hữu Loan như người bị mất hồn. Trong nỗi đau tột cùng, bài "Màu tím hoa sim" được viết ngay bên mộ vợ trên một cái quạt giấy. Bài thơ khóc vợ nổi tiếng của ông được chép tay nhau và lan truyền rất nhanh chóng trong quân đội theo suốt cuộc chiến tranh đầy máu lửa.
Mãi đến những năm 1993, ông thêm một đoạn ở cuối bài thơ. Gần 50 năm sau, lời thơ của ông vẫn ai oán như xưa:
"...Ai hát
vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím
có chiều hoang biết
Chiều hoang tím
tím thêm màu da diết. ..
nhìn áo rách vai
tôi hát trong màu hoa:
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm. ..!
Màu tím hoa sim tím
Tình tang lệ rớm. ..
Ráng vàng ma và sừng rúc
điệu quân hành
Vang vọng chập chờn
theo bóng những binh đoàn
biền biệt hành binh
vào thăm thẳm chiều hoang màu tím...
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu?
- Áo anh nát chỉ dù. .. lâu!
Phần thêm vào một thời cũng gây xôn xao, có những người thích phần thêm nhưng có người chỉ muốn bài thơ nguyên thủy đã ăn sâu vào tâm khảm. Hữu Loan giải thích rằng việc ông viết thêm chỉ để làm cho rõ thêm ý cuối bài.
Bài thơ đã được các nhạc sĩ miền Nam phổ nhạc. Phạm Duy nổi tiếng với bài "Áo anh sứt chỉ đường tà", còn Dzũng Chinh cũng đã phổ thành nhạc phẩm boléro "Những đồi hoa sim", Duy Khánh với bài "Màu tím hoa sim". Cho dù với phong cách đối ngược nhau hoàn toàn, các bản nhạc đều được rất đông người biết đến.
Khi người ta hỏi Hữu Loan rằng ông thích bài hát nào nhất trong số các bản nhạc trên thì ông chỉ im lặng, ánh mắt nhìn ra vườn, hững hờ:
- Tôi không để ý chuyện người ta phổ nhạc tôi.
Bà Nhu , người vợ sau của ông giải thích:
- Ông ấy không thích bài nào cả, khi phổ nhạc người ta đổi lời mất mấy đoạn rồi.
Và như thế, từ đó đến nay, ông không bao giờ bước chân ra khỏi cổng nhà nữa. Mỗi ngày, ông ra chiếc võng trong vườn, nằm nhìn ngắm các cây cối xung quanh. Gần đây người con út của ông bắt đầu tìm cách sưu tầm lại các bài thơ còn thất lạc của ông, cũng có người đưa trả lại, nhưng chủ yếu do ông Hữu Loan nhớ ra và đọc lại. Không biết bao giờ tập thơ mới xuất bản và có kịp khi ông vẫn còn sống hay không, nhưng tên tuổi Hữu Loan cũng vẫn gắn chặt với Màu tím hoa sim, được xem như một trong những bài thơ tình đau thương nhất của thế kỷ 20.


Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 5:27am
Lưu Trọng Lư với bài "Tiếng Thu"
 
 
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...

 
Lưu Trọng Lư là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà phê bình thiên tài Hoài Thanh đã có những nhận xét thật chuẩn xác: "Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt rũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy". Nhận định này dường như đã thành nỗi ám ảnh. Và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ loạng choạng, cứ bập bỗm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán và vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn. Còn về con người Lưu Trọng Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: "Cả đời Lư cũng là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết".
Quả đúng vậy. Và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của Việt Nam, nghĩa là ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng Thu. Đây là bài hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...


Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ "Đầu Ngô mình Sở". Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về. Tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:

Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người chinh phụ


Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không thấy dấu vết thô vụng đâu nữa.
Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và chỉ xảy ra có một lần. Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi.
Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi thế, người đọc cũng phải dùng hồn để chiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lý trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất ngơ ngác này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khoá mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có 9 câu mà đã có đến ba câu điệp "Em không nghe":

Em không nghe mùa thu
...
Em không nghe rạo rực
...
Em không nghe rừng thu...


Em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được.Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xạc, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô, nghĩa là nó cũng không nghe nốt. Hiểu một cách sống sít như thế thì thật thô thiển. Nhà phê bình đã kéo những đám mây ngũ sắc đang bay lảng vảng trong không trung, rồi rải xuống đường làm rơm rạ lót chân, và như thế còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ để tạo giai điệu rất đặc biệt cho bài thơ này. Ở đây, nhạc điệu cũng là một phần nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ. Còn ở góc độ khác, cũng nhìn bằng con mắt lý trí, có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của nước ngoài. Thực tế trong bếp núc sáng tác, có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Người bình luận còn viện cớ rằng: "Thực tế Việt Nam làm gì có khu rừng vàng. Đấy là rừng châu Âu. Rừng Việt Nam là rừng luốm nhuốm. Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong Kiều: "Rừng thu từng biếc chen hồng". Và con nai Việt Nam cũng nhanh nhẹn lắm, tinh ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác! Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con mắt thịt đâu! Lại phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bào chữa cho ông thôi: "Trong thơ Lư, nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng tiếng ấy, màu kia chỉ có ở trong mộng. Mộng! Đó mới là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng, Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỷ 20, ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy mình gò ngựa ở những chốn xa xăm nào".

Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời...

1997.

Bài bình luận của Trần Đăng Khoa



Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 5:38am
Vội vàng - Xuân Diệu
 
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng chợt tắt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa...

Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Rút từ tập Thơ Thơ, 1938)


Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh đã thấy "Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt". Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa đề Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.

Thực ra, cái điệu sống vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là kết cục không thể tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao kì diệu. Mà sống là phải tận hưởng và tận hiến! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp.

Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.

Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất "ngại" cặp kè với chính luận. Thế nhưng, nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên thuộc loại thơ cảm xúc. Nhưng đọc kĩ sẽ thấy thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cấu tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột có lúc đã thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh hoạ cho triết học. Mà đó chính là cảm niệm triết học của một hồn thơ.

Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài, nhưng tự nó đã hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ "Ta muốn ôm". Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ trực tiếp cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều dễ thấy là thi sĩ có dụng ý chọn cách xưng hô cho từng phần. Trên, xưng "tôi" - lập thuyết, đối thoại với đồng loại. Dưới, xưng "ta" - đối diện với sự sống. Trình tự luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ ào ạt, sôi nổi như thác cuốn đã xoá mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.

Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. ấy là ước muốn quay ngược qui luật tự nhiên - một ước muốn không thể:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi

Muốn "tắt nắng", muốn "buộc gió" thật là những ham muốn kì dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được qui luật, làm sao có thể vĩnh viễn hoá được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ với cái thế giới thắm sắc đượm hương này.

Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường đầy sắc hương đó hiện diện trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khiêu gợi. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.

Hãy xem cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Có lẽ trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn tơ non đầy một sức sống thanh tân kia sao mà quyến rũ - tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một một người tình rạo rực, trinh nguyên.

Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái lôgic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn "tắt nắng", muốn buộc gió chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho một trần thế như thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là vẻ đẹp, là cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì trong sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, "ngon" nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái "ngon" kia khi còn trẻ thôi. Trong khi đó, cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này:

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Con người thời trung đại lấy sinh mệnh vũ trụ để đo đếm thời gian. Nên hình như họ yên trí với quan niệm thời - gian - tuần - hoàn, với cái chu kì bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu nghìn ngày của kiếp người. Hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu. Con người hiện đại lấy sinh mệnh cá thể làm thước đo thời gian. Nên họ sống với quan niệm thời - gian - tuyến - tính. Thời gian như một dòng chảy vô thuỷ vô chung mà mỗi một khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !

Không chỉ dùng sinh mệnh cá thể, Xuân Diệu còn đo đếm thời gian bằng cái quãng ngắn ngủi nhất của sinh mệnh cá thể: tuổi trẻ. Tuổi trẻ đã một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn.

Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người quá ư ngắn ngủi hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Không chỉ quan niệm, mà ngay cả cảm giác cũng hết sức mới lạ. Xuân Diệu đã đem đến một cảm nhận đầy tính "lạ hoá" về thời gian và không gian:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt...

Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép "tương giao" (Correspondance) của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới, trước hết là thời gian và không gian. Có những câu thơ mà cảm giác được liên tục chuyển qua các kênh khác nhau. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: "Mùi tháng năm" - thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương - chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn "buộc gió lại" ư - hương bay đi là thời gian trôi mất, là phai lạt phôi pha! Một chữ "rớm" cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ "vị" liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật chất: "vị chia phôi"! Thì ra chữ "rớm" và chữ "vị" đều từ một hình ảnh ẩn hiện trong cả câu thơ là giọt lệ chia phôi đó. Giọt lệ thường long lanh trên khoé mắt người trong giờ phút chia phôi. Giọt lệ thành hiện thân, biểu tượng của chia phôi. Vì sao thời gian lại mang hương vị - hình thể của chia phôi? ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép "tương giao"? Thực ra cái tinh tế của Xuân Diệu là ở chỗ này đây. Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang có một cuộc ra đi như thế, thời gian đang chia tay với con người, chia tay với không gian và với cả chính thời gian. Tựa như một phần đời của mỗi cá thể đang vĩnh viễn ra đi. Từng phần đời đang chia lìa với cá thể. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than triền miên bất tận: "than thầm tiễn biệt". Không gian đang tiễn biệt thời gian! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kì này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi!

Và, một điều rất đáng nói đã bộc lộ đây đó trong thi phẩm này là: do dùng tuổi trẻ để đo đếm thời gian, nên ở Xuân Diệu đã xuất hiện một ý niệm thời gian khá đặc biệt, đó là thì sắc. Thời gian được nhìn ở phía nhan sắc, gắn với nhan sắc của sự vật. Vì thế mà với hồn thơ này, thời gian, về thực chất không có ba thì phân lập rành rẽ với quá khứ - hiện tại - tương lai, mà chỉ có hai thì luôn tranh chấp và chuyển hoá thôi đó là thời tươi và thời phai. Nó không phải là hai mùa. Không phải Xuân Diệu lược qui bốn mùa vào hai mùa. Mà là hai thì của mỗi một tạo vật thiên nhiên. Thời tươi: vạn vật thắm sắc, thời phai: vạn vật phôi pha, phai lạt. Vật nào trong trần thế này cũng trải qua hai thì ấy. Tất cả những ý niệm thời gian khác như năm tháng, mùa vụ, phút giây... dường như đều tan trong cái ý niệm thì sắc tổng quát đó. Mà ta thấy ở đây, nó hiện diện trong sự đối lập của "độ phai tàn" (thời phai) và "thời tươi":

- Chim rộn ràng chợt dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa.
- Cho no nê thanh sắc của thời tươi.

Có thể nói ý niệm thì sắc này đã chi phối toàn bộ nhỡn quan Xuân Diệu đối với việc cảm nhận vẻ đẹp của thế giới trong sự trôi chảy vô thuỷ vô chung của nó.

Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có một cách thực tế nhất, khả thi nhất là chạy đua với thời gian, là tranh thủ sống:

Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao gì nữa...
Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm

Đến đây, phần luận giải cuả tuyên ngôn Vội vàng đã đủ đầy luận lí!

Phần cuối của bài thơ là lúc tuyên ngôn được hiện ra thành hành động, ấy là Vội vàng trong hình thái sống của cái tôi cá nhân cá thể này. Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những ham muốn mỗi lúc mỗi cuồng nhiệt, vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống trào cuốn của mình:

Ta muốn ôm:
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi, bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa, song song, thành những đợt sóng vỗ mãi vào vào tâm hồn người đọc. Câu thơ Ta muốn ôm chỉ có ba chữ, lại được đặt ở vị trí đặc biệt: chính giữa hàng thơ, là hoàn toàn có dụng ý. Xuân Diệu muốn tạo ra hình ảnh một cái tôi đầy ham hố, đang đứng giữa trần gian, dang rộng vòng tay, nới rộng tầm tay để ôm cho hết, cho khắp, gom cho nhiều nữa, nhiều nữa, mọi cảnh sắc mơn mởn trinh nguyên của trần thế này vào lòng ham muốn vô biên của nó. Cái điệp ngữ:"Ta muốn" được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm - riết - say - thâu - cắn. Có thể nói, câu thơ "Và non nước, và cây, và cỏ rạng" là không thể có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với người xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ "và" đến thế? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ "và" hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc ham hố, tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi s !

Câu thơ:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi

cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ "cho" điệp lại với nhịp độ tăng tiến, nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thoả thuê: chếnh choáng - đã đầy - no nê. Sóng cứ càng lúc càng tràn dâng, cao hơn, vỗ mạnh hơn, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:

- Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong một cuộc tình chếnh choáng men say.

Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc, phải sống vội vàng. Thế là, Vội vàng chính là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc và dường như cũng là cái giá trả cho hạnh phúc vậy! Xuân Diệu quả đã mang trong mình nguồn sống trẻ. Xuân Diệu là thi sĩ của nguồn sống trẻ. Ta hiểu vì sao, khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
 
(Sưu tầm)


Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 5:50am

Dạ khúc

                                 Hoàng Phủ Ngọc Tường
 
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời người

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối dâng đầy
Anh lặng thầm như là chiếc bóng
Hoa tàn một mình em không hay

Theo bản in trong tập thơ Người hái phù dung-NXB Hội Nhà văn- 1992

 
 
Có lẽ những ai đã từng đọc những trang tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng sẽ không thất vọng khi đọc thơ tình của ông. Rất trong sáng, dịu nhẹ, bâng khuâng...

Dạ khúc là một câu chuyện tình được kể bằng những vần thơ. Câu chuyện có anh, có em, có khởi đầu, và có kết thúc. Lần đầu tiên đọc bài thơ này, tôi đã ngạc nhiên, không hiểu vì đâu một bài thơ đầy ắp những buổi chiều như thế, lại có tên là Dạ khúc.

Cái tên của một bài thơ bao giờ cũng thâu tóm cái thần, cái cốt lõi nhất của bài thơ đó. Với tôi, Dạ khúc là khúc đêm, là một khoảng lặng tĩnh tại, hoang vắng. Thế mà một bài thơ với sáu khổ thơ, sáu buổi chiều, sáu khúc ca hoài niệm lại có tên Dạ khúc !

Nhưng khi đọc trở lại bài thơ tôi đã nhận ra rằng quả thực nhà thơ đã vô cùng hữu ý khi đặt cho bài thơ cái tên đó. Sáu khổ thơ bắt đầu bằng sáu sự tìm kiếm “có buổi chiều nào như chiều …”, với thời gian kéo dần từ quá khứ xa đến hiện tại. Sự lặp lại đó đã tạo cho âm hưởng chung của bài thơ, đó là sự - lần - tìm - kỉ - niệm. Cũng vì sự lần tìm kỉ niệm ấy mà người đọc biết, câu chuyện tình đó đang qua hoặc đã qua rồi.

Sự vận động mãnh liệt của dòng thời gian qua các khổ thơ cũng là sự vận động mãnh liệt của cảm giác con người trong tình yêu, từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc. Anh và em đã cùng đi qua những buổi chiều, từ buổi chiều xưa, đến buổi chiều qua, và những buổi chiều chỉ có thể gọi tên bằng kỉ niệm “buổi chiều người bỏ vui chơi” “buổi chiều mộng mị vây quanh” “buổi chiều hình như chưa nguôi” , những buổi chiều hạnh phúc, chỉ cho đến một buổi chiều nay, buổi chiều mà lần đầu tiên bóng tối đã đến.

Câu thơ “căn phòng anh bóng tối dâng đầy” là một câu thơ vô cùng tinh tế. Không phải là bóng tối phủ ngập căn phòng mà là bóng tối đang dâng lên, đang xâm lấn dần những khoảng không ánh sáng, thứ ánh sáng của hạnh phúc tình yêu mà con người vẫn chìm đắm. Trong căn phòng ấy , vẫn có anh và em, nhưng hai người dường như đã bị đẩy lùi về hai đầu thế giới mà sợi dây kết nối duy nhất là tình yêu đã không còn.

Hình ảnh “hoa tàn” vô cùng gợi cảm, bởi lẽ chỉ cần hình ảnh đó mà người đọc cảm nhận có một tình yêu vừa đã qua đi, vừa đã tàn lụi. Bông hoa tàn lụi trong bóng tối, như sự kết thúc lặng lẽ của một mối tình. Và người đọc biết rằng sẽ không còn có thể tìm thấy một buổi chiều nào nữa, chỉ còn là bóng tối miên viễn, buồn rầu…. Phải chăng vì lẽ đó, bài thơ có tên “dạ khúc”?

Từ trước đến nay, nhớ đến thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi hay nhớ đến những nàng tiên “quì ôm cát bụi khóc òa như mưa”, nhớ tới những miền không gian giao thoa giữa trần gian và tiên giới… Nhưng Dạ khúc lại là một tình yêu rất đời, rất trẻ, và cũng đầy cảm thông da diết. Nét tài hoa quen thuộc của Hoàng phủ Ngọc Tường, ta vẫn tìm thấy trong những hình ảnh trong sáng, hoặc mơ màng một vẻ đẹp liêu trai. Đó là một bông hoa xuân thì, là vành mi cong hờn dỗi, là mớ tơ xanh, vầng trăng nhân chứng,hay cả lời thề dâng hiến …

Bài thơ là một mối tình đã vỡ, với những dự cảm ngay từ ban đầu, khi chàng trai say đắm trong nụ hôn, anh đã biết “nỗi đau bắt đầu từ đấy” đã biết tình yêu luôn là nơi phát khởi của những nỗi đau. Nhưng đó là nỗi đau đớn ngọt ngào mà ít người chối từ được nó. Và vì lẽ đó, khi bài thơ kết thúc, nó không quá cay đắng, không quá xót xa, mà chỉ là một cảm giác luyến tiếc xa vắng, lặng lẽ….

Rất nhiều bạn trẻ đã chép trong những trang thơ của mình bài thơ Dạ Khúc, và tìm thấy ở đó sự đồng cảm, sẻ chia. Với một bài thơ, một nhà thơ, có còn cần gì hơn thế?

NGUYỄN THU THỦY

(Theo_TuoiTre)


Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 7:33am
TRÈO LÊN CÂY BƯỞI HÁI HOA (Ca dao)
 
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
 
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay
 
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thủa nào ra?
--------------------------------------
 
 

Bài ca dao này đã được khá nhiều người phân tích. Phần lớn đều tập trung ở khía cạnh hình tượng và ngữ nghĩa. Những sự phân tích ấy ít khi khác nhau cho nên tôi không muốn nhắc lại làm gì. Tôi chỉ xin lưu ý đến khía cạnh ngữ âm, một khía cạnh ngờ như có khả năng tiết lộ khá nhiều điều thú vị, đặc biệt là cảm xúc của người con gái.

Bài ca dao được cấu trúc bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của người con trai và ngôn ngữ của người con gái. Bài ca dao giống như một vở kịch với hai lời đối thoại. Nhưng lời nói của người con trai không hẳn là một lời nói, có vẻ như là lời kể của ai đó, một nhân vật thứ ba, ở ngoài. Tại sao? Không có gì khó hiểu cả: người con trai đang ở trong một trạng thái bất ổn, phân thân, hồn một nơi mà thân xác một nơi. Nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: không hiểu anh loăng quăng, líu quíu trèo lên, trèo xuống để làm gì vậy? Thật ra, có gì lạ đâu. Nhớ, trong một bài ca dao khác, một người con gái cũng có cái dáng điệu loăng quăng líu quíu như thế: “Khăn thương nhớ ai / Khăn rơi xuống đất / Khăn thương nhớ ai / Khăn vắt lên vai...”. Sự loăng quăng líu quíu ấy chỉ là một cách để làm nguôi ngoai một tâm trạng bời bời, đồng thời cũng là một dấu hiệu cho thấy anh không còn tự chủ được mình nữa, anh bị thất lạc tâm hồn. Anh bàng hoàng. Anh thảng thốt. Anh chấn động trước sự việc người anh yêu thầm đi lấy chồng.

Ngắm nụ hoa tầm xuân xanh biếc, người con trai ngẩn ngơ: “Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay.” Một câu hỏi quan trọng mà người đọc thơ không thể không đặt ra: có quan hệ gì giữa nụ tầm xuân và việc người con gái lấy chồng, từ đó, dẫn đến niềm tiếc nuối, xót xa kia? Ngỡ như không có. Mà lại có. Ở cái vần ‘iếc’ trong chữ ‘biếc’ cuối một câu thơ vốn có thật nhiều nguyên âm mở. Nó như một sự khép lại. Nó mảnh. Nó sắc. Như một sợi khói bay lên, bay lên, xa hút: nó hình tượng hoá một sự mất mát, một cái gì vuột khỏi tầm tay.

Người con gái chắc cũng yêu bạn mình. Chị đã từng chờ đợi. Hoài công vì sự nhút nhát của anh. Chị vừa thông cảm lại vừa giận. Chị đay nghiến: “ba đồng... một mớ....”. Sở dĩ đay nghiến là vì còn yêu, còn thương. Nhưng dẫu sao thì cũng đã lỡ: chị đã có chồng. Người con gái ý thức rất rõ điều đó, cho nên, giọng chị cứng lại:

Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng...

Vần hai câu thơ rơi vào âm ‘ông’ sang sảng, ngân vang. Mạnh, rất mạnh. Dứt khoát, rất dứt khoát. Nhưng tôi ngờ là chị chỉ cao giọng để lừa dối chính chị. Bởi, nói chưa hết câu ấy, giọng chị đã trầm xuống, thổn thức:

....Như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra.

‘Câu’, ‘đâu’, ‘gỡ’, ‘thuở’: những chữ kết thúc bằng nguyên âm ‘u’ và ‘ơ’, nửa khép nửa nhẹ, bềnh bồng, rưng rưng, không chừng là một tiếng khóc.



-------------


Viết bởi: Hoabanglang
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 8:18am
Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con mình.
 

Ca dao, ai cũng biết là hay. Tuy nhiên, có nhiều bài ca dao chúng ta đọc đi đọc lại cả trăm lần, mơ hồ cảm nhận là chúng hay, mà chả hiểu chúng hay ở chỗ nào cả. Chỉ đến một lúc nào đó...

Ví dụ bài ca dao rất quen thuộc này:

Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con mình.

Tôi thuộc bài ca dao này từ nhỏ. Nhưng chỉ gần đây, tôi mới bắt đầu loé thấy một ít cái hay của nó. Trước hết, chúng ta biết ngay bài ca dao này được làm theo thể lục bát. Bình thường, trong thơ lục bát, câu sáu chữ nằm trên câu tám chữ, lục rồi mới đến bát. Tuy nhiên, trong bài này có điểm lạ: là thơ lục bát, nhưng thay vì mở đầu bằng một câu lục thì nó lại mở đầu bằng một câu bát phá thể. Hệ quả là gì? Hệ quả là hơi thơ của câu thứ nhất dài hẳn ra. Dài và thiết tha vô hạn: tấm lòng của anh thanh niên mở ra bao la với những nguyên âm ‘o’ và nguyên âm ‘a’ rộng rãi và khép lại ở nguyên âm ‘i’ thầm thì trong chữ ‘mình’, một chữ được dùng để gọi người yêu, lặp lại đến hai lần ở câu thứ nhất. Thành ra ở đây, ngay câu thứ nhất, đã có một nghịch lý: ý câu thơ là tố cáo một sự dối trá (‘Mình nói dối ta...’) mà giọng thơ thì lại rất mực ngọt ngào và ấm áp: anh thanh niên biết mình bị lừa mà lại sẵn sàng chấp nhận bị lừa, sung sướng để chịu bị lừa.

Hay nhất trong bài ca dao vẫn là chữ ‘mình’. ‘Mình’ là cách xưng hô đầy âu yếm để gọi người mình yêu. Chữ ‘mình’ ấy lại lặp đến lại năm lần, mang hai ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: bốn lần đầu, ‘mình’ là em, chỉ người con gái, ngôi thứ hai số ít: ‘con mình’ là con của em, là ‘your child’. Đến lần thứ năm, cũng là ‘mình’, nhưng ‘mình’ ở đây lại là ta, là chúng ta, ngôi thứ nhất số nhiều, bao gồm cả người con trai lẫn người con gái: ‘con mình’ ở câu cuối là ‘our child’. Người thanh niên chấp nhận đứa con riêng của người yêu làm con của mình.

Bài thơ mở đầu bằng chữ ‘mình’, kết thức cũng bằng chữ ‘mình’. Từ chữ ‘mình’ đầu bài đến chữ ‘mình’ cuối bài, cách nhau chỉ có 28 từ mà thực ra là cả một quá trình chuyển hoá của mối quan hệ giữa người con trai và người con gái, là lịch sử của một mối tình vừa ngang trái lại vừa cảm động. Trước là hai, sau chỉ là một: người thanh niên chấp nhận người tình ngay cả khi bị chị đánh lừa.

Cuối cùng, vì lặp đi lặp lại nhiều lần từ ‘mình’, chứa đựng nhiều âm ‘m’ vốn là một phụ âm môi, nhẹ nhàng và ngọt ngào, bài ca dao mang đầy giọng tâm tình. Như một lời thủ thỉ, thầm thì. Hiếm có bài ca dao nào của Việt Nam mà có cái giọng ngọt và ấm đến như vậy.

(Sưu tầm)


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 8:32am
Em như cục cứt trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ.

Từ trước đến nay, bài ca dao này thường chỉ được đọc trong những lúc nói chuyện phiếm, như một bài ca dao trào lộng. Đọc cho vui, đọc để cười chơi, vậy thôi. Trong ý nghĩa ấy, bài ca dao được nhìn nhận như một cái gì khá tục và khá nhảm.

Tuy nhiên, theo tôi, không chừng đó là một bài ca dao hay.

Vấn đề là: nó hay ở chỗ nào?

Trước hết là nó bạo và nó mới. Nó không có một chút sáo ngữ nào cả. Dĩ nhiên, nói thế, chúng ta cần thận trọng. Không phải cứ hễ viết tục là thoát sáo. Từ trước đến nay, ở đâu cũng có những người khoái viết tục và viết bạo. Hiện nay, người ta lại càng viết tục và viết bạo. Nhưng chưa chắc đã hay. Dù sao, theo tôi, cái tục của câu ca dao này quả là hay thực. Nó không phải chỉ bạo để bạo, chỉ mới vì mới mà còn là một sự sáng tạo hầu vẽ nên một thế giới gần hiện thực hơn. Chúng ta hãy nhớ lại xã hội Việt Nam ngày xưa. Đâu phải ai cũng như là Thuý Kiều và Kim Trọng, cũng là “người quốc sắc, kẻ thiên tài”, là “trai anh hùng, gái thuyền quyên” cả. Trong xã hội thời xưa, đặc biệt là ở nông thôn, đại đa số các cặp tình nhân là những anh thợ cày và những chị đầy tớ. Anh đi làm mướn, chị đi ở đợ. Anh giống như Chí Phèo, chị giống như Thị Nở. Đời sống của họ cơ cực, tối tăm. Cho nên, không có gì lạ khi họ tự ví

Em như cục cứt ...
Anh như con chó ...

Cái tục của ngôn ngữ, cái thô của hình tượng ở đây lại là những cái thực và là một sự sáng tạo. Nó phá đổ những khuôn sáo cũ kỹ và giả tạo trong văn chương bác học. Nó vứt bỏ những son phấn những mũ mão đai hia để làm hiện hình những con người gần gũi với cuộc đời hằng ngày.

Hơn nữa, điều đáng cảm động ở đây là cặp tình nhân tự biết thân phận của người họ yêu và của chính họ chẳng ra gì. Em không ra gì. Mà anh thì cũng chẳng ra gì. Thế nhưng họ vẫn cứ yêu nhau, thương nhau. Chúng ta nhớ trong truyện ‘Chí Phèo’, Chí Phèo và Thị Nở cũng từng có lúc yêu nhau như tất cả mọi cặp tình nhân khác trên đời này. Và trên đời này, tất cả những con người bất hạnh khác, khi yêu nhau, thì cũng yêu nhau như tất cả những con người bình thường hay may mắn khác yêu nhau. Cách biểu hiện tình yêu có thể khác nhau nhưng những rung cảm những những xao xuyến những quyến luyến những ngây ngất trong lòng thì chắc chắn là không có gì khác nhau cả.

Ở giữa câu lục là hai từ bắt đầu bằng phụ âm ‘k’ (‘cục cứt’) mạnh, gắt, như một nỗi đau uất. Ở giữa câu bát là hai từ bắt đầu bằng phụ âm ‘ch’ (‘chó chạy’) mềm mại, ngân vang, như một nỗi buồn tênh. Câu ca dao, như thế, không phải chỉ tả mối tình giữa hai người khốn khó bất hạnh tự ví mình với những gì hèn mọn, thậm chí hèn hạ nhất trên mặt đất. Điều đáng đau xót, toát lên từ câu ca dao này là ở chỗ, mặc dù họ tự biết thân phận của mình, mặc dù họ hoàn toàn an phận, chấp nhận cái số kiếp làm phân, làm chó, họ vẫn không được gần nhau. Em vẫn lênh đênh giữa sông và anh vẫn chạy rông trên bờ. Anh vẫn không bắt được em, vẫn ở từ xa mà nhìn em một cách thèm thuồng. Giữa hai người vẫn có một khoảng cách vời vợi. Không cùng.

Bài ca dao, do đó, mặc dù có một số chữ có vẻ tục, có vẻ sỗ sàng lại chứa đựng một ý nghĩa hết sức thâm trầm, thể hiện được đúng số phận của hàng triệu triệu cặp thanh niên nam nữ nghèo khó, lam lũ và bất hạnh trong cuộc đời, nhất là cuộc đời ngày xưa.



-------------


Viết bởi: Cuibap
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 8:36am
Vân Tiên ngồi dưới gốc môn
Chờ cho trăng lặn bóp l... Nguyệt Nga

Xin nói ngay: tôi không có ý định khen đây là bài ca dao hay.

Không hay, nhưng nó không hẳn chỉ là một cách nói tục tĩu, nhảm nhí, và chắc chắn không phải là những câu vần vè vô nghĩa như lâu nay chúng ta vẫn thường tưởng.

Chỉ cần đặt câu hỏi: tại sao người ta lại không nói Kim Trọng hay Từ Hải hay Sở Khanh hay Mã Giám Sinh ‘ngồi dưới gốc môn’? Trả lời câu hỏi ấy, chúng ta sẽ thấy ngay tác giả của câu ca dao này chính là những độc giả của Nguyễn Đình Chiểu. Thế nhưng, ở đây lại nảy ra một câu hỏi khác: tại sao, trong truyện Lục Vân Tiên, người ta không chọn nhân vật nào khác, như Bùi Kiệm, một nhân vật được Nguyễn Đình Chiểu mô tả bằng những lời lẽ rất nặng nề, rất thích hợp với vai trò của kẻ ‘ngồi dưới gốc môn’: “Còn thằng Bùi Kiệm máu dê / Ngồi chề bê mặt như sề thịt trâu”? Tại sao?

Tại sao người ta lại chọn ngay chính Lục Vân Tiên, một nhân vật được xem là nghiêm trang, nghiêm túc, thậm chí nghiêm khắc, có thể xem như một khuôn mẫu về đạo đức, để bắt làm cái chuyện phàm phu tục tử ấy? Tại sao người ta lại chọn cái nhân vật không dám nhìn cả phụ nữ “Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái, ta là phận trai”, không dám lần khân lâu bên phụ nữ “Vân Tiên ngó lại rằng: Ừ / Làm thơ cho kịp chừ chừ chớ lâu” lại làm cái việc ‘công xúc tu sỉ’ ấy?

Tại sao? Chắc chắn là có lý do. Và lý do cũng không có gì khó hiểu: Chúng ta dễ dàng thấy được câu ca dao trên là một cách phản ứng chống lại thái độ đạo đức khắt khe, có phần giả tạo của Lục Vân Tiên, và phần nào cũng là của Nguyễn Đình Chiểu. Chế diễu thái độ đạo đức cứng nhắc ấy, dân chúng đã cho Lục Vân Tiên làm cái việc nhảm nhí là ‘ngồi dưới gốc môn, chờ cho trăng lặn...’ Trong cách nhìn này, câu ca dao trên có cùng trường nghĩa với một câu ca dao khác, từ lâu vẫn được xem là có ‘lập trường tiến bộ’ và ‘đứng đắn’ hơn:

Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Nói cách khác, tôi nghĩ, chúng ta hoàn toàn có lý để xem câu ‘Vân Tiên ngồi dưới gốc môn...’ như một cách đọc truyện Lục Vân Tiên. Đó là một lời phê bình cuốn Lục Vân Tiên. Trong vô số những lời phê bình truyện Lục Vân Tiên, không chừng cách phê bình này của dân gian là một cách phê bình hay. Hay và sắc sảo. Nó nhắm vào một trong những vấn đề trung tâm của tác phẩm là quan niệm đạo đức cũng như cách thức xây dựng nhân vật của cụ Đồ Chiểu nói chung.

Cũng vậy, chúng ta có thể đọc những câu:

Vân Tiên cõng mẹ chạy ra,
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ chạy vô.
Vân Tiên cõng mẹ chạy vô,
Đụng phải cái bồ, cõng mẹ chạy ra.
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra...

như một sự phê phán quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu: ông một mực đề cao những chuẩn mực đạo đức cổ điển và cổ kính như trung, hiếu, tiết, nghĩa với hy vọng là chúng sẽ giúp duy trì sự ổn định trong xã hội, tuy nhiên, một là, xã hội Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 19, trong sự cọ xát dữ dội với văn minh Tây phương và thế lực thực dân, cứ ngày một rạn nứt, vô phương hàn gắn; hai là, bản thân những chuẩn mực đạo đức tưởng đâu là chân lý vĩnh cửu ấy thật ra rất đáng ngờ, và với sự lung lay của Nho học, càng ngày càng đáng ngờ thêm. Con thuyền ‘chở đạo’ của Nguyễn Đình Chiểu, do đó, không phải chỉ trôi trên một dòng nước ngược mà còn, hơn nữa, trên thực tế, chỉ loay hoay mãi trong một vũng nước tù, không có lối thoát, hết ‘đụng’ cái này thì ‘đụng’ cái kia, cứ quanh quanh quẩn quẩn mãi trong sự tuyệt vọng và bế tắc. Nói cách khác, đó là những lý tưởng ở đường cùng. Biện pháp dựa trên nguyên tắc đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu đề xuất, hay đúng hơn, cổ vũ, đã không giải được bài toán của thời đại.

Theo tôi, chỉ với cách hiểu như thế, chúng ta mới giải thích được tại sao một nhân vật chính diện trong một tác phẩm nặng dụng tâm giáo huấn của một tác giả được xem là tiêu biểu nhất của dòng văn học giáo huấn lại biến thành - không phải một lần mà là nhiều lần, ít nhất là hai lần như vừa nêu - một nhân vật hài trong nền văn học dân gian.

Một ngày nào đó, nếu tôi đủ hứng thú và can đảm làm một tuyển tập phê bình về Nguyễn Đình Chiểu, có khi tôi sẽ chọn in những câu ca dao trên ngay ở trang đầu. Ở đâu đó, bên kia thế giới, đã xa lắm lắm những lời dạy lẩm cẩm kiểu ‘trai thời trung hiếu làm đầu / gái thời tiết hạnh làm câu trau mình’, đọc những lời phê bình thông minh và hóm hỉnh ấy, không chừng cụ Đồ sẽ cả cười.

(Sưu tầm)


-------------
Em chão cả nhà


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 9:49am

CÒN NHỚ KHÔNG EM

Em ơi!
Hoa cúc đã rực vàng trước ngõ
Lá lìa cành ngập đầy lối cỏ
Tẫm sương đêm làm nhòe nhoẹt bước chân trần
Anh chợt buồn
Chợt mong nhớ bâng khuâng
Lời hẹn ước em có còn ghi nhớ

Sương buổi sáng phả bên tai như hơi thở
Chợt ấm lòng như nghe bước chân em
Cũng như trong từng giấc ngủ hằng đêm
Tay ôm gối ngỡ hình hài yêu dấu
Anh nhớ em, hỏi lòng em có thấu
Biết bao giờ em trở lại em ơi!

Trọng thu rồi, lá càng lúc càng rơi
Ngày rất ngắn, đêm rất dài… khó ngủ
Gối chăn ơ hờ làm sao ấm đủ
Tiếng côn trùng cứ rả rích ngoài hiên
Anh vùi đầu cố dỗ giấc cô miên
Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ

14112006

------------------------------------------------

Bài thơ của anh Yên Sơn vẫn là điệp khúc nhớ mong muôn thuở, khởi đầu và kết thúc, theo phong cách riêng của anh, thường một ý, để trân trọng và quấn quýt cảm giác nằm trọn trong tựa đề. Anh không mở ra ở câu kết, hoặc đảo cả ngôn từ, thậm chí cả ý, như thơ Trần Lộc, nên thơ anh thật thà cảm giác, không nổi loạn hoặc điên cuồng tới mức như thơ của thi sĩ họ Trần. Anh chỉ kết nhè nhẹ: “Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “, chứ không mạnh một tí như: “Trong mộng mị lại cuồng điên mộng mị”. Đông Đức tiên sinh nghĩ cảm giác của anh Yên Sơn dao động từ bâng khuâng đến điên cuồng có lẽ dựa vào câu: “Chợt mong nhớ bâng khuâng” ở đoạn đầu, và câu kết: “Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “ này chăng? Trong thơ, theo cảm nhận riêng của tôi, không phải dùng từ ngữ “điên cuồng” là diễn tả được sự điên cuồng đâu, mà còn phải kết hợp nhiều yếu tố khác nữa. Giá mà anh Yên Sơn kết bằng câu đại khái như: “Trong mộng mị lại cuồng điên mộng mị”, chứ không dùng nhóm chữ: “điên cuồng nỗi nhớ “ thì may ra cảm nhận người đọc mạnh thêm hơn, bộc lộ được tâm trạng điên cuồng. Anh nhẹ nhàng nên cảm nhận của người đọc khi đọc câu cuối của bài thơ lại trở về với bâng khuâng, luyến tiếc và trân trọng của đoạn đầu. Thử bình qua bài thơ của anh Yên Sơn xem sao hỉ!

Đoạn thơ đầu của bài: “Còn nhớ không em”:
“Em ơi!
Hoa cúc đã rực vàng trước ngõ
Lá lìa cành ngập đầy lối cỏ
Tẫm sương đêm làm nhòe nhoẹt bước chân trần
Anh chợt buồn
Chợt mong nhớ bâng khuâng
Lời hẹn ước em có còn ghi nhớ”

Anh gieo liền hai câu cước vận trắc:
“Hoa cúc đã rực vàng trước ngõ
Lá lìa cành ngập đầy lối cỏ”

nghe man mác làm sao. Đoạn đầu bài thơ đã đưa người đọc vào cảm nhận của nỗi nhớ trong anh, pha lẫn niềm tiếc thương ray rức của lời hẹn ước ban đầu. Đoạn thơ nhẹ nhàng như một áng văn xuôi, pha cảnh, trộn tình, làm bồi hồi người đọc. Thật vậy, thử viết lại đoạn thơ này thành văn xuôi, chấm phết rành mạch, sẽ thấy ngay.

Đoạn kế tiếp:
“Sương buổi sáng phã bên tai như hơi thở
Chợt ấm lòng như nghe bước chân em
Cũng như trong từng giấc ngủ hằng đêm
Tay ôm gối ngỡ hình hài yêu dấu
Anh nhớ em, hỏi lòng em có thấu
Biết bao giờ em trở lại em ơi!”

cường độ nhớ nhung ray rức trong anh tăng dần với những hồi tưởng thật đẹp thật lưu luyến như “nghe bước chân em”, như “Tay ôm gối ngỡ hình hài yêu dấu”. Cảm giác dệt bằng hình ảnh và kỷ niệm tới mức ôm em vào lòng đến đê mê ngây ngất, rồi thảng thốt kêu lên:

“Anh nhớ em, hỏi lòng em có thấu
Biết bao giờ em trở lại em ơi!”

vừa biểu lộ sự điên cuồng, vừa ray rức, đau thương.

Chữ “phả” trong câu “Sương buổi sáng phả bên tai như hơi thở”, với nghĩa hà mạnh hơi ra từ miệng, miêu tả khí lạnh từ bên ngoài để nghe liêu trai hơn, và kết hợp hợp lý với hình ảnh sương lạnh buổi sáng hơn.

Rồi đoạn cuối:
“Trọng thu rồi, lá càng lúc càng rơi
Ngày rất ngắn, đêm rất dài …. khó ngủ
Gối chăn ơ hờ làm sao ấm đủ
Tiếng côn trùng cứ rả rích ngoài hiên
Anh vùi đầu cố dỗ giấc cô miên
Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “

Dẫn người đọc trở về với hình ảnh mùa Thu, lá càng lúc càng rơi, ngày ngắn, đêm dài, người mang tâm sự, thao thức khó ngủ. Câu thơ: “Trọng thu rồi, lá càng lúc càng rơi” đẹp từ hình ảnh đến ngôn từ và âm điệu. Chữ “trọng” kết hợp với chữ “Thu” để diễn tả mùa Thu đang chuyển mình vào giai đoạn cuối mùa, nghe thật mới lạ. Câu này liên kết với câu: “Ngày rất ngắn, đêm rất dài …. khó ngủ”, càng đẹp thêm hình ảnh và ảm đạm thêm cõi lòng. Rồi gối chân ơ hờ không đủ ấm, rồi tiếng côn trùng rả rích ngoài hiên, khiến anh như người quả phụ cố dỗ giấc ngủ cô đơn một mình được diễn tả trọn vẹn trong ba câu tiếp, trước khi anh kế tthúc bài thơ bằng câu: “Trong mộng mị lại điên cuồng nỗi nhớ “ với tình và cảnh được phân định rõ ràng. Không biết anh có ngủ được không, hay mộng mị đây chỉ là mộng mị của người đang trăn trở thao thức. Cho nên điên cuồng nỗi nhớ, theo tôi, không thể hiện hữu ở cái không gian như vậy với ý nghĩa biểu thị bởi từ ngữ như vậy, mặc dầu nỗi nhớ của nhà thơ vẫn canh cánh bên lòng. Điều này không phải cho rằng “điên cuồng nổi nhớ “ không hợp lý khi đứng với nhóm từ “Trong mộng mị”, mà tôi chỉ muốn nói: dù có đứng cạnh, mà thực ra rất hợp với lời thơ, thêm khí cho lời thơ, vẫn đưa nhà thơ trở về ôm ấp ve vuốt với ý chính trong tâm hồn mình đã đặt cả vào tựa bài: Còn nhớ không Em?

Rua anh Yên Sơn! Bài thơ hay lắm! Lâu quá không bình, chữ nghĩa, ý tưởng cũng… lình bình cả. Không lột tả hết nỗi lòng của anh, hoặc cảm nhận không đúng như cảm nhận của anh thì mong anh bỏ qua cho nhé! Mua vui vậy mà!

Thân
Nguyễn Xuân Đấu



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 9:59am
 

Lá Diêu Bông-Hoàng Cầm

 
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá
Chị chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãn bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
... ới Diêu Bông!...
 
Lá Diêu bông- hành trình kiếm tìm hạnh phúc


Trong tài sản thơ phú giầu có của ông, Hoàng Cầm có rất nhiều tác phẩm, ngay cả khi chưa công bố, đã được "ngôn truyền" trong công chúng. Và khi cất tiếng hoan ca, nó đủ sức lay động tới con tim mọi giai tầng. Lá Diêu bông là một bài thơ có số phận "hạnh phúc" như thế, cho dù nó nói về nỗi bất hạnh- hay hạnh phúc "ảo" của kiếp người.


Bài thơ dạng kể chuyện, ngắn gọn đến mức tiêu biểu cho sự hàm súc, hàm súc từ hình ảnh đến ngôn từ, khó có thể lược bớt đi một từ nào trong bài thơ.


Câu chuyện có hai nhân vật: Em - tác giả và Chị - đối tượng mối tình thơ ấu của ông. Người ta thường cho rằng bài thơ nói về mối tình đầu đơn phương mộng ảo của người nghệ sỹ tài ba. Nhiều người đã kiếm tìm để biết thêm về cuộc sống tình duyên của hai nguyên mẫu - tác giả và chị Vinh, khai thác sâu các tầng bậc chất lãng mạn trong con người và thơ Hoàng Cầm.


Nhưng thực ra, ngoài phần nổi của bài thơ đã là khá đẹp và hấp dẫn, còn có phần chìm, phần hồn- đó cũng chính là thông điệp của của bài thơ nữa. Cũng giống như người đi tìm trầm hương, cái lõi trầm bên trong mới thực sự quý giá.

Ta hãy quay lại bài thơ và cùng thưởng thức nó.


"Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều - cuống rạ"


Chỉ với ba câu, tác giả giới thiệu ngay với chúng ta nhân vật chính: Cô thiếu nữ dậy thì mặc váy (con gái Đình Bảng từ tuổi nào đó mới mặc váy), đang vu vơ đi tìm một cái gì đó phi vật thể giữa cuống rạ đồng chiều (có phiên bản chép là thẫn thờ, đúng ra phải là thẩn thơ, chữ thẫn thờ không hợp với tuổi thơ).


Đồng thời tác giả cũng đã tự giới thiệu về mình: Một chú nhi đồng. Một người trai mười tám chắc đã tả "em" nào là hai mắt lá răm, nào đôi môi hồng, nào làn thu thuỷ nét xuân sơn v.v. Còn chú bé nhi đồng chắc chắn chưa hề biết về những cái đó, chú chỉ nhìn thấy có mỗi cái váy (chắc vì ngang tầm mắt của chú!).


Tuổi Trẻ ngày nay ít người biết cửa võng là gì. Cửa võng- một thứ cửa làm bằng gỗ hoặc vải thêu, nhà giàu thì sơn son thếp vàng, hình chữ ∏, ba bên chạm trổ nhiều hoạ tiết, hoặc ghép thêm những chi tiết phụ nhằm tăng thêm sự cầu kỳ của cửa.


Váy buông chùng cửa võng nghĩa là hai thân váy thu sang hai bên rồi buông chùng xuống. Có thể Chị chưa hết tuổi lớn nên váy mặc còn tém sang hai bên như cửa võng.


"Chị bảo đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng"


Chắc hẳn có mấy chú bé nhằng nhẵng bám theo nên chị nói cho qua chuyện. Xin lưu ý chữ "bảo", không phải Chị nói mà là bảo, bảo là khi người trên nói với người dưới. Hơn nữa, Chị chỉ gọi là chồng, như một trò chơi đóng giả vợ chồng con cái của trẻ con chứ không như Trần Tiến "Em đố ai tìm được lá diêu bông, xin lấy làm chồng"


"Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày đâu phải lá diêu bông"


"Chau mày" không phải vì thằng bé dốt quá, làm gì có lá Diêu bông (lá Diêu bông là do nhà thơ sáng tạo ra, có thể hiểu là lá của một loài hoa phiêu diêu, không có thực, giống như hạnh phúc ở trên đời này vậy, cũng là một cái gì đó hư ảo). Hãy phân tích tiếp xem vì cái gì.


"Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông"


"Lắc đầu' là một động tác mạnh hơn "chau mày", cộng thêm động tác nhìn về phía xa xa, như trông đợi một cái gì đó.


"Ngày cưới chị, em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim"


Chữ "cười" ở đây cho ta lời giải thích vì sao chị "chau mày" và "lắc đầu" ở hai thời điểm trước đó. Nghiã là chị đã đi tìm, đã mong mỏi hạnh phúc lứa đôi. Khi làm đám cưới, chị cảm thấy hạnh phúc, mãn nguyện (có bản chép xe chỉ cắm trôn kim hay ấn trôn kim, nghe thô lỗ quá, ấm trôn kim mới đúng, nó nói lên người con gái đã sẵn sàng cho vai trò làm vợ, may vá thêu thùa, giữ gìn mái ấm gia đình).


"Chị ba con em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn"


Khi đã có ba con, lúc nghe nhắc lại lá Diêu bông, Chị có thái độ hoàn toàn thất vọng, không còn muốn nhìn thấy một sự thật phũ phàng: Làm gì có hạnh phúc lứa đôi trong cuộc đời Chị, cái hạnh phúc mà Chị mong mỏi khi nhẩn nhơ đi tìm trong đồng chiều cuống rạ trước đây?


Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
ới Diêu Bông!


Khổ cuối của bài thơ như một lời kết cho câu chuyện, như láy lại sự kiên trì ngây thơ suốt cả cuộc đời "Em" trong mối tình vô vọng với "Chị", như một lời than cho số phận bất hạnh của người đàn bà nói riêng và kiếp người nói chung.


Bài thơ thoạt tưởng chỉ là kể về câu chuyện tình liêu trai bất thành, mà thực ra nó là khúc ca xót xa, khóc cho người mình yêu chứ không phải là than thân trách phận. Nó triết lý về hành trình tìm kiếm hạnh phúc đời người. Và nó nói hộ nỗi lòng khát khao. Ai đọc, cũng thấy mình trong đó...


Hạnh phúc chỉ là ảo. Nhưng người ta vẫn không ngừng kiếm tìm...


Vì khát vọng vẫn mạnh hơn ảo vọng. Đó là cái lẽ, bài thơ Lá Diêu bông luôn được mọi lớp người yêu thích, nhập tâm suốt hơn nửa thế kỷ qua


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 10:10am
Thêm một
          thơ Trần Hoà Bình
 
Thêm một chiếc lá rụng
Thế là thành mùa thu
Thêm một tiếng chim gù
Thành ban mai tinh khiết...
Dĩ nhiên là tôi biết
Thêm một - lắm điều hay
Nhưng mà tôi vẫn biết
Thêm một- phiền toái thay!

Thêm một lời dại dột
Tức thì em bỏ đi
Nhưng thêm chút lầm lì
Thể nào em cũng khóc
Thêm một người thứ ba
Chuyện tình đâm dang dở
Cứ thêm một lời hứa
Lại một lần khả nghi!
Nhận thêm một thiệp cưới
Thấy mình lẻ loi hơn
Thêm một đêm trăng tròn
Lại thấy mình đang khuyết...
Dĩ nhiên là tôi biết
Thêm một - lăm điều hay...
( Thu 1985)


Lời bình: Thêm một : Tương sinh và tương khắc
“ Một chiếc lá vàng thật vàng thật đẹp rơi trúng đầu trên con đường quen thuộc...” đã làm cảm xúc của thi sĩ Trần Hoà Bình thăng hoa và cất thành lời thơ. Bài thơ “Thêm một” đã ra đời như thế đấy!
Cứ nhẹ nhàng thủ thỉ, Trần Hoà Bình đã gửi vào “Thêm một" những chiêm nghiệm giàu tính triết lý về đời sống. Ngay từ đầu, bài thơ đã mở ra những tiểu đối đặt cạnh nhau tạo nên những quan hệ tương sinh, tương khắc.
“Thêm một” tạo ra quan hệ tương sinh:
Thêm một chiếc lá rụng
Thế là thành mùa thu
Thêm một tiếng chim gù
Thành ban mai tinh khiết...
Chỉ “thêm một” chiếc lá rụng, thế là mùa thu đã ùa về, chỉ “thêm một” tiếng chim đầy ắp sự sống, một ban mai tinh khiết đã hiện ra. Thêm cái này thì sẽ xuất hiện cái kia, cái này làm mới cái kia, tạo ra điều tốt lành để cuộc sống đẹp hơn, ý nghĩa hơn, tuyệt vời hơn. Quả là: “Thêm một -lắm điều hay”
“Thêm một” tạo ra quan hệ tương khắc:
Thêm một người thứ ba
Chuyện tình đâm dang dở
Cứ thêm một lời hứa
Lại một lần khả nghi!
Nhận thêm một thiệp cưới
Thấy mình lẻ loi hơn
Thêm một đêm trăng tròn
Lại thấy mình đang khuyết...
“Thêm một” làm đầy cái này thì lại làm khuyết cái kia, làm thừa cái này thì lại làm thiếu cái khác. “Thêm một” tạo nên sự đối lập, đem lại bao điều trăn trở, day dứt, nghĩ suy. Quả là: “ Thêm một - phiền toái thay”.
“ Thơ là điệu hồn đi tìm hồn đồng điệu”. Điệu hồn của Trần Hoà Bình đã chạm tới muôn điệu hồn của bạn đọc ngay từ khi “Thêm môt” mới ra mắt bạn đọc lần đầu.
( Nguyễn Thị Mai)


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 10:15am
Biển - Lâm Thị Mĩ Dạ
 

Biển trời soi mắt nhau
Cho sao về với sóng
Biển có trời thêm rộng
Trời xanh cho biển xanh

Mặt trời lên đến đâu
Cũng lên từ phía biển
Nơi ánh sáng bắt đầu
Tỏa triệu vòng yêu mến

Biển ơi! Biển thẳm sâu
Dạt dào mà không nói
Biển ơi cho ta hỏi
Biển mặn từ bao giờ

Nhặt chi con ốc vàng
Sóng xô vào tận bãi
Những cái gì dễ dãi
Có bao giờ bền lâu

Biển chìm trong đêm thâu
Ðể chân trời lại rạng
Khát khao điều mới lạ
Ta đẩy thuyền ra khơi
Dù bão giông vất vả
Không quản gì biển ơi!


CẶP SONG HÀNH BIỂN TRỜI

Nhẹ nhàng mà thấm thía, cao rộng nhưng không xa vời, bài thơ Biển của Lâm Thị Mỹ Dạ đã gợi lên nhiều ý nghĩa triết lí sâu xa về cuộc đời. Nếu như Xuân Quỳnh mượn hình ảnh những con sóng nhỏ để nói lên cung bậc tình yêu thì dường như với Lâm Thị Mỹ Dạ không gian ấy mở rộng hơn với hai cặp hình ảnh biển trời. Nhà thơ đã khéo léo để hai hình ảnh này song song bên nhau, tôn thêm vẻ đẹp cho nhau: Biển có trời thêm rộng/ Trời xanh cho biển xanh. Biển cả luôn là đích đến , là nơi lưu giữ những điều bí mật để chúng ta khám phá tìm hiểu. Phải chăng, với tác giả biển cả chính là cuộc đời rộng lớn, là tấm gương lớn để mỗi người soi vào đấy và khao khát tìm hiểu. Hình ảnh thơ không mới nhưng ý tưởng mà tác giả đề cập đến thật thâm thúy và gần gũi với mỗi người.

(ST)


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 11:04am

Đất nước

                        Nguyễn Đình Thi
 
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha!
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da...
Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà!
Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh.
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!

1948

(Rút trong tập thơ Người chiến sĩ, NXB Văn nghệ , 1956

Lời bình của Trịnh Thanh Sơn:

Bài thơ Đất nước được Nguyễn Đình Thi sáng tác vào cuối năm 1948 (theo hồi ức của nhà văn Tô Hoài) tại chiến khu Việt Bắc, mà cụ thể là ở vùng rừng núi Tuyên Quang. Lúc đó, ông đang là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn nghệ VN.

Đất nước ra đời sau bài hát Người Hà Nội chưa đầy một năm, vì vậy không khí trường ca vẫn còn thấm đẫm. Có thể coi Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một trường ca thu nhỏ, bởi nó mang trong mình đầy đủ những phẩm chất cốt lõi của một trường ca.

Chính vì vậy, bài thơ Đất nước đã là một gợi ý cho rất nhiều những trường ca sau này, xuất hiện trong thời chống Mỹ. Tôi nói là những "gợi ý", nhưng thực chất đó là những bài học về phương pháp tư tưởng, phong cách nghệ thuật, và cả thủ pháp nghệ thuật khi tiến hành một trường ca.

Tuy nhiên, bài thơ Đất nước vẫn nguyên vẹn và mãi nguyên vẹn là một bài thơ trữ tình hoành tráng và lộng lẫy. Nhà thơ sáng tác bài thơ này ở tuổi 24, ở tuổi ấy mà viết như thế, chỉ có những thiên tài mới làm nổi, chỉ có dân tộc và cách mạng mới làm nổi.

Tài năng của Nguyễn Đình Thi đã gặp được thiên thời - địa lợi - nhân hòa, gặp được ngọn gió lớn mà ta vẫn quen gọi là "bão táp Cách mạng", vì thế mà vút lên, vì thế mà bền lâu, vì thế mà cách tân và hiện đại.

Nói "hiện đại" là ngầm so sánh với cái gì trước đó là "chưa hiện đại". Ở đây tôi muốn dừng lại ở một so sánh nho nhỏ, rằng Đất nước của Nguyễn Đình Thi hiện đại hơn Thơ mới trước đó không bao lâu.

Ông mở đầu bài thơ bằng việc tả mùa thu, một mùa thu như bao mùa thu trong cách nhìn của mùa thu thứ nhất, mùa thu đầu tiên:

Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Ta nhớ những ngày thu đã xa...

"Những ngày thu đã xa" là những ngày thu nào vậy? Phải chăng, đó là một nỗi buồn trong thơ Bích Khê:

Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi... thu mênh mông!

Hay trong thơ Chế Lan Viên trước đó:

Thu đến đây, chừ biết nói răng
Chừ đây buồn giận biết sao ngăn
Tìm trong những sắc hoa đang rụng
Ta kiếm trong hoa chút sắc tàn!

Không phải vậy, nỗi nhớ mùa thu năm xưa là một mùa thu rất khác. Đó là mùa thu năm 1946, đất nước sau bao cố gắng của Bác Hồ, vẫn phải một lần nữa đứng lên đánh Pháp, đấy là mùa thu nhà thơ trẻ phải rời Thủ đô Hà Nội thân yêu một lần nữa để trở lại chiến khu Việt Bắc, với niềm tin "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi". Phút chia tay với Thủ đô yêu dấu chưa đầy một tuổi Dân chủ Cộng hòa, tâm trạng nhà thơ mới bồi hồi, xao xuyến, xa xót làm sao:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy!

Thơ ấy có nhạc và có hoa. Giai điệu đã sẵn trong giai điệu và tiết tấu của thơ rồi, còn vẽ một bức tranh lụa hay sơn dầu thì sao? Khó nhất là tả cho được cái buổi sáng "chớm lạnh", và những đường phố dài "xao xác hơi may". Còn "người ra đi đầu không ngoảnh lại" và "sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" chắc chắn là "nhìn được" bằng đường nét, bố cục và mầu sắc.

Nhưng không phải vậy đâu, tả được cái tình rưng rưng nước mắt của người "ra đi đầu không ngoảnh lại" kia mới là thật khó. Cái ấy, cái điều chiêm cảm ấy, chỉ có thơ mới làm được!

Và thơ cũng làm được một điều hơn thế, rằng chỉ sau hai khổ thơ đầu với lưu luyến, buồn thương, đau xót tiễn đưa, mùa thu bỗng khác hẳn, sáng bừng lên với một mầu sắc khác, bởi tâm trạng của người thơ đã khác, khỏe mạnh, tự tin và sáng bừng lên:

Mùa thu nay khác rồi!

Chỉ với năm chữ mở đầu của khổ thơ thứ ba "Mùa thu nay khác rồi" ta thấy tâm thế của người thơ đã chuyển, đã vươn tới một vị thế cao hơn, tự tin và sung mãn hơn trong tầm vóc của một nội lực lớn. Hình tượng của nhà thơ bỗng cao sừng sững:

Ta đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc, nói cười, thiết tha...

Nhận thức về "nội hàm" của một mùa thu mới là vô cùng sáng rõ và cách tân, bởi đây là mùa thu khác, mùa thu của những người đã có quyền làm chủ núi đồi, làm chủ những rừng tre phấp phới, và là một "mùa thu thay áo mới", một mùa thu "trong biếc, nói cười, thiết tha!".

Câu cuối của khổ thơ này thật tài hoa, và nó là đặc sản của thi tài Nguyễn Đình Thi.

Sự kết hợp của những tính từ - động từ - trạng từ, bất ngờ đến nỗi làm ta phải sững sờ trong chiêm cảm một vẻ đẹp ngôn ngữ Việt mà trước đây chưa bao giờ có. Ai trong biếc? Ai nói cười? Ai thiết tha? Chính là hồn của mùa thu mới, hồn của dân tộc vậy!

Một câu thơ mà làm sáng cả non sông, đất nước và làm cho chúng ta tự hào, tự tin biết bao. Một đất nước, với những ngày thu ấy, sẽ mãi mãi trường tồn. Đó là chủ quyền của người Việt, của giống nòi dân Việt. Trong cảm hứng hào sảng ấy ông viết tiếp:

Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông chảy nặng phù sa...

Để rồi, vang vọng những câu thơ hào sảng nhất về giống nòi:

Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về

Ngày xưa nói về gì vậy?
Những buổi ngày xưa nói gì đây?

Và ông trả lời như một bích họa thắm đỏ máu xương, rằng:

Ôi! Những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai xé nát trời chiều

Và: Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

Tôi gọi những câu thơ này là những câu thơ thăng hoa nhất của người chiến sĩ - nghệ sĩ Nguyễn Đình Thi. Ngoài những gì hay và đẹp nhất mà ông đã dâng hiến cho nền thi ca hiện đại Việt Nam, những câu thơ trên, ông đã tự khiêm nhường bộc lộ một thiên tài thi ca, ít ai sánh nổi:

Cảm hứng rộng dài đất nước, dân tộc và cá nhân người chiến sĩ đã gắng quện vào nhau, hòa đồng trong nhau, để bản thân người nghệ sĩ bỗng trở thành một tế bào của đất nước. Một đất nước từng Ngời lên nét mặt quê hương/ Mỗi gốc lúa, bờ tre hồn hậu/ Cũng bật lên những tiếng căm hờn! Rồi ông nói, như hai triệu người dân chết đói nói, như tiếng vọng của những âm hồn:

Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da...

Đau buồn ấy là đau buồn ký sự, đau buồn nhiếp ảnh, đau buồn hội họa. Còn đau buồn và phản kháng thơ phải cao bút lên như thế này, sâu thẳm và triết luận trong một so sánh và phương pháp tư tưởng đầy nghịch lý, minh triết như thế này:

Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà...

Những câu thơ tưởng như một lời đại ngôn ấy, bỗng làm người đọc xúc động và thẩm thấu một ý nghĩa quan trọng trong triết học về lẽ sống. Ai giết nổi chim và hoa? Ai bắn được "lòng dân ta yêu nước thương nhà!" Ấy là sự bắn vào hư không, ấy là sự tàn sát trong vô vọng. Hệ quả cuối cùng, chỉ là sự thất bại mà thôi!

Chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn cầu đã thất bại hoàn toàn vì chân lý giản dị ấy, và Nguyễn Đình Thi - với một chiêm cảm lớn, đã tổng kết qua thơ.

Càng đọc Đất nước, chúng ta càng cảm nhận và thấu suốt, đó là một bài thơ lớn, được viết từ một tâm hồn, tâm hồn của một nghệ sĩ đồng hành với lòng dân, biết tôn vinh một giá trị vĩnh hằng, đó là tấm lòng cửa người dân với quê hương, đất nước. Non sông nước Việt vẫn trường tồn, đã trường tồn, đang trường tồn và sẽ trường tồn bởi một giá trị văn hóa vĩnh hằng, đó chính là: "Lòng dân ta yêu nước, thương nhà!

Trong những ngày mùa thu tháng Tám, kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đọc lại bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi, chúng ta cảm thấy một niềm tự hào dân tộc từ trong sâu thẳm tâm hồn:

Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn, đứng dậy sáng lòa!

Những câu thơ ấy cho ta gặp lại một mùa thu năm xưa, một mùa thu định mệnh của toàn dân tộc, và bỗng cảm thấy tâm hồn thanh thản, sạch trong "mát trong như sáng năm xưa".

Viết về bài thơ Đất nước, tôi ngỡ như được gặp lại ông - một Nguyễn Đình Thi ân tình và cởi mở, thường gật đầu hiền hậu khi gặp tôi ở sân 51 Trần Hưng Đạo, đôi khi vẫy tay gọi lôi lên phòng của ông, tặng tôi một tập thơ vừa xuất bản. Trong tôi, Nguyễn Đình Thi vĩnh hằng là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ lớn và độc đáo của dân tộc Việt.

Cùng với những bản nhạc Diệt phát xít, Người Hà Nội, bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi mãi mãi sống cùng non sông đất nước.

Theo Văn nghệ



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 11:37am
Mình anh và thu - Thơ Bùi Văn Hải

Sớm hôm nay vào thu
Lá khoe màu xanh biếc
Cây xù xì mộc mạc
Gió thủ thỉ ngọt ngào

Nghe theo lời của gió
Lá bỏ cây lá rơi
Em tin lời người lạ
Em bỏ anh em đi

Gió ghen thì gió tới
Gió phá rồi gió xa
Cây mọc lên từ đất
Lá cũng về đất thôi

Gió thì hay đổi thay
Cây muôn đời vẫn vậy
Không muốn làm cơn gió
Một mình anh … mùa thu …

Mua thu bao giờ cũng tuyệt đẹp.Vẻ đẹp của mùa thu đem đến cho thi sĩ những cảm nhận, những rung động tâm hồn khác nhau.Những cảm nhận và rung động đó nhiều khi còn do tác động của hoàn cảnh,của tâm trạng.Với Bùi văn Hải, một chàng trai còn rất đỗi trẻ trung, tâm hồn trong trẻo,sớm có cuộc sống nội tâm, đã có một mùa thu thật riêng biệt ”mình anh và thu”.
Nhan đề bài thơ đã đưa ta đến với nhân vật trữ tình ở đây là một chàng trai (tác giả) có một sự giao hòa gắn bó đặc biệt với mùa thu.Sự gắn bó giữa cá thể với vũ trụ hay chỉ là cái cớ để Bùi Văn Hải gửi vào đó khúc tâm tư?Mùa thu đôi khi được ví là mùa của tình yêu bởi chỉ có mùa thu mới đẹp đến quyến rũ lòng người mà tuổi yêu là tuổi đẹp nhất trên đời.Tuy nhiên, mùa thu nhiều khi còn là biểu tượng của một mối tình đẹp mà buồn .Vẻ đẹp của mùa thu là vẻ đẹp buồn trong mắt buồn .
Trước hết là vẻ đẹp của bức tranh thu được chạm khắc vào một buổi sáng sớm lúc thu sang:
Sáng hôm nay vào thu
Lá khoe màu xanh biếc
Cây xù xì mộc mạc
Gió thủ thỉ ngọt ngào.
Theo thể thơ ngũ ngôn cô đọng,súc tích và giọng thơ hồn nhiên trong trẻo như hồn người đang hòa quyện với thiên nhiên lúc vào thu.Câu đầu như một lời khẳng định mùa thu đã chính thức đến từ buổi sáng nay.Dấu hiệu của mùa thu được phát hiện bắt đầu từ màu xanh của lá.Thật thú vị,Màu xanh của lá được Hải cảm nhận như đứa trẻ được mẹ thiên nhiên vừa khoác thêm cho chiếc áo mới màu xanh biếc đầy sức sống.Một cảm nhận rất mới lạ khác hẳn với những thi nhân thường vẽ mùa thu sang bằng màu vàng của lá.Chẳng hạn, Xuân Diệu đã ngạc nhiên khi phát hiện thấy:
Đây mùa thu tới!Mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng...
Trong con mắt của chàng trai trẻ Hà Thành,mùa thu vẫn xanh biêc không chỉ trong bầu trời,mặt nước mà trong cả màu xanh của lá.Có lẽ, đó cũng là một hình ảnh tả thực bởi mùa thu mới chỉ là bắt đầu,làm sao có thể chuyển màu áo mơ phai nhanh được.Nhận ra điều đó, ta càng trân trọng Bùi Hải đã rất chân thực ,không hề hoa lá, tô vé, màu mè chút nào.Cũng chính từ hình ảnh tả thực đó, ta càng thấy hiện rõ lên tâm hồn tươi xanh trẻ trung của Hải.Có lẽ, Vẻ đẹp của lá chính là vẻ đẹp của cô gái mà tình yêu với cây đã trở nên quấn quýt như một.Bởi, cây và lá tào nên sự sống trên cùng một cội rễ.
Cùng với màu xanh biếc của chiếc lá đã được mùa hè nuôi dưỡng bằng nắng và mưa là những thân cây xù xì mộc mạc đến không cần phải bàn luận thêm nữa.Mùa thu trong trẻo trẻ trung bởi màu xanh của lá,vừa có độ già nua, vững chãi của những thân cây xù xì được gợi lên bằng nghệ thuật tạo hình.Ngay sau đó là âm thanh của gió được nhân hóa như lời” thủ thỉ”của kẻ bất chợt từ đâu đến xen ngang giữa cuộc tình tuyệt đẹp của cây và lá.Gió trở thành kẻ thứ ba gieo rắc ngang trái.Những kẻ dối trá thì hay làm điều xấu xa .Còn kẻ thật thà thì lại dễ tin lời lừa phỉnh.Lời "thủ thỉ ngọt ngào" của gió chẳng khác gì "mật ngọt chết ruồi".Trong cuộc sống, không thiếu gì những cô gái vì ghen tuông ích kỉ đã xen vào chọc phá không ít mối tình đẹp đẽ.
Dường như tác giả chỉ mượn mùa thu làm duyên để bộc lộ câu chuyện tình lãng mạn của mình.Lá,cây trở thành biểu tượng của tình yêu.Thật thú vị khi ta chợt nhận ra vẻ đẹp chân chất,mộc mạc của chàng trai qua hình ảnh”Cây xù xì mộc mạc”.Cách diễn đạt thơ của Hải thật tinh tế đến ngưỡng mộ!Hàm ý của ngôn ngữ thơ rất sâu.Mới chỉ đọc qua,khó mà nhận ra được.
Đặc điểm của chàng trai hiền hậu, thật thà bao giờ cũng thế mà.Con gái bao giờ cũng tinh tế hơn, mạnh mẽ hơn ,nhất là cùng trang lứa(Con gái biết yêu trước con trai-hi...).Nhưng khi chàng trai bị tiếng gọi của tình yêu lên tiếng thì lại rất mãnh liệt..Cây không có lá làm sao cây sống nổi.Cây đã giành tất cả tình yêu của mình để chăt chiu cho lá thêm xanh thêm đẹp.Mà lá không có cành ,có cây làm sao lá sống? Hải đã đặt tình yêu của đôi lứa vào những biểu tượng đặc sắc.Nhưng ,khổ nỗi ở đời có câu:
"Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng"
Thật thông minh và tinh tế,Hải đã đặt tình yêu của cây và lá vào thử thách nghiệt ngã khi để gió đến "thủ thỉ ngọt ngào."Và, sự thật là tình yêu tuyệt đẹp của cây và lá bỗng chốc bị giói cuốn đi, rẽ chia một cách phũ phàng:
Nghe theo lời của gió
Lá bỏ cây lá rơi
Lá đã tin bạn một cách dại dột, mù quáng nên đã nghe lời của gió.Lá lặng lẽ bỏ cây ra đi không một lời từ biệt.Sự non nớt, vụng dại của tuổi trẻ đã khiến cả chàng trai và cô gái yêu nhau say đắm là thế, những tưởng giao hòa tuyệt vời là thế đã nhanh chóng phải hững hờ, chia phôi:
Em tin lời người lạ
Em bỏ anh em đi
Gió đã chủ động phá vỡ hạnh phúc của cây và lá không hề hối hận .Nhưng chính Lá cũng chưa đủ hiểu biết,chưa đủ bản lĩnh để gìn gữi tình yêu tuyệt dẹp với cây.Lá dại dột,cả tin khi nghe lời người lạ.Lá rỗi hờn ,bỏ cây ra đi không một lý do khiến cây bàng hoàng trước bất ngờ.Lời của cây cũng thật mộc mạc “Em bỏ anh em đi”.Cây đau đớn,tiếc nuối và thẫn thờ đến không hiểu vì sao lá nỡ tình bỏ cây ra đi không một lời từ biệt như thế.Tình yêu ban đầu ngọt ngào bao nhiêu thì giờ đây cay đắng xót xa bấy nhiêu.Cây cũng biết lý do chỉ là lời của người lạ.Trời ơi, sao lá nông nổi thế,dại dột thế!
lá lặng lẽ bỏ cây nhưng lá vẫn yêu cây mà không biết làm cách nào để quay lại.Phải chăng là lòng tự trọng .lá hiểu lầm cây một cách thật đáng tiếc.Gió muốn cây và lá luôn phải đau khổ:
Gió ghen thì gió tới
Gió phá rồi gió xa
Phải chăng:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nhưng gió có là gì của nhau với cây(hoặc lá) đâu mà ghen ghét đố kị vậy.Gió nỡ lòng lại tàn phá duyên mới của lá với cây,khiến cây phải chịu hình phạt ghen tuông của gió là phải sống cô đơn mãi mãi.Trong nỗi buồn đến tím lòng vì yêu đó,Cây không còn thiết sống nữa.Cây nhận ra sâu sắc triết lý nhân sinh:
Cây mọc lên từ đất
Lá cũng về đất thôi.
Lời thơ ngậm ngùi,chua chát khi Cây phải sớm nếm trải vị đắng tình yêu.Hạnh phúc cõi đời thật mong manh như chiếc lá.Âm điêu của bài thơ trầm lắng xuống,gợi bao suy tưởng.Cây nhận ra chân lý:dù lá có bỏ cây ra đi thì trước sau cả cây và lá đều cũng phải trở với đất.Tôi chợt nhớ đến bài hát “Trở về cát bụi”:
“Sống trên đời này, tựa phù du có ngay rồi lại mất
Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen...
....
Này lời hứa,này thủy chung,này tình yêu chót gửi đầu môi
Cũng thế mà thôi,sẽ hết ngày mai,như áng mây cuối trời...”
Nhận ra sự mong manh, phũ phàng của hạnh phúc trần thế,Cây trở nên bao dung, rắn giỏi đến lạ kỳ:
Gió thì hay thay đổi
Cây muôn đời vẫn vậy
Không muốn làm cơn gió
Một mình anh...mùa thu...
Gió thậtđáng trách! Mượn gió, B Hải nhân hóa gió thành kẻ chuyên đi phá hoại hạnh phúc người khác.Một hàng tiểu nhân không nên tồn tại trên thế gian này.
Cây mệt mỏi,thất vọng vì gió.Sự thất vọng đó khiến cây không muốn làm cơn gió để gió cuốn đi, bỏ lại cả gốc rễ ,nguồn cội của mình.Đó chính là lý do để cây muốn”Một mình anh...mùa thu...”
Cuối bài thơ,Bùi Hải đã thoát khỏi hình tượng cây để trở về với chính mình khi xưng là “anh”Đây là câu thơ chất đầy tình ý nhất.Còn lại mình anh với mùa thu hay còn lại sự cô đơn, còn lại một bản ngã rất đàn ông luôn bất khuất,vững vàng trước mọi đổi thay của cuộc sống?Câu kết của bài thơ gợi tới rất nhiều ý sâu xa còn nghệ thuậtdùng dấuchấm lửng ngắt quãng rất tinh tế.Chẳng khác gì:
Người khôn ăn nói nửa chừng
Để cho người dại nửa mừng nửa lo
Đó là cách nói vừa ngập ngừng,vừa dứt khoát.Cô gái(Lá) sẽ nghĩ gì khi đọc bài thơ này?
Riêng tôi, tôi rất tâm đắc với câu kết đặc sắc này khi nhận ra sự khẳng định mạnh mẽ của chàng trai.Chàng trai khẳng định vẻ đẹp bất tử của mùa thu-đồng thời khẳng định vẻ đẹp bất tử của tình yêu, của tâm hồn chàng trai.Và, tình yêu của họ mãi là bản tình ca không bao giờ quên..


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 11:40am
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Có được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà ?
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ con chưa có, mẹ già chưa khâu,
Áo anh sứt chỉ đã lâu.
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng .
Khâu rồi anh sẽ trả công
Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho,
Giúp cho một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm,
Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo,
Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau...


Mở đầu bài ca là một không gian nghệ thuật, vừa có cái không khí thiêng liêng của đình làng, lại vừa có vẻ đẹp dân dã mà rất đỗi thơ mộng, của đầm sen đưa hương sực nức. Chàng trai tát nước trong cảnh ấy, và vắt áo trên cành hoa sen nào đấy:


Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.


Đây quả là điều phi lý! Bởi cành hoa sen (một cách gọi quen thuộc ở một số địa phương: lên chùa bẻ một cành sen...) mềm mại như vậy, làm sao có thể vắt áo lên được? Đây là nghệ thuật lấy cái không để nói cái có mà ta thường thấy trong văn học, nghệ thuật phương Đông. Cái có chính là chiếc áo vương hương sen thanh cao, để cho ai bắt được, cũng vương chút hương mơ mộng ấy. Nhưng cái có ấy (chiếc áo bỏ quên), chắc chi đã có, mà chỉ là cái cớ vờ vĩnh, được tạo ra như một lý do, để có dịp gặp gỡ ngừời con gái mà thổ lộ tâm tình.

Cái câu hỏi mà chàng trai nêu ra, cũng là câu hỏi bâng quơ, là cách nói ỡm ờ:



Có được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà?


Tuy rằng không khẳng định, chỉ là lời ướm hỏi thôi: ''có được'', nhưng lại cứ như thắt buộc ai đó. ''Hay là'', là lời đắn đo dò xét rất ý nhị về một điều khó nói, nhưng cũng là niềm hi vọng, được người con gái giữ làm kỷ vật, làm ''của tin'' cho mối tình. Cái thâm thúy mà mộc mạc của ca dao chính là ở đây.Nếu có chiếc áo thật, cô gái đem ra trả cho chàng trai, thì ôi thôi ! chẳng còn gì để nói nữa. Chính vì không có áo, nên cô gái biết thanh minh thế nào đây? Không trả được áo, là có chuyện rồi!Và đây chính là duyên cớ để chàng trai bám riết. Không cần đợi cô gái trả lời, chàng trai tiếp tục vịn vào chiếc áo để phô bày tình cảnh của mình:





Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ con chưa có mẹ già chưa khâu


Ra thế! Chiếc áo mà anh ta bỏ quên không đẹp đẽ gì, mà chỉ là áo rách. Nhưng không phải là rách rứới. Rách mà vẫn lành. Vì chỉ là sứt chỉ ở nơi kín đáo, nếu không để ý thì không thấy được.Khoe áo rách không phải là mục đích, mà vẫn chỉ là cái cớ tiếp theo được đưa ra để bộc lộ là mình chưa có vợ. Trong nhà chỉ có một mẹ già cần được người chăm sóc thôi.

Quá thể hơn, là:


Áo anh sứt chỉ đã lâu




Nói chuyện sứt chỉ đã lâu, là nhằm mục đích gì đây ? Sao không sợ cô gái chê là kẻ lười biếng?




Qua đây, ta thấy chàng trai có trí tuệ sâu sắc. Nói điều này là anh ta vừa tự khoe mình, lại vừa đề cao người con gái.Anh không phải là người dễ dãi trong tình cảm đâu. Không phải bất kì ai cũng có thể vá được áo cho anh ta. Người mà anh ta đợi chờ giờ đây mới thấy, mới xứng đáng với tình anh.Đấy chính là người không mang trả áo. Cho nên anh ta buông ra một câu lấp lửng:


Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng

Sao lại là ''cô ấy'', chứ không phải là em, là cô gái mà anh ta đang đòi trả áo ? Chàng trai này qủa là người sắc sảo đến dễ sợ. Nói lảng ra để tránh đòn, nếu như cô gái không có tình ý gì. Mặt khác, đây cũng là cách thử lòng ai đó. Nếu cô gái có tình ý, nghe nói đến ''cô ấy'' sẽ chạnh lòng, và không giấu được thái độ, thì khi đó ''cô ấy'', không phải là ai khác, ngoài cô em đang đối diện với chàng trai.Vịệc trao tình của chàng trai, đã là một ngệ thuật,và cũng là nghệ thuật tài tình của ca dao.

Còn những thứ mà chàng trai muốn trao tặng cô gái, thực ra là một lễ cưới trọn vẹn, theo phong tục ngày xưa:



Khâu rồi anh sẽ trả công
Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho
Giúp cho một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm...


Như vậy chuyện tát nước đầu đình và chuyện bỏ quên áo, chẳng qua chỉ là sự việc làm nền cho việc bộc lộ tình cảm yêu thương mà thôi. Qua đây cho ta thấy được tâm hồn của cha ông ta vừa lãng mạn, vừa tinh tế, cùng với một trí tuệ vô cùng sắc sảo, mà con cháu hôm nay chưa chắc đã theo kịp.

Trần Thanh Xuân



-------------


Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 2:25pm
Thử bình bài thơ " Mẹ của anh" của nữ sĩ Xuân Quỳnh
 
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong

Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen

Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao

Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa

Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà

Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau mỗi âu lo nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh không cùng

Giữa ngàn hoa cỏ núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắc chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.
 
-------------------------------------------
 
Xuân Quỳnh, nữ thi sĩ tài hoa của thế kỷ XX đã đi xa hai mươi mấy năm rồi (Chị mất trong một vụ tai nạn giao thông thương tâm, thảm khốc cùng với chồng là Lưu Quang Vũ và con gái Quỳnh Thơ ngày 29/8/1988) nhưng di sản thơ của Chị còn lại mãi với đời.

Viết về "mẹ" là đề tài muôn thuở của thi sĩ, còn viết về "mẹ chồng" chân thành, tự nhiên và hay như Chị thì quả là hiếm có.

Ta hãy thử đến với bài thơ "Mẹ của Anh" để cảm nhận một góc chân dung nhà thơ trong vai trò cô dâu Việt Nam mới, với tình cảm mới, quan điểm mới trong cuộc sống mới.

Ba cái tên được nói đến trong bài thơ này gồm: Em, Anh và Mẹ,  ngay từ tựa đề đã cho bạn đọc biết nội dung không nói về Em, cũng không nói về Anh mà nói về Mẹ. Mở đầu Chị viết:

"Phái đâu mẹ của riêng anh

Mẹ là mẹ của chúng mình đó thôi

Mẹ tuy không đẻ, không nuôi

Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong."


Rõ ràng Chị đang nói, đang ghen với Anh, nhưng thực ra đó chỉ là cái cớ để bày  tỏ tình cảm của mình đối với Mẹ cho tự nhiên, cho hợp lẽ. Chị khéo léo giới thiệu (khoe)  với mọi người  về "mẹ của chúng mình đó thôi". Mẹ không sinh thành, dưỡng dục mà Chị  phải chịu ơn mẹ cả một đời chưa hết, bởi  Mẹ đã ban tặng Chị đứa con trai yêu dấu của mình, ban tặng Chị một nửa bên kia cuộc dời mà tạo hoá đã vô tình hoặc cố tình để quên khi tạo ra loài người, ban tặng  niềm  khát khao hạnh phúc cháy bỏng của Chị.

"Ngày xưa má mẹ cũng hồng

Bên anh, mẹ thức, lo từng cơn đau

Bây giờ tóc mẹ trắng phau

Để cho mái tóc trên đầu anh đen

Đâu con dốc nắng đường quen

Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần

Thương anh thương cả bước chân

Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao"


 Hình ảnh người mẹ một thời xuân sắc, suốt đời tảo tần, lam lũ, hy sinh tất cả  tất thảy vì con, đã hiện  dần lên theo từng con chữ mộc mạc, chan chứa ân tình của Chị.

 Mẹ đã từng  một thời con gái làm bao chàng trai say đắm. Lấy chồng, sinh con mẹ dồn tất cả tình thương cho con, như "thân cò lặn lội...", như "cá chuối đắm đuối vì con". Đêm khuya mẹ thức trắng bên con mỗi khi con đau ốm, rồi mặt khi mặt trời chưa kịp thức, bước chân mẹ đã tất bật trên đôi vai trĩu nặng, mua khoai chợ gần, bán sắn chợ xa để lo miếng ăn hàng ngày cho cả nhà trong  những năm khốn khó.

"Lời ru mẹ hát thuở nào

Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh.

Nào là hoa bưởi, hoa chanh

Nào câu quan họ mái đình cây đa

Xin đừng bắt chước câu ca

Đi về dối mẹ để mà yêu nhau"


 Anh - Lưu Quang Vũ, người chồng  hào hoa, tài hoa thân yêu của Chị nổi tiếng một phần nhờ sự lao động miệt mài say mê sáng tạo, một phần nhờ ảnh hưởng sâu xa từ gen di truyền, từ những lời ru ngọt ngào, những câu chuyện cổ tích thấm đẫm tính nhân văn  mà đêm đêm Mẹ đã thổi vào tâm hồn Anh ngay từ thời thơ bé.

            Những người đã từng làm "mẹ chồng" nói chung và mẹ chồng  của Chị nói riêng, khi đọc những lời tâm sự của "nàng dâu" Xuân Quỳnh, thử hỏi có ai không xốn xang, xúc động?

'Mẹ không ghét bỏ em đâu

Yêu anh, em đã là dâu trong nhà"


Chị đang nói với Anh đấy ư? không! Chị đang nói với Mẹ đấy.

            Như con chim đậu phải cành cong, cuộc hôn nhân  một lần  dang dở nhưng Chị vẫn can đảm, tự tin khẳng định điều này, bởi Chị tin vào sự chân thành, trách nhiệm làm dâu của bản thân, bởi Chị  hiểu, cảm nhận những đức tính cao đẹp, lòng bao dung, sự cảm thông sâu sắc, Mẹ của Chị đã vượt lên quan niệm phong kiến lỗi thời đang đè nặng lên nếp nghĩ cố hữu của không ít "mẹ chồng" thời nay  để thuơng con dâu hiếu thảo như chính con gái của mình.

 Và để Mẹ yên tâm, vững tin hơn, Chị đã bày tỏ tâm sự của mình trong bài thơ "Người thứ hai":

"Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con
Bởi trước con, anh ấy là của Mẹ
Anh ấy có thể yêu con suốt một thời trai trẻ
Nhưng suốt đời, anh ấy yêu Mẹ, Mẹ ơi".


Rồi kết thúc, Chị lại tiếp tục khẳng định:

"Anh ấy có thể sống với con suốt cả cuộc đời
Mà cũng có thể chia tay ngay ngày mai, có thể ...

Nhưng anh ấy suốt đời yêu Mẹ
Dù thế nào, con cũng chỉ thứ hai.".

Mẹ không an tâm sao được khi cô con dâu đang đắm say trong niềm hạnh phúc, trong vòng tay ấm áp của Anh vẫn tự coi mình là là nhân vật số  hai, không bao giờ muốn và không thể soán ngôi nhân vật số một. Chị đã thay Anh bộc bạch  nỗi niềm với Mẹ  trong hoàn cảnh người đàn ông "đứng giữa" không thể trực tiếp nói ra mà nếu có thể nói ra cũng không  dễ gì mang lại hiệu quả. Cái lý lẽ Chị đưa ra phù hợp với quy luật tâm lý tình cảm nên dễ thuyết phục lòng người. Tôi đồ rằng trong sâu thẳm trái tim mình, Anh ngàn lần cám ơn Chị.

"Em xin hát tiếp lời ca

Ru anh sau nỗi âu lo nhọc nhằn

Hát tình yêu của chúng mình

Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng

Giữa ngàn hoa có núi sông

Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ"


Giới thiệu Mẹ với mọi người, đồng thời Chị nguyện làm tròn bổn phận của người vợ, xứng đáng với tình yêu mà Anh đã dành cho Chị.Tình yêu, hạnh phúc mong manh, nhỏ nhoi của Anh Chị nằm trong hạnh phúc lớn lao chung của dân tộc, hoà mình với thiên nhiên, núi sông, cây cỏ và trong hạnh phúc mênh mông, vô bờ của Mẹ.

 Như "Sóng" vỗ mạn "Thuyền", mạch thơ cứ dào dạt tuôn trào một cách tự nhiên, không gượng ép vần điệu, rất gần gũi với  dân ca, ca dao ( Ta thử đọc câu ca dao: "Yêu nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay" và câu thơ:Xin đừng bắt chước câu ca/ Đi về dối mẹ để mà yêu nhau).  Lấy sự chân thực làm điểm tựa cho cảm hứng sáng tạo, cảm xúc trong  thơ  đủ mọi tầng nấc và trong một  khoảnh khắc bất chợt được đẩy lên tột cùng cung bậc. Chị ít bận tâm trong việc đi tìm hình thức biểu hiện (có lần Xuân Quỳnh đã nói: "Đừng lo đi tìm ngôn ngữ, cảm xúc sẽ tự chọn được ngôn ngữ của mình").

 Chính sự chân thực một cách hồn nhiên, thoải mái, tâm hồn đa cảm, hóm hĩnh nhưng luôn tư duy sắc sảo, lý trí tỉnh táo đã định hình một phong cách, giọng điệu thơ riêng không lẫn với ai. Đọc thơ Chị, độc giả  thấy một Xuân Quỳnh hết lòng,  yêu thương hết lòng, lo âu, trăn trở hết lòng và cảm thấy có bóng dáng mình trong đó.

Thơ lục bát mà ngỡ như không phải lục bát.Tứ thơ hay, gọn, nội dung thể hiện đặc sắc hình như đã che khuất yếu tố kỹ thuật, nhưng soi thật kỹ  những "nhà chuyên môn" khó tính nhất cũng không dễ bắt bẻ tác giả  một lỗi nhỏ  về niêm luật. Như viên ngọc quý, nó càng trở nên long lanh hơn mỗi khi có tia sáng rọi vào, tôn thêm vẻ đẹp toàn bích của bài thơ.

              
   Chắt chiu từ những ngày xưa

               Mẹ sinh anh để bây giờ cho em..."


Hai câu kết chân chất, đơn sơ mà vô cùng sâu lắng. Mẹ là cội nguồn hạnh phúc. Đó là lời tri ân chân thành của Chị, là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Trước mắt ta, Xuân Quỳnh duờng như không còn là "nhà thơ" nữa, Chị đã hoá thân và thực sự là một người con dâu mẫu mực, một cô Tấm thảo hiền.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cuộc sống vật chất đã đầy đủ hơn. Nhiều ngưòi không còn phải quan tâm nhièu đến "cơm áo gạo tiền" hàng ngày nữa. Song do nhiều nhu cầu mới phát sinh, do tác động của môi trường, hoàn cảnh ... nên hạnh phúc gia đình, nề nếp gia phong đang trở nên mong manh hơn. Thiển nghĩ, bài thơ này sẽ góp phần nhỏ thức dậy những phẩm chất, tình cảm tốt đẹp đang ngủ quên trong trái tim mỗi người phụ nữ - Người "kiến trúc sư" của gia đình như thành ngữ Việt Nam có câu: "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm".

Cảm thụ, thưởng thức, đánh giá thơ là tuỳ thuộc vào quan điểm, sở thích của mỗi người, mỗi thời đại, nhưng có lẽ những vần  thơ tha thiết của Chị còn đọng mãi trong lòng thế hệ bạn đọc hôm nay và mai sau./.

Tháng 8/201

Trần Đình Nhân



Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 2:38pm
Hoa cỏ may
Xuân Quỳnh
 
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu

Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.

Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm dầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?
 
 
 
Có lẽ ai đã trãi qua tuổi thơ,đã từng đi trên những con đường hai bên hoa cỏ xanh rì, đặc biệt là những người đã từng một lần sống là làng quê đều biết đến “hoa cỏ may”. Một lòai hoa cỏ dại, sống kiên cường và thường bám vào khách đi đường nếu phớt lờ qua nó. Nhưng lại ít người biết về “sự tích hoa cỏ may”, một câu chuyện nhuốm màu cổ tích nhưng là một câu chuyện tình yêu thủy chung. Đó là câu chuyện tình yêu của đôi trai gái (nàng là tiểu thư khuê các, chàng là chàng trai đốn củi nghèo xơ xác) ở cùng một làng quê,họ yêu nhau thắm thiết nhưng bị gia đình hai bên ngăn cản .Họ trốn đi, chung sống với nhau, cùng lao động và hưởng thụ tình yêu chân thành cùng nhau. Nhưng rồi chàng trai lại cảm thấy thương vợ vì người con gái trước chân yếu tay mềm nay lại phải lao động vất vả.Không can tâm chàng ra đi quyết chí làm ăn, hẹn 3 năm trở về.Nhưng 3 năm ròng trôi qua,quyết chí đợi, đợi mãi, đợi mãi không thấy chồng quay về. Rồi một hôm người vợ cũng quyết định khăn gói lên đường đi tìm chồng. Nàng ra đi, đi đến đâu cũng hỏi về tung tích người chồng yêu quý. Biển người mênh mông bao nhiêu, đất trời rộng lớn bao nhiêu cũng không làm người con gái ấy nản lòng. Tình yêu vẫn luôn thường trực và bùng cháy trong sâu thẳm trái tim, một trái tim khát khao kiếm tìm hạnh phúc.


“Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu”

Bài thơ mở đầu là khung cảnh thiên nhiên, một khung cảnh thiên nhiên có vẻ như “động” nhưng lại “tĩnh”. Sự có mặt của ba động từ “chuyển”, “gọi” và “về” cộng với trạng thái được diễn tả qua hai từ “ngẩn ngơ” và “xao xuyến”dồn dập thì phải nói đây là một bức tranh sự sống sinh động với đủ cung bậc cảm xúc chứ ? Nhưng có lẽ như vậy vẫn chưa đủ, dù phối được nhiều động từ trong một đoạn thơ 4 dòng nhưng cái không gian bao trùm lại có vẻ tĩnh mịch và mênh mông vẫn còn rộng lắm. Đó là một bãi cát dài ven sông, trời đất đang vào độ giao thoa giữa hai mùa , một lối nhỏ, lối đi đã từng…nhưng là lối xưa.Câu chuyện ấy, câu chuyện có ai đó gọi tên em sau vòm lá là câu chuyện đã qua.Cái đang trôi về cùng dòng sông là kí ức là kỉ niệm một thời đã qua. Dù là chuyện cũ nhưng vẫn xốn xang lòng người như đang đâu đây. Vậy nên cảnh có vẻ đang chuyển động trước mắt nhưng đều là kí ức mà thôi.

Sự nguyên sơ và tĩnh lặng lại tưởng chừng như bị phá vỡ bởi sự xuất hiện của một con người, nhân vật trữ tình “em”.Nhưng không cảnh vẫn vậy “em” cũng chỉ là em của một thời điểm nào đã qua. Như vậy một khung cảnh hoàn toàn là thiên nhiên vắng vẻ .Thiên nhiên có vẻ buồn nhưng lại ngập đầy kỉ niệm.Trời đất đang độ vào thu :có thể cảm nhận được nắng và gió.Sự dịu dàng của cỏ cây ngập đầy trong sự vương vấn,luyến tiếc mùa đã qua hay là đang lạ lẫm trước cảnh của mùa mới sang?

Nếu như “cảnh” hiện lên bao trùm cả khổ thơ đầu thì sang khổ thơ thứ 2 “tình” lại là thứ được diễn tả nhiều hơn.

“Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ
Thơ viết đôi dòng theo gió xa”

Cảnh đang chuyển động mạnh dần, mạch thơ dãn ra.Mây và gió bay đi để lại một bầu trời nguyên sơ, tinh khôi. Không còn gợn mây che lấp cái xanh bao la của bầu trời, trời “biếc” hơn, đẹp như buổi ban đầu. Nhà thơ đang muốn nói về bầu trời hay nói về “em”? Đã từng trãi qua một mối tình, mối tình ấy đầy ắp kỉ niệm gắn liền với lối nhỏ và dòng sông. Đã từng một lần sóng gợn trên mặt biển, tức là đã từng có niềm vui và nỗi buồn. Tâm hồn ấy đã từng trãi qua “sóng gió” nhưng vẫn giữ được “lòng” “nguyên sơ”, phải chăng là một tâm hồn đẹ!.Chuyện đã qua không thể không tiếc nuối,không thể ko nhớ, quan trọng là điều còn lại là hãy giữ cho mình những tình cảm đẹp, quên hết những gì buồn phiền. Phải để cho lòng rộng bay trong gió, để tâm hồn bình yên và thanh thản, thế nên đắng cay gửi lại bao mùa cũ, thơ viết đôi dòng theo gió xa. Đấy cũng không phải là sự chối từ hay vứt bỏ, đấy là sự giải thóat.

Nếu như ở khổ thơ trên nhà thơ dùng âm “ơ”(trong từ ngơ) thì sang khổ thơ thứ hai tác giả sử dụng lại một lần nữa âm này trong chữ “sơ”. Việc dùng âm vần cuối câu không những có tác dụng kéo gần hai khổ thơ mà còn làm cho âm điệu của khổ thơ dài ra, rộng mở, rộng mở cùng dòng sông,kéo dài cùng thời gian hay chính là tâm hồn đang rộng mở (trả “đắng cay” lại cho đời )?!

Chuyến sang khổ thơ cuối, tâm sự tình yêu của người con gái lại càng thể hiện rõ nét hơn:

“Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm dầy”

Trở lại với câu chuyện Sự tích hoa cỏ may: khi người vợ ra đi, đã bôn ba khắp nơi, đã mỏi mệt tìm khắp chốn mà vẫn không thấy người chồng ở đâu.Nàng chết đi, Ngọc Hoàng thương tình cho hóa thành loài hoa có tên là hoa cỏ may,rồi chị gió mang nàng đi khắp nơi.Sức sống của hoa cỏ may mãnh liệt như sự chung thủy của nàng. Rồi cứ có khách bộ hành đi qua là cỏ may lại víu vào để hỏi thăm tin tức về chồng.

Có lẽ vì thế nên “ khắp nẻo mới dâng đầy hoa cỏ may”, vậy là trong bài thơ không những có sông,có cát, có gío, có mây…. mà còn có cả một vùng mêng mông hoa cỏ may.Hoa cỏ may lại mảnh mai nên dễ bị gió làm lung lay.Hãy tưởng tượng cả một vùng hoa đang đung đưa trước gió.Cảnh hoàn toàn không “tĩnh” nữa mà là “động”.Nhân vật trữ tình “em” lại xuất hiện, “sơ ý” hay cố tình đây ? nàng để cỏ may găm đầy. Lúc này tâm hồn người con gái đang xao xuyến mạnh mẽ, thốt nên ở hai câu cuối :

“Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?”

Dù đã dặn lòng phải kiên cường nhưng không thể tránh khỏi những phút giây suy nghĩ chính chắn. Tình yêu là thứ có thật, nhưng tình yêu “mỏng mảnh” lắm, làm sao biết được “lòng anh có đổi thay” hay không?Tác giả không dùng từ “mỏnh manh”(từ ghép chính phụ ) mà lại dùng “mỏng mảnh”(từ ghép đẳng lập) để gây cho người đọc cảm giác tách rời, một sự gắn kết yếu ớt, thế nên mới dễ dẫn đến “đổi thay”.

Hai câu cuối bài thơ trở thành điểm nhấn cho cả bài thơ, đúng là “cảnh sinh tình”. Nếu khổ đầu nhẹ nhàng sâu lắng, khổ thứ hai là triết lí thế thái nhân tình thì khổ thứ ba nhân vật trữ tình đã mở lòng, tràn trề cảm xúc, lời tâm tình được gửi đến ai đó đâu đây. Hoa cỏ may sắc nhọn, nhức nhối một nỗi niềm đau của tình yêu trong xa cách.
 
Sưu tầm


Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 4:53pm
Điều anh không biết” của Phi Tuyết Ba - lời tự tình của người con gái đang yêu
 

Riêng điều ấy không bao giờ anh biết

Có một chiều em lỡ hẹn cùng anh

Chiều vàng xanh nơi góc phố xanh

Em đến gần cánh cửa xanh hé mở

 

Trên bậc cửa có một đôi guốc đỏ

Đôi chân em sao khó bước qua

Chỉ một bước thôi là hết cách xa

Anh gần lắm phía bên kia đôi dép

 

Chẳng hiểu vì sao chân em lui bước

Chiều đương xanh bên cánh cửa xanh

Có lẽ nào em lỡ hẹn cùng anh

Đôi guốc đỏ biết rằng em đã tới

 

Bài thơ là lời tự tình của một người con gái đang yêu. Có lẽ vì thế mà khung cảnh hẹn hò ngập tràn sự sống, niềm tin và hi vọng. Thời gian là một buổi chiều có ánh nắng mặt trời chiếu vàng góc phố. Phải chăng, cái thời điểm ấy thường gợi một chút buồn và thoáng một nỗi trống vắng trong lòng người. Nhưng không, dường như trong mắt người đang yêu thì dù trong thời điểm ấy, con người vẫn cảm thấy vui, bồn chồn và xao xuyến. Tả cảnh buổi chiều nhưng sắc màu chủ đạo ở đây lại là màu xanh (chiều vàng xanh; góc phố xanh; cánh cửa xanh ). Đó là màu của niềm tin, màu của hi vọng, màu của sự tươi mới lâu bền và hơn thế nữa là màu của hạnh phúc. Có lẽ vì thế mà tác giả ca khúc “Màu xanh tình yêu” cũng đã từng thốt lên rằng:

“ Nguyện cầu cho tình yêu mãi xanh

 Như màu xanh tình anh với em”

Giá như cái màu xanh ấy cứ bình yên mãi thế! Thế mà, một điều bất ngờ đã xảy ra:

“Trên bậc cửa có một đôi guốc đỏ”

 

Để rồi:

“ Có một chiều em lỡ hẹn cùng anh”

 “Đôi guốc đỏ” sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu vị trí của nó không phải là ở đúng bậc cửa nhà anh. Mà dù nó có ở bậc cửa nhà anh thì đã sao chứ? Vì nó có thể là của một người bạn, một người chị, một người em gái quen thân nào đó thì sao? Nhưng khi yêu, trước cảnh tượng ấy có người con gái nào lại có thể nghĩ được nhiều như thế! Để rồi trên cái nền màu xanh hạnh phúc ấy, xuất hiện một màu đỏ - một màu đỏ thách thức và ám ảnh lòng người. Màu đỏ của đôi guốc trở thành một vách ngăn giữa “anh” và “em” – giữa người ở phía ngoài và bên trong cánh cửa xanh ấy. Đó chính là sự vô lý nhưng cũng rất hợp lý của bài thơ.

“Đôi chân em sao khó bước qua

Chỉ một bước thôi là hết cách xa

Anh gần lắm phía bên kia đôi guốc”

         Lại một sự vô lý nữa xuất hiện trong ba câu thơ. Chỉ cần “em” bước qua đôi guốc ấy thì mọi sự sẽ rõ ràng. Nhưng chỉ vì lòng tự ái, sự nghi ngờ và thậm chí có cả một chút ghen tuông đã khiến cô gái quyết đinh lui bước. “Anh” và “em” chỉ cách nhau bởi một chút không gian mong manh là một đôi guốc và một cánh cửa “hé mở”. Giữa họ chỉ là một đôi guốc vậy mà cái quyết định bước qua hay không lại khó khăn đến thế? Phải chăng cô gái không thể bước vào vì sợ phải đối diện với một sự thật phũ phàng? Phải chăng cô gái muốn lui bước để trả thù anh bằng một sự im lặng mãi mãi?.. Dù bước vào hay không thì con tim đang yêu cũng có cái lý riêng của nó.

Tình cảm con người vốn dĩ là vậy. Nó rất khó hiểu,  khó giải thích và khó gọi thành tên. Ở đây, ta chỉ biết rằng cô gái đã không chiến thắng nổi chính bản thân mình cho nên cuộc hẹn hò đã không thành. Nhưng dù sao cô gái vẫn muốn nói:

“Có lẽ nào em lỡ hẹn cùng anh

Đôi guốc đỏ biết rằng em đã tới”

Là một lời tự thanh minh với chính mình nhưng ta hình dung được một người con gái với tâm hồn cao thượng đến vô cùng.

“Riêng điều ấy không bao giờ anh biết

Có một chiều em lỡ hẹn cùng anh”.

Tình yêu là như vậy bởi một chút lặng thầm cho tình thêm mãnh liệt!



Viết bởi: ThuyTien
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 5:08pm

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò... sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ... Mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta-chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

NGUYỄN DUY

(Trích trong tập Mẹ và em-NXB Thanh Hóa 1987)

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa có bảy khổ, hai mươi tám câu và 196 âm tiết nhưng đã có 11 cặp từ láy: bần thần, lấm láp, xăm xăm, rối ren, đánh đu, nghêu ngao, đom đóm, chập chờn, leo lẻo, xa xôi, xa xăm - đây cũng là một trong những cách biểu đạt thành công nhất của Nguyễn Duy trong thể thơ “6 và 8” (như cách nhà thơ gọi) góp phần cho bài thơ thăng hoa và tạo mạch đồng cảm từ tác giả đến người đọc.

 

Hình ảnh người mẹ của Nguyễn Duy được viết bằng một cảm xúc chân thành, sâu lắng khi mẹ nhà thơ đã vào cõi vĩnh hằng:

 

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

 

Mạch cảm xúc ở khổ thơ thứ ba khiến ta xao xuyến lạ thường, khi nó thâm trầm bới lời nhắn gởi:

 

Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

 

Và những lời ru ấy đã “tiếp nối” trong tâm hồn nhà thơ bằng trải nghiệm dân gian mà đúc kết thành:

 
Mẹ ru cái lẽ ở đời

Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn

Bà ru mẹ… Mẹ ru con

Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

 

Ở bài thơ Tre VN, Nguyễn Duy cũng đã nói đến quy luật tự nhiên rằng: “Tre già măng mọc có gì lạ đâu!”. Nhưng nhà thơ “sợ” những nét đẹp truyền thống của dân tộc mai một dần, nỗi lo, cái “sợ” ấy có nguyên do của nó vì ngày nay đã có bao nhiêu người mẹ trẻ ở thành thị không biết hát ru con...

Với cảm nhận của riêng tôi, tôi tin bài thơ sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu thơ - vì chính nhà thơ đã “nói hộ” thay cho bao người về một nỗi niềm:

 
Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Đọc lên từ trong cõi lòng, ai lại không rơm rớm nước mắt? 

                                                                                                             M.T



-------------


Viết bởi: Hangnga
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 8:43pm
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Hàn Mặc Tử
 
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

 
Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

 
Mơ khách đường xa, khách đường xa,

Áo em trắng quá nhìn không ra...

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

 
Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ như một lời trách móc, đồng thời cũng là lời mời gọi tha thiết, một lời nhắn nhủ nhẹ nhàn của nhân vật trữ tình với lời nhớ nhung da diết:

“Sao anh không về chơi thôn vĩ”



Sao đã lâu lắm rồi anh không trờ về thăm thôn vĩ ? hay nói đúng hơn là anh không về thăm em, thăm lại người xưa. Đây là lời của nhân vật trữ tình đồng thời cũng là lời của tác giả, ông ước mơ một lần được về lại thăm thôn vĩ để:
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”



Cảnh vật của thôn vĩ thật nên thơ và tươi mát. Thôn vĩ_nơi có những hàng cau thẳng tấp còn đọng lại những giọt sương đêm đang vươn mình đón “nắng mới lên”. Nắng chiếu lên hàng cao vào buổi sáng kết hợp với sương đêm làm cho khu vườn ánh lên màu “xanh như ngọc”. Rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên”, còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cảm giác tươi non tràn đầy sức sống . Cảnh vật vùa xa lại vừa gần, vừa thực lại vừa ảo, vừa mơ hồ lại vừa rõ ràng, tạo nên sự huyền ảo, lấp lánh của “vườn ai”.



Trong không gian ấy ta bắt gặp một khuôn “mặt chữ điền” của cô gái thấp thoáng sau những “lá trúc che ngang”. Tính cách thôn nữ hiện lên sự duyên dáng nhưng hàm chứa một chút tinh nghịch mà vẫn dịu dàng.



“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”



Mặt chữ điền thường là kiểu khuôn mặt của đàn ông nên ta hiểu ở đây mặt cô gái không phải là mặt chữ điền mà nó được tạo nên bởi những lá trúc, điều đó đã tạo nên một khuôn mặt dịu dàng mà lại thật đáng yêu.

Hàn Mặc Tử hẳn đã mang trong lòng một tình yêu Huế tha thiết nên ông đã vẽ nên một bức tranh thôn vĩ bằng ngôn từ hết sức nên thơ và đậm đà bản sắc dân tộc.



Vừa vui vẻ, hạnh phúc đến say mê như lạc vào cõi tiên khi ký ức trở về với thôn vĩ là thế, bỗng chốc lại buồn bã, suy tư:

“Gió theo lối gió, mây đường mây”



Câu thơ chia thành hai vế: “gió theo lối gió/ mây đường mây”. Gió và mây là đôi bạn tâm giao trong vũ trụ vậy mà lại quay lung lại với nhau, hình thức diễn đạt thật tinh tế, chân thực, nó chứa đựng một nội dung tinh tế. Gió cuộn mình trong gió, mây cuộn mình trong mây, mây và gió như những kẻ xa lạ, quay lưng lại với nhau mang hai nổi buồn bã, cô đơn. Điều này là một sự thật nghịch lí thế nhưng trong văn chương lại chấp nhận cái phi lí ấy.

Bầu trời buồn bã là thế, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn:

“Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”



Ở đây, tác giả dùng thủ pháp nhân hóa “dòng nước buồn thiu” như cõi lòng người đang mỏi mệt, nỗi lòng quạnh hiu. Mặt nước buồn, lòng sông buồn nên bờ bải cũng u sầu. “Hoa bắp lay” gợi tả sự khô héo, tàn úa, hoa bắp khẽ lay trước gió.



Sự tương phản của hình ảnh, tâm trạng và tứ thơ của hai khổ thơ và lời mời mọc kia còn vương lại chút say của lòng người, chẳng khác gì:

“anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”



Mỗi người mỗi nẻo, quay lưng lại với nhau không bận tâm, quyến luyến, cảnh vật mang một nổi buồn da diết đến thế!



Thế nhưng khi đêm xuống trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng thay đổi:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”



Trăng gắn liền với thơ của Hàn Mặc Tử, ông có rất nhiều bài thơ viết về trăng:
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò”

(trăng ngọc trăng vàng)



Hay :
“trăng nằm sóng soải trên cành cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi”

(bẽn lẽn_gái quê)





Với Hàn Mặc Tử có trăng là có sông trăng, có đời là có bến để đợi chờ, có sông là có thuyền về trú ẩn. Đây cũng chính là nét đặc sắc của bài thơ. Một bức tranh thật trữ tình, lãng mạn. Thuyền và sông trăng thật đẹp và hài hòa biết bao. Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, đợi chờ, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như trăng của người thôn vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ dành cho người con gái xứ Huế tha thiết đến nhường nào. Nhà thơ sợ mình sẽ lở hẹn cùng trăng, cùng người con gái Huế hay đúng hơn là sợ cô gái bị lỡ làng vì thuyền kia sẽ không kịp về bến hay sẽ không bao giờ về bến xưa để bến nơi đây thấp thỏm chờ mong, em nơi đây vẫn đợi vẫn chờ.

Khi con người ta không còn tha thiết với thực tại thì lại tìm đến với hư ảo, vô cùng:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa”





Câu thơ có lối ngắt nhịp rất lạ 1/3/3: Mơ/ khách đường xa/ khách đường xa. Điệp ngữ “khách đường xa” là khách thể, mà chủ thể ngồi đây đang mong ngóng đến nao lòng: và đấy là “mơ”. “Mơ” là những gì chưa xảy ra trong hiện thực, mơ về một người đang chập chờn lúc ẩn lúc hiện, vì vậy, mà cái nhìn qua đôi mắt của nhà thơ tấc cả đều trở nên hư ảo:

“Áo em trắng quá nhìn không ra”





Xứ Huế mộng mơ, lắm sương khói. Sương khói đã trắng mà còn thêm màu áo em “trắng quá”. Màu trắng quá là màu không bình thường, đó là màu của hu vô, màu của riêng Hàn Mặc Tử. Hình ảnh của người thiếu nữ như tan loãng trong cái màu trắng và màu sương khói huyền ảo ấy khiến nhà thơ “ nhìn không ra” và biến tấc cả thành “mờ nhân ảnh” tấc cả như trôi vào hư vô:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”





Cũng chính vì thế mà nhà thơ cảm thấy bân khoăn, chơi vơi, hụt hẫng. Tác giả tự hỏi “ở đây” là ở đâu? Huế hay Quy Nhơn hay là trong giấc mơ của Hàn Mặc Tử. vì cả Huế và Quy Nhơn đều có sương giăng vào những ngày cuối thu và đầu xuân, tác giả không xác định được không gian vì khói sương của đất trời đã làm mờ đi tấc cả chỉ còn một lòng thiết tha hướng tới tình người.

Bài thơ được mở đầu và kết thúc cũng bằng một câu hỏi tu từ:

“Ai biết tình ai có đậm đà”





Câu hỏi là sự băn khoăn, day dứt của nhà thơ. Hàn Mặc Tử như tự hỏi: cảnh vật và con người ở đây lung linh quá, mờ ảo quá như sương như khói. Câu hỏi tu từ có hai từ ai: “ai biết”, “ai có” vừa bộc lộ tình yêu thương vừa khao khát được yêu thương nhưng lại chứa đầy vô vọng. vì không biết “ai có tình ai có đậm đà” không nên anh chưa “về thăm thôn vĩ”. Toàn bài thơ là một vòng khép kín, mở đầu bằng một câu hỏi để đưa tác giả quay về với thôn vĩ trong tâm tưởng và câu hỏi kết thúc bài thơ lại kết thúc hành trình đó. Những câu hỏi được đưa ra tăng dần theo cấp bậc: “sao anh không về chơi thôn vĩ ?”, “vườn ai mướt quá xanh như ngọc?”, “thuyền ai đậu bến sông trăng đó?”, “ai biết tình ai có đậm đà?”, những câu hỏi xoáy sâu vào nội tâm của tác giả đang nhớ tới người mình yêu thương. Nếu so sánh trong hệ thống bài thơ ta bắt gặp từ “ai” lặp đi lặp lại bốn lần. “Ai”_ là một người nào đó không xác định là nhà thơ hay là cô gái? Đây có phải là nổi lòng của tác giả đã ẩn chứa một tình yêu sâu kín trong tâm hồn và muốn bộc bạch tâm trạng của mình cho người đọc hiểu và cảm thông_ một cái tôi trữ tình hết sức lãng mạn và thắm thiết.



Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 03 Nov 2011 lúc 10:23pm

TIẾNG RÚC CHIM ĐÊM

Những tối trăng ngời...dưới ánh sao khuya...
Anh vẫn đắm mình về phương ấy
Những câu thơ như ngôi sao bùng cháy
Và cuộc chia ly đã hoá cánh buồm...

    Con chim đêm rúc mãi ngoài cây
    Nó nói gì không biết ?
    Chắc con mái ham nơi vui thú khác
    Đã không về !...con trống gọi suốt đêm.

    Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
    Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố
    Có lẽ nào em không về nữa
    Để hồn anh hoang mạc, bơ vơ.

    Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ…
    Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi
    Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
    Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!

    Ngàn năm xưa cho tới bây giờ
    Ta muốn hỏi đến muôn đời sau nữa:
    Mọi giá trị vĩnh hằng , nếu có
    Sẽ là gì? Khi thiếu vắng em ta!...

    Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
    Anh bổi hổi một thời qua vọng lại...
    Và tất cả đã trở thành trống trải
    Sao em lại phụ bạc tình, con mái thương yêu?

11/11/1993

Trong đêm tiếng con chim nào đó kêu xé lên, rồi nó rúc từng hồi thảm thiết. Con chim đang có nỗi gì? Một tiếng kêu lẻ bóng, cô đơn giữa khoảng không vắng lặng:

Con chim đêm rúc mãi ngoài cây
Nó nói gì không biết ?

Mới chiều đó chúng còn có đàn, có đôi...và nhà thơ nào đó đã viết :" một tiếng chim ca sáng cả rừng" - Nhưng đó là tiếng chim ca chào bình minh buổi sớm, nó đã trở thành thông lệ theo bản năng véo von của loài chim sau giấc ngủ một đêm dài. Đằng này, Tiếng Rúc Chim Đêm (TRCĐ) là tiếng kêu phát ra từ trái tim đau đớn của con chim:

Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố

Tiếng chim gọi người yêu náo động vào trong tâm trạng của nhà thơ! Tiếng nó khắc khoải, rền rã vượt qua cả không gian, thời gian, năm tháng, nắng mưa, non cao, rừng rậm...trở thành tiếng vọng tình yêu của cả loài người:

Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!

Ý nói về sự sống muôn đời của con người: Tình yêu là ánh sáng, là ý nghĩa của sự tồn tại. Mọi giá trị thế giới sẽ không có gì cả, nếu không có tình yêu trai gái! Ở đoạn thơ đầu - cái tiếng rúc con chim trống như nỗi lòng cô quạnh của người con trai:

Chắc con mái ham nơi vui thú khác
Đã không về!...con trống gọi suốt đêm.

Cái đêm đó không hiểu vì sao con mái không về? Hay nó đã bỏ đi theo người tình khác ? và con chim đực cứ gọi, gọi mãi trong vô vọng. Cũng nỗi lòng đó, đứng trên thềm nhớ của không gian mênh mông, nhà thơ đã nhớ về em:

Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ…
Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi

" Dĩ vãng trăng mơ..." là mơ trong bóng trăng xưa. Tuy nói "mùa dĩ vãng" nhưng đó chỉ là những khoảnh khắc tươi đẹp đã vụt qua, còn lại trong hoài niệm. Hai câu thơ ấy trải ra trong đời cuốn đi theo chiều gió: Cuộc sống không chỉ có những năm tháng sung sướng, hạnh phúc bởi tình yêu? Mà còn là một vòng cát bụi cuộc đời. Như bóng mây bay qua - Người con trai chỉ còn biết đứng trên bờ của nỗi khát vọng dày vò, khắc khoải, đã xa rồi, xa mãi không bao giờ trở lại:

Có lẽ nào em không về nữa
Để hồn anh hoang mạc, bơ vơ

Nói tiếp về đoạn thơ ba , nó đã được tạo nên từ hai mảng màu: Từ cõi trăng mơ...đến dòng cát bụi - là một mảng "màu đời"! Chất liệu lấy ra từ trong sướng khổ, bèo dạt mây trôi, với bao vật vã tháng năm của cuộc đời. Còn mảng màu thứ hai, ý thơ nhảy vọt lên thăng hoa để bao quát cả bể thế thái nhân tình:

Mọi giá trị vĩnh hằng, nếu có
Sẽ là gì?...khi thiếu vắng em ta!

Ta hãy đọc đoạn thơ cuối cùng:

Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
Anh bổi hổi một thời qua vọng lại
Và tất cả đã trở thành trống trải
Sao em lại phụ bạc tình, con mái thương yêu ?

Con chim trống vẫn run rẩy cất tiếng kêu rúc lên trong vòm xanh. Trên bờ bến nhân gian, tiếng gọi của con chim ấy còn vọng mãi vào những năm tháng xa xôi vô cùng, vô tận kia - Như anh gọi em, như chàng gọi nàng...

Có thể sau đó con chim mái đã quay về và nó thanh minh với con chim trống rằng: Con mái nó không phụ tình! Chỉ bởi cuộc sống ngày nay kiếm miếng ăn khó khăn quá nên đã phải đi xa rồi bị lạc, lỡ đêm không về kịp được. Rồi nó hờn giận với con chim trống: đã không thông cảm cho nỗi khổ nhục của nó thì thôi, lại còn buông ra những lời oán trách nghĩ xấu cho nó? Thật là không phải lối!

Tiếng Rúc Chim Đêm là một bản tình ca, nó đã đưa tình yêu lên tận đỉnh tháp cao xa của loài người - khi mà các chủ nghĩa cùng chính trị thế giới đều rơi vào sự bế tắc, không giải thoát nổi... đã không thể đưa được cái phần bản chất cuồng dã của con người ra khỏi những vòng của dã tâm tội ác! (đức lương thiện ngày càng bị đàn áp, lấn át)...gieo lên những cảnh khổ hạnh điêu linh, bởi bất công bạo ngược vẫn hà hiếp bao kiếp sống của các chúng sinh - thì chính tình yêu trai gái: ĐẠO mà trời đất đã sinh ra lại cứu sống linh hồn cho cả trái đất này!

Vì nếu như không có cả niềm đam mê tột cùng của hạnh phúc gái trai: thì thế giới - chắc con người sẽ chẳng khác nào những giống sinh linh nhung nhúc lâm vào cái cảnh bị tâm thần loạn trí...và khắp toàn cầu sẽ phủ toàn một màu băng tang trắng.

Tình yêu - Để con người quên vợi đi những tâm địa độc ác của mình. Người ta không cần đến chiến tranh, con người không còn ham vọng bóc lột nhau nữa...và thế giới chỉ còn vang lên trong tiếng gọi của hoà bình! Đó cũng chính là linh hồn, ý tưởng chân dung của bài thơ Tiếng Rúc Chim Đêm này, là ý nghĩa nhân bản thiêng liêng đối với tình yêu và sự sống của thế giới con người!...



-------------


Viết bởi: Thao nhi
Ngày viết: 04 Nov 2011 lúc 6:06am
"Ghen"  của Thanh Trắc Nguyễn Văn


Giận em đập nát câu thề
Nắng hồng rơi vỡ dầm dề mưa tuôn
Bão dông giăng kín mây buồn
Gió tan tác nhớ, sóng cuồn cuộn đau...

Bây giờ người ấy trầu cau
Dửng dưng qua bến sông sâu, xuống đò
Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hóa đá... Hết chờ, hết mong!

Lội đò tiễn sáo sang sông
Câu thơ xưa thả bềnh bồng hoàng hôn
Vung tay bỏng lửa ghen hờn
Dở dang giờ nhặt cô đơn bốn mùa...

Một mối tình tan vỡ có rất nhiều nguyên do và chẳng nguyên do nào giống nguyên do nào. Ấy thế mới là tình yêu! Tình yêu đâu có sẵn một lối mòn, có chung một công thức? Ở bài thơ này, mối tình kia tan vỡ là do người con trai đã ghen– cái ghen bỏng lửa. Những câu thơ trĩu nặng nỗi niềm tiếc nuối, đớn đau và sám hối bởi một mối tình đã mất… Thể thơ lục bát quen thuộc, đề tài cũng không mới và thi liệu mang đậm chất truyền thống, song bài thơ đã gây ấn tượng và cuốn hút người đọc chính bởi tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Ghen là một trạng thái sẵn có, thường trực và tiềm ẩn trong tình yêu. Chúng ta, những kẻ đã yêu và đang yêu, chắc cũng hơn một lần có cảm giác ấy. Và khi cơn ghen “bốc hoả”, thì người trong cuộc không còn sáng suốt nữa: “Giận em đập nát câu thề”. Hai chữ “đập nát” cho thấy tính chất quyết liệt, sôi sục trong hành động. Thế rồi bao nhiêu thề bồi, hẹn ước bấy lâu đã tan tành. Vây quanh nhân vật trữ tình chỉ còn lại sóng gió, mây mưa và dông bão. Nỗi đau ở đây lớn quá! Tác giả phải mượn đến những trạng thái của thiên nhiên để diễn tả: Nắng vỡ, mây buồn, mưa thì dầm dề, bão dông lại giăng kín… Dường như vẫn chưa đủ, nỗi đau lại trào lên, quặn thắt, tan tác, cuồn cuộn trong sóng, trong gió.

Người đọc không biết nhân vật trữ tình đã ghen vì cớ gì, chỉ biết rằng, giờ đây, trong tâm hồn anh cứ ngồn ngộn đớn đau và cô đơn. Cơn ghen quyết liệt và mù quáng của kẻ si tình đã dẫn đến một hiện thực phũ phàng, đôi lứa phân li, chia lìa, xa cách: “Bây giờ người ấy trầu cau/ Dửng dưng qua bến sông sâu xuống đò”. Người thương năm nào nay đã “xuống đò”, “sang sông”. Mà lại sang sông một cách “dửng dưng”, lạnh lùng. Còn lại phía bên này là nỗi lẻ loi, hẫng hụt như dâng ngập cả bến sông:

Lơ ngơ tôi đứng trên bờ
Lời thương hoá đá… Hết chờ, hết mong!

Thì ra, người trong cuộc tuy ghen nhưng vẫn còn yêu, vẫn chờ vẫn mong, vẫn còn nặng tình lắm! Mà càng nặng tình lại càng quặn đau, ngậm ngùi. Người thương đi lấy chồng đâu phải người ta phụ bạc, chỉ tại mình nông nổi “ vung tay quá trán”. Chỉ một cơn ghen bỏng lửa trong khoảnh khắc ngắn ngủi, si mê và mù quáng mà nỗi đau cứ dằng dặc cả đời người. Hai chữ “vung tay” chất chứa cả một nỗi sám hối ghê gớm của người trong cuộc.

Bài thơ có tên là “Ghen”, song điều tác giả muốn nói không chỉ có vậy. Ghen chỉ là biểu hiện bên ngoài của sự ích kỉ, hẹp hòi và mù quáng. Dẫu biết rằng đã yêu thì phải ghen, song để có được một tình yêu trọn vẹn thì phải biết độ lượng, vị tha… Đừng để phải ân hận muộn màng!


                                    Trần Thị Tuyết Hạnh




Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 04 Nov 2011 lúc 6:27am
Tương tư của Nguyễn Bính

Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông,
Một người chín nhớ mười mong một người,
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng,

Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng,

Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành,
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi,

Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai hỏi ai người biết cho,
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau,

Nhà em có một giàn trầu,
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng,
Thôn Ðoài thì nhớ thôn Ðông,
Cau thôn Ðoài nhớ trầu không thôn nào.

Màu sắc dân tộc trong Tương tư của Nguyễn Bính?
Nguyễn Bính thuộc thế hệ các nhà Thơ mới. Nhưng nếu phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, thì Nguyễn Bính lại tìm về với điệu thơ dân tộc.

“Lỡ bước sang ngang” là tác phẩm được chú ý hơn cả trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính trước cách mạng. Bằng lối ví von mộc mạc duyên dáng, mang phong vị ca dao: tác phẩm này đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương đất nước và một tình người đằm thắm thiết tha. Bài thơ “Tương tư” được in lần đầu trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang”. Đây là bài thơ khá tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính nói chung và cho lập “Lỡ bước sang ngang” nói riêng.

Tương tư là trai gái nhớ nhau. Dĩ nhiên đây là nỗi niềm u ẩn của những người yêu nhau phải xa nhau. “Tương tư” là một thi đề quen thuộc trong cả văn chương dân gian lẫn văn chương bác học. Trước Nguyễn Bính đã có những thi sĩ lừng danh như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… viết về đề tài này. Và ngay trong làng “Thơ mới” đã có bài “Tương tư chiều” nổi tiếng của Xuân Diệu. Tất cả những điều đó là những thử thách to lớn đối với những cây bút đi sau. Nguyễn Bính đã vượt qua được thử thách đó, mang đến cho đề tài này phần nội dung mới và cách nói mới.

Nỗi niềm “Tương tư” của Nguyễn Bính được thể hiện bằng những sắc thái muôn thuở của chuyện trai gái yêu nhau mà phải xa nhau. Có nhớ nhung, có trách móc, có giận hờn, và dĩ nhiên cả khắc khoải đợi chờ…Nỗi niềm tương tư ở đây chưa đến độ cháy bóng mãnh liệt như trong thơ Xuân Diệu (“Bữa ni lạnh, mạt trời đi ngủ - Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em!”), nhưng cũng thật tha thiết chân thành:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gío mưa là bệnh của giời

Tương tư là bện của tôi yêu nàng”.

Thì ra, nếu gió mưa là “căn bệnh”, là sự vận động thường xuyên của thiên nhiên thì nhớ mong là căn bệnh cố hữu diễn ra như một quy luật tất yếu của những người đa tình, đa cảm, dường như có mặt ở trên đời này chỉ để thương thầm nhớ vụng. Giữa chàng trai – nhân vật trữ tình – và bạn gái dường như chẳng có cách trở gì về cả không gian lẫn thời gian? Họ ở chung một làng, chỉ cách nhau có “một đầu đình”. Cô gái có thể thuận lợi đủ điều càng khiến cho nhân vật trữ tình càng thêm băn khoăn thêm hờn dỗi. Nhưng nào có ai đâu mà chờ với đợi. Cũng như một số bài thơ khác của Nguyễn Bính thường nói đến mối tình đơn phương (như trong bài Hoa và rượu. Người phương nên lời trách móc, hờn dỗi kia rõ ràng trở thành vu vơ. Thực ra, những lời nói đó chính là sự tự bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, khao khát yêu thương của chính nhà thơ. Khi cuộc đời còn những mối tình đơn phương, khi còn những con tim ít tuân theo những quy tắc rạch ròi; thì người đọc cũng không mấy ai nõ trách Nguyễn Bính đã “tương tư” một cách vu vơ…

Đặc biệt nỗi niềm chờ mong đáng trân trọng ấy đã đựoc nhà thơ thể hiện một cách mới mẻ. Trước hết là hình ảnh cái “tôi” có nhu cầu giãi bày, phơi trải được Nguyễn Bính diễn tả một cách trực diện không chút vòng vo:

“Gió mưa là bện của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Ngoài ra còn phải kể đến việc tác giả đã thành công khi đưa vào lời ăn tiếng nói của người nhà quê trong cuộc sống thường nhật. Những lời ăn tiếng nói ấy xuất hiện một cách tự nhiên mộc mạc, tạo nên không khí dân dã, quê mùa cho toàn bài thơ:

“Hai thôn chung lại một làng,

Có sao bên ấy chẳng sang bên này?

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”

Đưa vào thơ lời ăn tiếng nói của đời thường, Nguyễn Bính cũng như những nhà Thơ mới đã gặt hái được một mùa hoa trái bội thu. Thơ của họ trở nên gần gũi với người đọc và nó góp phần phát hiện ra những cái mới mẻ của con người và tạo vật, mà trước đây ít nhiều thi ca bác học chưa làm được.

Như vậy, nội dung “Tương tư” có tính chất muôn thuở đã được nhà thơ Nguyễn Bính thể hiện bằng một lời nói hiện dại, mang dấu của thời đại, phản ánh một mảng tâm hồn của lớp thanh niên tiểu tư sản những năm 30 của thế kỷ này.

Song giá trị cơ bản của bài thơ không chỉ ở chỗ tác giả diễn tả khá mới mẻ cái “tôi” thiết tha chân thành, khao khát yêu đương; mà điêu chủ yếu nó gợi lên được cái “hồn xưa đất nước”, theo cách nói của nhà phê bình Hoài Thanh. “Hồn xưa đất nước” không nằm riêng ở chi tiết nào, câu thơ nào mà toát ra từ toàn bộ bài thơ qua hệ thống hình ảnh, lời ví von, cũng như giọng điệu chung.

Vốn sinh ra ở một nước nông nghiệp, cho dù đã từng “dan díu với kính thành” nói theo Nguyễn Bính, mấy ai trong số chúng ta không có trong mình một đôi kỷ niệm về một làng quê Việt Nam truyền thống? Tương tư có khả năng khơi gợi trong đáy sâu tâm hồn người đọc. Trong khi các nhà thơ cùng thời Xuân Diệu hay Lưu Trọng Lư chịu ảnh hưởng sâu đậm thơ phương Tây và chính điều đó đem lại cho phong trào Thơ mới những nét đặc sắc, thì Nguyễn Bính lại thành công khi ông tìm về với điệu thơ dân tộc, với làng quê Việt Nam thân thuộc, với những hình ảnh gần gũi tự ngàn xưa: những con bướm trắng, bướm vàng vẽ vòng trên các vườn hoa cải hoa vàng, những vườn bưởi vườn cam ngào ngạt hương thơm, ven đê là ruộng dâu bãi đay, bên giậu mùng tơi, cạnh giếng khơi là những cô thôn nữ đôn hậu, quanh năm dệt lụa chăn tằm, trẩy hội, xem chèo,… với trang phục cổ truyền: áo đồng lầm, quần lĩnh tía, yếm lụa sồi… Ở bài thơ “Tương tư” dường như có một sự kết nối giữa hệ thống hình ảnh đã trở thành ước lệ đối với làng quê Việt Nam. Ở đó có thôn Đoài, thôn Đông, có con đò và bến nước, có hàng cau và giàn trầu… Ở đó còn có nơi sinh thành và nuôi dưỡng lối thơ lục bát và Nguyễn Bính đã sử dụng nhuần nhuyễn lối thơ này, cách ví von mộc mạc, thực chất là những ẩn dụ: bến – đò, hoa - bướm, trầu – cau, thôn Đông – thôn Đoài… Hệ thống hình ảnh, lối thơ truyền thống với cách ví von ấy đã đánh thức con người nhà quê lâu nay ẩn náu trong lòng độc giả, làm cho họ bồi hồi xao xuyến về một làng quê Việt Nam, một dân tộc Việt Nam gần gũi và thiêng liêng.

Không những thế, “Hồn xưa đất nước” còn được biểu hiện ngay trong lối suy nghĩ gắn với trời đất, cỏ cây quê hương. Ngày xưa, năm tháng trôi qua đã được ông cha ta miêu tả qua sự biến đổi của cây lá:

“Nửa năm hơi tiếng vừa quen

Sân ngô cành biếc đã chén lá vàng”.

(“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)

Nhân vật trữ tình trong bài thơ này cũng đo đếm thời gian dựa vào chính sự thay đổi của cảnh sắc thiên nhiên. Điều này được thể hiện bằng những câu thơ dân dã, mộc mạc:

“Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”.

Đồng thời thiên nhiên còn là chuẩn mực để nhân vật trữ tình nhớ nhung, suy tưởng: “Gió mưa là bệnh của giời – Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Do sống hoà hợp gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên, nên trong ca dao – dân ca, trai gái quê ta không chỉ mượn Thuyền và Bến, Sen - Hồ, Mận – Đào… để giãi bày tình yêu một cách kín đáo vừa duyên dáng, vừa tinh tế. Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng triệt để các cách nói ấy mang lại hiệu quả nghệ thuật đáng kể. Nếu như ở khổ thơ thứ hai còn có câu dường như lạc hệ thốn, thiếu sự dung dị(“Hoa khuê các, “bướm giang hồ gặp nhau”) thì khổ thơ cuối cùng chính là sự kết tinh nghệ thuật của toàn bài. Ở khổ thơ này “hồn xưa đất nước” toát lên từ cách dùng hình ảnh, cách bộc lộ tình cảm kín đáo, mộc mạc của tác giả. Thay vì lối diễn đạt trực tiếp ở phần đầu đến khổ thơ cuối, Nguyễn Bính dùng lối diễn đạt gián tiếp rất tinh tế, phảng phất chất hương đồng cỏ nội của ca dao thuần khiết:

“Nhà em có một giàn giầu

Nhà tôi có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Trong phong trào Thơ mới, nhiều thi sĩ như Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân… miêu tả được những bức tranh quê tươi đẹp. Nhưng có lẽ chỉ mình Nguyễn Bính nói đúng được cái hồn quê Việt Nam. Ngày nay ở nông thôn Việt Nam phong cảnh cũng như hồn người đã đổi khác rất nhiều. Thanh niên nam nữ thường thích điệu bộ bò hơn là áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, xe Cub đã thay cho ngựa tía võng điều…

Tuy vậy, phần nào bài thơ “Tương tư” trên đây của Nguyễn Bính vẫn như một dấu tích tâm hồn dân tộc, góp phần cho tâm hồn người đọc thêm phong phú và tươi sáng. Đấy chính là sự đóng góp đặc sắc của nhà thơ trong bài thơ này nói riêng và trong phần nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trước Cách mạng nói chung, đấy cũng là lý do khiến nhiều người yêu thích thơ ông.

Theo Trần Quang


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 2:39pm
Mai em về nhà chồng


Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi
Cớ sao cơn mưa xứ đồi lại đến cùng anh
Đêm thương buồn giữa hạ?

Chỉ còn đêm mưa này
Ngày mai em về nhà chồng
Mưa giăng trắng cánh đồng
Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả
Anh nhìn em qua mưa hun hút đường dài...

Mọi sự đều không đúng lúc
Đã quá muộn để nói lời yêu đương
Lại quá sớm khi nói lời giã biệt!
Mai em về nhà chồng
Hết rồi những cơn mưa ướt mái đầu con gái
Một đêm nào chúng ta chia tay
Bong bóng nước dưới chân dập dờn nghìn hoa trắng...
Mai em về nhà chồng
Mưa theo em ròng ròng thương nhớ
Mai em về nhà chồng
Nước mắt gửi vào mưa âm thầm khung cửa...

Anh thức qua đêm nhìn mưa
Anh thức qua năm tháng nhìn em
Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu
Bong bóng nước trôi xuôi vỡ nghìn hoa cánh trắng
Đâu rồi dấu chân em
In mòn thời thiếu nữ?

Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi
Chỉ mình anh nhận thấy?
Sớm mai ra là góc bể chân trời
Chúng mình xa nhau mãi mãi
Đưa tiễn một thời con gái
Mưa bây giờ lùa ướt tóc anh...


Độc thoại trong đêm mưa và đối thoại trong im lặng đã là nguyên cớ để bài thơ ra đời. Cô em nào đấy ngày mai, hoặc ngày kia đi lấy chồng, đâu có quan trọng! Điều chính yếu là từ rất lâu rồi, THB đã để tuột cơ hội tìm một tình yêu và hạnh phúc đích thực... Nỗi cô đơn và cảm giác bất lực xót xa trước những gì tốt đẹp ta hằng khao khát cứ rời xa ta từng ngày từng giờ đã là một nguồn cảm hứng thơ ca của nhiều thời đại, và thật không may (hay là may mắn?) THB đã bị chúng bất chợt "tóm" mất hồn vía trong một đêm mưa thật buồn!
Anh thức qua đêm nhìn mưa
Anh thức qua năm tháng nhìn em
Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu


Cái cách mà tác giả "thức" qua đêm nhìn mưa để rồi liên tưởng tới những năm tháng dài, tới cả cuộc đời "thức" để nhìn em, để nhìn tình yêu quả là đậm "chất THB": thông minh, biến hóa một cách tài hoa, nhưng nhờ cảm xúc mạnh mà ấn tượng về "tiểu xảo" đã bị xóa nhòa trong thụ cảm người đọc. Thức qua cả cuộc đời để nhìn tình yêu, tìm tình yêu, sao có cái gì đó thật xa vời, vô vọng, song vẫn cứ phải làm thế, như một thứ định mệnh; có điều nỗi buồn rưng rưng bởi Tình yêu chưa thành, chưa tìm thấy, ở đây vô tình hòa nhập với khát vọng về sự hoàn thiện nên nó mang một giá trị về Thẩm mỹ và Nhân cách.
Cả cái triết lý này nữa:
Mọi sự đều không đúng lúc
đã quá muộn để nói lời yêu đương
lại quá sớm khi nói lời giã biệt…


Sự thông minh đã không biến chúng thành triết lý vặt, "khổ lắm biết rồi", bởi có những vần thơ phập phồng nhớ thương tiếc nuối làm nền trải khắp bài để chúng trở thành phát hiện bất ngờ mới mẻ về nhân tình thế thái - điều mà chúng ta vẫn gặp phải song ít khi ngẫm về chúng như một chiêm nghiệm thấm thía - không phải chỉ riêng trong Tình yêu, mà còn cho mọi lĩnh vực của quan hệ xã hội mà ở đây Tình yêu chỉ là một cái cớ trực tiếp, cụ thể, như giọt nước làm đầy tràn cốc nước...
Ông thầy dạy văn bậc đại học giàu hồn thơ THB thời đó dường như vẫn chưa cắt được hết cái "đuôi" của một anh giáo làng quê mà hồi xưa từng được hình tượng hóa trong "thầy đồ Cóc" dân gian- bởi lẽ thi hứng và thi liệu trong bài thơ khá "siêu thực" này lại mang đậm âm hưởng ca dao Bắc Bộ ngàn đời:
Bong bóng nước dưới chân dập dờn nghìn hoa trắng...
Mai em về nhà chồng
Mưa theo em ròng ròng thương nhớ
Mai em về nhà chồng
Nước mắt gửi vào mưa âm thầm khung cửa...

Xứ đồi đêm ấy đã gợi cho THB  bao suy tưởng về Xứ Đoài nghèo khó thân thương của anh- nơi anh từng chứng kiến những cơn mưa ướt mái đầu con gái và có dấu chân em/ In mòn thời thiếu nữ... Trĩu buồn bởi ký ức, nhưng anh đã bình thản để Đưa tiễn một thời con gái  và chia tay với một "thời xa vắng" của mình:
Cớ sao mắt em buồn như đêm mưa xứ đồi
Chỉ mình anh nhận thấy?
Sớm mai ra là góc bể chân trời
Chúng mình xa nhau mãi mãi
Đưa tiễn một thời con gái
Mưa bây giờ lùa ướt tóc anh...


Có lẽ đây là một trong những bài thơ tập trung nhiều nhất tâm lực, cảm nghĩ, nước mắt, và... cả kỹ thuật thơ của THB! Đêm mưa Xuân Hòa ấy thức dậy trong anh bao đêm mưa và chiều mưa của một tuổi trẻ từ "xứ đồi" ra thành phố, nghèo túng, long đong, phải chật vật tìm hướng đi cho khát vọng đời mình, tìm cách giải tỏa bao cơn "tức nghẹn" của sự nghiệp văn chương, khi Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả và hạnh phúc tưởng đã nắm gọn trong tay mà hóa ra mịt mù sương khói... Giả sử anh có một cô người yêu nào sắp lấy chồng ngày đó thì chắc cũng không da diết, buồn thương khắc khoải đến thế! Mà thực ra, không ít cô gái- trong đó có học trò thầm đeo đuổi anh chàng tài hoa đeo kính cận dày cộp có khả năng làm tan hoang rơi rụng trái tim người bởi giọng nói tự tin thủ thỉ, và có thể cũng được anh đền đáp ít nhiều về tình cảm, rồi họ chẳng liên tiếp báo tin là sẽ đi lấy chồng đấy thôi! Nói cho công bằng, "cô em mai đi lấy chồng" trong bài thơ là hình bóng của tất cả những cô gái yêu anh, được anh trân trọng tình yêu đó- nhưng lại không có điều kiện để đến được với nhau... THB ít có khả năng dung hòa được giữa thực tế trần trụi và ước vọng cao vời, anh tìm an ủi trong học trò, bè bạn; không có bất kỳ khả năng "đập phá" nào, anh tìm sự giải tỏa trong thơ, nhạc, tranh vẽ... Và anh đã chọn một đêm mưa Xuân Hòa, đúng hơn là đêm mưa đó đã chọn anh- để lưu lại trong vườn Thơ một đóa hoa không màu mà chứa đủ các màu sắc như giọt mưa giữa bầu trời của tâm hồn thi sĩ...


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 3:01pm
VẦN THƠ SẦU RỤNG.

Vầng trăng từ độ lên ngôi

Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
Để tóc vướng vần thơ sầu rụng
Mái tóc buồn, thơ cũng buồn theo
Năm năm tiếng lụa se đều
Những ngày lạnh rớt gío vèo trong cây
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Vương hương mái tóc em nồng
Thời gian nhẹ rót một dòng buồn tênh.
_________Lưu Trọng Lư.

*Không biết tự bao giờ, dòng chảy của những vần điệu thể thơ lục bát đi vào hoà nhập đời sống của con người Việt Nam, chuyên chở bao ý tứ từ thâm thuý sâu xa đếm mộc mạc trữ tình. Vần Thơ Sầu Rụng của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư , trên cái nền thi vị ấy của dân tộc đã đến với mọi người: nhẹ nhàng, sâu lắng, bâng khuâng, luyến nhớ !,...

Vầng trăng từ độ lên ngôi
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ

Tròn vành vạnh như trăng mười sáu là tuổi xuân thì của thôn nữ duyên dáng tuổi cập kê. Em mang trong mình hình ảnh của cái đẹp vừa chớm (từ độ lên ngôi) là sự tinh khôi , viên mãn của tạo hoá. Cái đẹp được ẩn dụ và khắc hoạ rất ư tự nhiên, nhưng là cái đẹp trên nền thời gian không phải là bất di bất dịch:

Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ

Cái nhịp đi trầm buồn, là một sự chậm rãi nhưng hơi nặng nề của sự mòn mỏi, một công việc tuy thơ mộng mà đơn điệu!

Để tóc vướng vần thơ sầu rụng
Mái tóc buồn , thơ cũng buồn theo

Mái tóc mềm như thơ, những dòng thơ xuôi chiều, thướt tha có phần nào ủ dột : buồn và buồn . Một mái tóc dài đen óng ả, buông xuôi tự nhiên cùng khung cảnh trầm lắng thanh bình.Nhưng đó cũng là tâm trạng của em gái Xuân thì. Chỉ trong có hai câu thơ mà tác giả đã có ba từ nhắc đến tâm trạng: sầu, buồn và buồn, sự lập lại càng làm tăng cấp trạng thái tâm lý .

Năm năm tiếng lụa se đều
Những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây

Lại tiếp tục nhịp và tần số âm thanh của câu thơ trầm trầm :năm năm , một khoảng thời gian đã trôi qua, trôi qua thật lặng lẽ : Tiếng lụa se đều. Chỉ có bấy nhiêu thôi, Xuân qua Đông lại cũng chỉ mình em và khung cửi dồn nén đầy tâm sự , hỏi còn gì nữa ngoài hai tiếng sầu thương ! Khi ngoài kia thời gian làm lỗi nhịp bao dấu đời tạm bơ : Gío vèo trong cây.

Em vẫn sợ , nên em khẽ khàng, giờ phút này , yên lặng mà đáng trân trọng biết bao:

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái Đông

Em vẫn còn lắng nghe trong xa vắng một sự hồi âm của tiếng lòng khắc khoải, bởi em đang là phơi phới nồng nàn của lứa tuổi giao duyên. Mùi hương hàng xóm , là một hình ảnh ẩn dụ chỉ về những âm ba của cuộc sống bên ngoài , không loại trừ những âm ba tình tứ đang tiềm tàng mời gọi cô thôn nữ đáng thương. Đọc đến đây chúng ta chợt nhớ đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Du tả cảnh mà ngụ tình Thuý Kiều đối với Kim Trọng :

Hải đường lả ngọn Đông lân
Giọt sương gieo nặng cành Xuân la đà.

Đây không phải là sự vọng tưởng cao xa mà chính là nỗi niềm rất hiện thực và khát khao tình yêu chính đáng.

Hương của gió, hương của hoa cỏ đồng nội, hương của tình yêu thầm kín nhẹ nhàng thoáng qua, nhưng hình ảnh buồn của mái tóc lại trở về khiến nhịp thơ bỗng chùng xuống :

Vương hương mái tóc em nồng
Thời gian nhẹ rót một dòng buồn tênh.

Thời gian cứ thế , len lén nhẹ nhàng đi qua đến nỗi lòng người khó cảm nhận. Trên cái nền ấy,tâm trạng vẫn chưa nở hoa, cho dù bao sự hứa hẹn đang vây quanh mang dáng dấp của mùi hương đang dậy hơi men sự sống, Để rồi cuối cùng, nỗi buồn man mác vẫn ngự trị tâm tư.

Cái đẹp nổi bật của Vần Thơ Sầu Rụng là ý tứ câu chữ, nhịp điệu hài hoà đếm mức hoàn hảo.Một hình ảnh, một tâm trạng, một không gian, thời gian như nhẹ nhàng bổ sung nhau, tạo sức cộng hưởng, cảnh và tình vì thế mà hài hoà , tăng cấp cho nhau.Về một bình diện nào đó của sự liên tưởng, bài thơ như một bức tranh khắc hoạ nét đẹp của một thôn nữ , hiền hoà , cam phận trong sự quyến rũ nên thơ của xã hội nông thôn Việt nam tiền bán thế kỷ hai mươi.


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 3:03pm
NGỒI LẠI BÊN CẦU

người em xưa trở về đây một bận
con đường câm bỗng ánh sáng diệu kỳ
tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
mây của trời rồi gió sẽ mang đi

em - thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
màu cô đơn trên suối tóc la đà
còn gì nữa với mây trời đang trắng
đã vô tình trôi mãi bến sông xa

thôi nước mắt đã ghi lời trên đá
và cô đơn đã ghi dấu trên tay
chân đã bước trên lối về hoang vắng
còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

rồi em lại ra đi như đã đến
dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu
.

_____________Hoài Khanh.
 
Bình thơ : NGỒI LẠI BÊN CẦU của thi sĩ Hoài Khanh.

một không gian buồn tẻ, một cảnh vật buồn tẻ ghi dấu những kỷ niệm đời thân thuộc. Nơi đó, bóng dáng ai kia đã hằn vào trong ký ức một thời . Dĩ vãng đã qua đi , mang theo những dáng dấp cũ, tưởng đã phai mờ, nào đâu vẫn tràn đầy sống động. Thi sĩ Hoài Khanh đã đưa chúng ta đến với những khúc tự tình bềnh bồng xa vắng , khi ai đó vẫn như còn mãi NGỒI LẠI BÊN CẦU

Người em xưa trở về đây một bận
Con đường câm bỗng sáng ánh diệu kỳ
Tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi
.

Đã trở lại rồi, người em gái nhỏ ngày xưa. Nhưng em trở về chỉ một bận, sao mong manh quá ! Sự xuất hiện như tình cờ không báo trước. Nhưng dù thế nào, hào quang em vẫn toả sáng.Con đường từ độ em ra đi đã chết lặng, trong ta chẳng còn ý nghĩa : Con đường câm, từ dùng thật đắc, câm là vắng nhưng câm cũng là lặng lẽ chờ đợi trong sự không lời, chịu đựng đến thế là cùng! Và bóng dáng em về khiến con đường cũng bừng lên sức sống. Có thật không hay chỉ là thứ ảo giác tự tạo :Cảnh nào , cảnh chẳng đeo sầu...

Tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi


Tôi trốn đi đâu? Lánh mặt người cũ hay trốn tránh chính bản thân mình! Cả hai chăng? Bởi ta không hy vọng giữ được nàng, nhưng sao tâm hồn thì vẫn xuyến xao nỗi lòng gặp lại cố nhân . Lý trí đã xen vào đúng lúc : Mây của trời rồi gió sẽ mang đi !
Cái kiêu sa lộng lẫy kia, nào phải của riêng ta, cho dù có đón nhận lời ưu ái rồi biết đâu một ngày,...lại như ngày xưa ấy, nàng ra đi ...
Hãy thôi đừng đa mang thêm khổ !

Em - thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
Màu cô đơn trên suối tóc la đà
còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến sông xa


Vẫn dáng vẻ hồn nhiên ngày ấy, nụ cười thì vẫn xanh màu tuổi trẻ và chan chứ yêu đời, mắt em biếc trong của sự thánh thiện chưa vẩn bụi đời, nhưng đã thấy thấp thoáng vẻ xa xăm của một phương nào em từng đến;

Còn gì nữa với mây trời đang trắng
đã vô tình trôi mãi bến sông xa


Dẫu hiện tại thì chưa nhưng đã thấp thoáng một lối về riêng em, phương nao chẳng rõ , nhưng linh tính đã mách bảo , vì những tháng năm kia, ai mà biết,lòng người đà dời đổi bao nhiêu .

Nhưng ai vẫn cố quay đi trong khiên cưỡng, nghe đâu đây vị mặn của dòng lệ úa và vị chát của nỗi trống trải đơn côi:

Thôi nước mắt đã ghi lời trên đá
và cô đơn đã ghi dấu trên tay.


Bao nhiêu con đường em đã đi qua, nhọc nhằn nào còn vương lên tấm vai gầy bé nhỏ, hư hao nhiều không trong vóc dáng một khuê nử óng ả ngày xưa:

Chân đã bước trên lối về hoang vắng
Còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy.


Rồi duy nhất chỉ có thể gặp em trong ký ức vàng son thuở ấy. Nếu em đưa hồn về cõi mộng ấy chắc chắn sẽ tìm lại thấy bóng ta và ta cũng thế sẽ thấy bóng nàng, dù biết rằng mộng vẫn là mộng đâu nguyên vẹn được tựa ngày xưa. Hai chúng ta cùng đưa chiếc thuyền hồn mình trở lại quá khứ, nhé em ;

Qúa khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
giấc chiên bao nguyên vẹn có bao giờ
ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ


Nhưng cho dù lẫn tránh hiện thực hôm nay, nỗ lực đi tìm giấc mộng vàng đã qua, bâng khuâng cũng lắm, xót xa đã nhiều, nơi góc khuất trông bóng người xa khuất, nghe ngậm ngùi lắm nỗi nhói tim đau ;

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dóng sông kia vẫn cứ chảy xa mù


Người đến rồi người đi, khoảng giữa là bao tâm trạng, những hệ luỵ cuộc tình chưa vội phôi pha, em đến chỉ như cơn gió mát gợi lại những vết thương lòng tưởng đã lặng câm trong ký ức. Và hình ảnh dòng sông, dòng thời gian chở chuyên bao kiếp đời định mệnh , luân chuyển luôn là quy luật của kiếp nhân sinh:

dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù

Không còn gì bởi hiện tại đã ê chề cảm xúc , những gì tốt đẹp, nồng cháy yêu thương đã xuôi chiều quá khứ. Vẫn còn một bầu trời tâm tưởng để hoài vọng , tiếc nuối khi trống trải là hiện thực bây giờ và nơi đây :

ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu


Dòng sông là hình ảnh tuôn chảy muôn đời của cuộc sống, là ngày qua tháng lại không ngừng , ai vẫn neo hoài một bến đợi , đó là hình ảnh chiếc cầu bắc qua giữa dòng đời nghiệt ngã . Thương dĩ vãng mà để quên hiện tại:

nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

" Một đời bỏ ngỏ đêm hồng" như ca từ của Trịnh Công Sơn . Tâm hồn đang chơi vơi quá khứ, cõi lòng đã phó mặc cho hư vô, còn gì nữa để vun trồng chăm bón . Hình ảnh đầu bài thơ là con đường CÂM , hình ảnh cuối bài thơ lại là hồn người HOANG VU . Chơ vơ lắm bóng hình ai trên chiếc cầu chênh vênh, lẻ loi giữa mênh mông cuộc đời.

Nhịp thơ buồn mang âm hưởng thổn thức, tứ thơ đi tự nhiên theo diễn biến logíc rất hồn và rất người. Một hình bóng người xưa, một tâm trạng kẻ hoài vọng thấp thỏm đợi chờ và luyến tiếc chơi vơi, có bấy nhiêu mà tác giả đã viết lên được một NGỒI LẠI BÊN CẦU đã từng rung động bao nhiêu tâm hồn độc giả .


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 3:46pm
MÙA XUÂN NHO NHỎ

Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời.
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng

Mùa xuân người cầm súng
Lộc dắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao

Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc

Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
 

Thanh Hải

lời bình của Lê Khánh Mai

Nhà thơ Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, quê Hương Điền, Thừa Thiên Huế. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ nhà thơ Thanh Hải làm công tác văn hoá văn nghệ ở Đoàn văn công tỉnh và cán bộ Tuyên huấn ở chiến khu. Sau năm 1975, ông là Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Ông mất ngày 15 tháng 12 năm 1980 tại Huế. Với 50 mùa xuân cuộc đời, nhà thơ đã để lại 6 tập thơ: “Những đồng chí Trung Kiên”; “Huế mùa xuân” (2 tập); “Dấu võng Trường Sơn”; “Mưa xuân đất này” và “Thanh Hải thơ tuyển”. Thơ Thanh Hải là tiếng nói bình dị, chân thành của người chiến sĩ kiên trung, một lòng theo cách mạng, đã có những đóng góp đang quí cho nền thơ chống Mỹ. Ông được tặng giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, đợt 1, năm 2001.
“Mùa xuân nho nhỏ” là một trong những bài thơ tiêu biểu trong gia tài thơ xuân Việt Nam , được nhà thơ Thanh Hải viết trên giường bệnh, trước khi mất chỉ vài ngày. Đó là lời tự bạch chân thành với những tâm niệm đầy tính nhân văn về lẽ sống và đời thơ.
Bài thơ nhanh chóng chinh phục người đọc trước hết bởi âm hưởng, ngân nga mà sâu lắng, bởi năng lượng cảm xúc dồi dào truyền tải và lan toả. Chính cái giọng điệu dịu ngọt, chan chứa tình yêu đời, yêu cuộc sống đã tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc và góp phần làm nổi bật lên cấu tứ, hình ảnh, hình tượng và ngôn từ của bài thơ.
Ta dễ dàng nhận thấy bài thơ có cấu tứ “lộ thiên” theo chiều không gian mở. Mạch thơ đi theo trình tự: Xuân thiên nhiên – Xuân con người – Xuân đất nước – Xuân thi sĩ và cuối cùng là Xuân đất Huế quê hương. Đây là dạng cấu tứ thông thường. Nếu không có những thành công ở những yếu tố nghệ thuật khác loại cấu tứ này, dễ sa vào đơn giản, dễ dãi. Nhưng nhờ những hình ảnh độc đáo, bát ngờ, nhạc điệu, trạng thái xuất thần của cảm xúc đã khiến bài thơ trôi chảy một cách tự nhiên như một dòng sông đầy ắp hiền hoà, ào ạt reo ca.
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân thiên nhiên được đặc tả ở những hình ảnh: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, con chim chiền chiện hót vang trời. Một mùa xuân dịu dàng tươi sáng bởi màu sắc, náo nức rộn ràng bởi âm thanh, và lồng lộng không gian. Thiên nhiên tràn trề sức sống mãnh liệt và dâng hiến hết mình: sông hết mình xanh, bông hoa hết mình tím, và con chim nhỏ bé kia cũng đang căng hết sức lực của vòm ngực cất lên tiếng hót làm vang động cả bầu trời cao rộng. Vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất ấy có sức quyến rũ, mê hồn, khiến thi sĩ như tỉnh như say. Nhà thơ thầm hỏi/ hay thốt lên “hót chi mà vang trời “ , tưởng như nghe được tiếng lòng trìu mến bao dung, quyến luyến cõi đời của một người thơ xứ Huế. Tiếng chim hồn nhiên, trong trẻo mà da diết phía bầu trời cao vút lại như kết đọng thành những giọt âm thanh rơi xuống hồn người, chạm vào cõi sâu lặng, khuấy lên bao nỗi niềm, dìu nhà thơ vào cõi mộng: “Tôi đưa tay tôi hứng”. Nhà thơ hứng lấy tiếng chim , (có thể hình dung) với một sự đón nhận, nâng niu, trân quí và cất giữ, như sợ rằng, nếu không làm như vậy cái âm thanh ngọt lành kia sẽ tắt vào thinh vắng. Đây là một chi tiết có sức toả sáng trong bài thơ. Và nó chỉ có thể được phát ra từ cảm xúc đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt của một con người nhiều trải nghiệm, hiểu rõ đời mình chỉ còn là những khoảnh khắc ngắn ngủi.
Mùa xuân thiên nhiên cũng là nguyên cớ tạo nên mùa xuân con người.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc dắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Nhà thơ nêu ra hai hình ảnh: “Người cầm súng” và “Người ra đồng”, những con người đại diện cho sức mạnh dân tộc với lịch sử bốn nghìn năm làm ăn và đánh giặc.
Lộc- cái chồi xanh nhú lên sau những ngày đông giá, đã tồn tại trong tâm thức của người Việt Nam như một biểu tượng tươi đẹp nhất về mùa xuân. Nó hiện thân cho sự rũ bỏ quá khứ héo tàn, cũ xám để lại non xanh đầy sức trẻ, vươn dậy, đầy niềm tin vào tương lai.
Lộc dắt đầy quanh lưng người cầm súng, phơi phới bước chân ra trận. Lộc trải dài vô tận dưới những bàn tay lặng lẽ gieo trồng. Thiên nhiên ban tặng lộc. Con người ươm nên lộc. Tất cả hoà quyện trong sự phồn thực của mùa xuân, mang chứa khát vọng lớn lao muôn thuở về cuộc sống bình yên và no ấm.
Mùa xuân gieo vào lòng người những niềm vui mới mẻ, “như hối hả”, “như xôn xao”. Hai từ tượng thanh liên tiếp trong câu thơ diễn tả niềm hạnh phúc dâng tràn. Mùa xuân không còn là người khách lạ mà nó thực sự được sinh ra từ hồn người.
Theo chiều không gian mở, cảm xúc của nhà thơ được nâng lên ở sự suy ngẫm về mùa xuân đất nước:
“Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
Khái quát về đất nước Việt Nam vất vả, gian lao, đau thương, ngời sáng là điểm gặp gỡ của rất nhiều nhà thơ: Nguyễn Đình Thi từng viết: “Anh yêu em như yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần”… Vậy mà cách nói giản dị hình ảnh quen thuộc trong thơ Thanh Hải vẫn “chạm” vào cái phần thiêng liêng trong sâu thẳm tâm hồn con người – tình yêu Tổ quốc. Ở đây số phận của đất nước, dân tộc đã hàm chứa số phận của công dân. Mỗi người là một phần thân thể của đất nước. Và đất nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn “như vì sao đi lên phía trước”, vẫn kiên cường vượt lên tăm tối, nô lệ, bần cùng mà toả sáng. Cảm hứng ngợi ca và khí thế hào sảng của câu thơ đã xác định vị trí của nhà thơ trong cuộc hành quân vĩ đại của dân tộc. Vị trí một công dân đất nước, một người lính trong đội ngũ. Niềm vinh dự tự hào như chất men say thôi thúc thơ ông cất lên tiếng hát:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Người đọc bất ngờ bắt gặp một mùa xuân thi sĩ. Bằng điệp khúc “Ta làm”, “Ta nhập”… bài thơ đã tấu nên khúc ca chan chứa nhiệt huyết tình yêu cuộc sống và khát vọng dâng hiến mùa xuân cho cuộc đời và cho thi ca.
Nhà thơ – người nghệ sĩ ngôn từ đã nhận lấy trách nhiệm của mình với nhân dân đất nước : Làm một con chim hót trong muôn loài chim, làm một cành hoa trong rừng hoa muôn sắc. Làm “một nốt trầm” trong bản hoà ca muôn điệu. Làm “một mùa xuân nho nhỏ” trong mùa xuân rực rỡ và bất tận của đất trời.
Lời lẽ bình dị, nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng có sức khái quát cao về một lẽ sống chân chính, một quan điểm nhân văn về thơ ca và người nghệ sĩ.
Phải chăng “một nốt trầm” cũng có thể làm “xao xuyến” muôn lòng, khi người nghệ sĩ “từ chân trời của một người” đi đến và hoà nhập với “chân trời của nhiều người”, lặng lẽ hiến dâng những gì đẹp nhất, dù “nho nhỏ” của mình vào cuộc đời chung. Và nhà thơ đã kiên định một thái độ sống như vậy từ tuổi thanh xuân đến khi tóc bạc.
Trở về với đất mẹ quê hương là qui luật tình cảm. Bởi sau những buồn vui, thành bại, quê hương vẫn là nơi đón nhận, neo giữ những gì còn lại của đời người. Nhà thơ Thanh Hải đã từng viết nhiều về đất Huế quê hương, và khúc ca cuối cùng của ông cũng là khúc ca giành cho Huế:
“Mùa xuân ta xin hát
Khúc Nam ai Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế”
Nam ai, Nam bình là những làn điệu tiêu biểu của ca Huế, chất chứa âm điệu buồn ai oán, những cảnh đời buồn đau thất vọng, hoặc âm điệu trong trẻo yên bình của cuộc sống an lành. Phách tiền là một loại nhạc cụ dân gian được chế tác đơn giản bằng những thanh gỗ có gắn những đồng tiền, thường tấu lên nhạc điệu nhịp nhàng, rộn rã cho những bài ca Huế tươi vui.
Dường như những âm điệu buồn vui rất đặc trưng Huế ấy đã “ăn” vào máu thịt, luôn thường trực và ám ảnh nhà thơ. Mùa xuân đất Huế đã khơi dậy cảm hứng trào dâng bật lên thành tiếng hát tha thiết và sâu nặng tình yêu quê hương.
Nhà thơ Thanh Hải đã gửi lại cho đời “Một mùa xuân nho nhỏ”, “một nốt trầm xao xuyến”, nhưng đó là mùa xuân còn mãi như ngọn lửa nhỏ sẽ mãi nhen lên, đó là một nốt trầm cứ vang ngân không dứt.
Bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc trở thành ca khúc vượt thời gian về mùa xuân của nền âm nhạc nước nhà. Quả là một sự tương ngộ như có duyên định của hai tâm hồn nghệ sĩ.

LÊ KHÁNH MAI



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 4:53pm
SAU LƯNG MÙA HẠ CŨ
Thơ Trương Nam Hương

Và lại đến cái mùa phượng đỏ
Kỉ niệm xưa chìm khuất ở nơi nào
Tiếng ve vỡ ra trăm nghìn mảnh nhớ
Em không về nhận mặt tháng năm sao?

Dành cả đấy cho em- dành cả đấy
Anh gom mây ngũ sắc bọc thơ tình
Em nhón gót cho thời gian tụ lại
Tay học trò giọt hạ rớt lem xanh

Dành cả đấy cho em - dành cả đấy
Nguyên cơn mưa không thiếu hạt nào
Nắng mùa hạ trong veo nhìn thấy đáy
Nở phập phồng bóng nước tán me chao

Dành cả đấy cho em- dành cả đấy
Mượn thời gian hăm mốt tuổi, anh đền
Để mùa hạ nắng mưa là trai gái
Phượng cũng từng hồi hộp lúc kêu tên

Và lại nhớ vòm trời hoa phượng vĩ
Khép rưng rưng mùa hạ giữa tay cầm
Cửa lớp mở với một người trong đó
Vẽ lên bàn và hát những lời câm...

Ai bảo nhớ, bảo dành cho em hết
Anh tìm em mắt cứ ngóng lên trời
Câu thơ viết tan vào mây ngũ sắc
Cuối sân trường vô vọng xác ve rơi !

Đọc những câu thơ của Trương Nam Hương trong bài “sau lưng mùa hạ cũ”, tôi cứ mường tượng đến những câu thơ bất hủ trong “chiếc lá đầu tiên” của Hoàng Nhuận Cầm. Cũng là mượn một đoạn thời gian để nhớ về một quãng thời gian, mượn một chút thực tại để nói rất nhiều về quá khứ, mượn một mùa trời để nói về một phần đời con người. Đó có lẽ cũng là cách đi được nhiều người sử dụng để diễn tả những quãng thời gian đã qua đi không thể trở lại.
Quãng thời gian gắn với tuổi học trò và sân trường tuổi thơ, có lẽ với bất kỳ ai, cũng là một miền ký ức khó quên nhất, trong veo thơ mộng mà ám ảnh nhất. Cái thời không còn trẻ con nhưng cũng chưa kịp thành người lớn, thời mà tất cả cảm xúc không dám thốt thành lời, chỉ “vẽ lên bàn và hát những lời câm” ấy thật đẹp, thật đáng nhớ. Cho nên trở về với thời gian ấy có lẽ là một phương thức hiệu quả để có thể sống với quá khứ êm đềm và ngào ngọt của tuổi thơ. Tuy nhiên, nói về quãng đời đẹp đẽ ấy mà không phải kể lể, liệt kê một cách cứng nhắc thì không phải ai cũng làm được.
Trong bài thơ này, nhà thơ Trương Nam Hương và nhân vật trữ tình Trương Nam Hương đã tách thành hai. Nhân vật trữ tình đang trở về quá khứ với những hoài niệm tuổi thơ giữa mùa hè thực tại! Và tất cả những ký ức về “em”, về tuổi thơ với sân trường ngập đầy phượng vĩ năm nào lại ùa về. Ký ức lần lượt xuất hiện trong các khổ thơ, theo những trình tự, lớp lang khá logic.
Mới đọc, tưởng rằng nhân vật trữ tình “anh” là một người hào phóng! Hào phóng trong tình cảm, trong nhận thức và trong trí nhớ khi câu thơ “dành cả đấy cho em – dành cả đấy” cứ lặp đi lặp lại như một sự mời mọc, một sự khẳng định. Thực ra đọc kỹ hơn một chút, ta mới thấy nhân vật trữ tình là một chàng trai tham lam! Anh tham lam với kỷ niệm, than lam với quá khứ, và, có thể, tham lam lam với chính cảm xúc của mình!
Cái tham lam của chàng trai đã bộc lộ ngay ở khổ thơ đầu tiên. Hãy đọc câu hỏi đầu tiên trong khổ thơ thứ nhất: “Em không về nhận mặt tháng năm sao?”, nghe qua có vẻ như là một câu mong ngóng nhưng ngẫm sâu hơn một chút ta lại thấy nó giống với một câu trách móc hơn là một câu than thở! Tại sao em chưa về nhận mặt kỷ niệm khi mà phượng đã ngợp trời thương nhớ, tiếng ve đã vỡ òa cùng với vùng ký ức tuổi thơ sống dậy tràn trề. Trong khổ này, tôi hiểu ý chàng trai là: Sao em để anh một mình giữa ngập tràn không gian ký ức, để anh bơ vơ giữa rất nhiều kỷ niệm thế này?
Và từ cái câu hỏi tham lam ấy, một loạt các kỷ niệm được “anh” liệt kê ra như là kể lể với “em”, cứ như là để đếm và sống với từng kỷ niệm vậy!
Trong loạt liệt kê này, câu thơ được điệp lại lại là mấu chốt cho việc tôi khẳng định anh tham lam! Thực ra “dành cả đấy cho em” chỉ là một cái cớ để cho nỗi nhớ thêm “khách quan” chứ dành cả đấy cho em chỉ là để anh nhớ về tất cả mà thôi! Chính cái nỗi nhớ tham lam của anh đã được cái khách quan “dành cả đấy cho em – dành cả đấy” bao bọc cho một cách tinh tế!
Thường khi nói đến những gì thuộc về quá khứ, nhất là những quá khứ ngọt ngào và êm đẹp, và đặc biệt là nỗi nhớ, tâm hồn người ta rất tham lam, cứ muốn cuốn tất cả trở về để sống trọn vẹn trong miền nhớ ấy. Âu đó cũng là quy luật của tâm hồn con người. Những gì đã là không thể thì càng khiến cho người ta khao khát, ước vọng.
Hãy xem cái quá khứ tuổi thơ ngọt ngào và êm đềm của Trương Nam Hương đã thẩm thấu vào thiên nhiên: Tiếng ve thì “vỡ ra trăm nghìn mảnh nhớ”, bóng nước tán me thì “nở phập phồng”, phượng thì “hồi hộp”, hoa phượng thì “rưng rưng”… tất cả đều mang tâm trạng (mà thực ra là tâm trạng của “anh”). Thành thử, nỗi nhớ của “anh” bỗng chốc trở thành một trời thương nhớ!
Tôi đặc biệt thích khổ thơ cuối của bài thơ này. Hãy cùng đọc lại:
“Ai bảo nhớ, bảo giành cho em hết
Anh tìm em, mắt cứ ngóng lên trời
Câu thơ viết, tan vào mây ngũ sắc
Cuối sân trường vô vọng xác ve rơi!”
Ngay câu đầu khổ thơ tác giả đã trách mình. Từ trách em chuyển sang trách mình là một biểu hiện mang tính lý trí của nỗi nhớ. Và có thể, câu thơ này chính là dấu hiệu báo hiệu cho sự thức tỉnh sau một trời đam mê, một trời nhung nhớ của “anh”. Cái miền quá khứ ấy đã tan vào mây ngũ sắc, tan vào cái không gian mênh mông và “vô vọng” cuối bài thơ. Và câu kết chính là kết quả của sự thức tỉnh. Chỉ có sự thức tỉnh mới có thể có được câu thơ ấy sau 5 khổ thơ miên man trong vùng trời quá khứ. Sự thức tỉnh đấy có thể là một nỗi đau như quy luật của nỗi nhớ không bờ bấu víu.
Nhưng tôi tin, nỗi đau ấy, sự thức tỉnh ấy, và cả cái vùng trời quá khứ ấy là một miền đẹp. Bài thơ “sau lưng mùa hạ cũ”, vì thế, cũng là một bài thơ đẹp với những câu thơ đẹp đến nao lòng!


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 5:00pm
CÁI DUYÊN

Duyên kia ở bát cháo hành
Ra sông gánh nước mà thành lứa đôi
Không cười cũng chẳng kín môi
Thế mà anh CHÍ đứng ngồi chẳng yên

Vầng trăng chao xuống làm duyên
Để cho lò gạch chép niềm tương tư
Gió đưa tàu chuối ngất ngư
Lạ thay chai rượu làm thơ tỏ tình

Nào đâu phải đẹp, phải xinh
Mà thắm duyên mình, mà vẹn duyên ta
Nào đâu xiêm áo lượt là
Chỉ manh váy đụp thế là nên duyên

Ngồi bên bụi chuối ngước lên
Chí khoan khoái với cái duyên của trời....

Bởi vậy nên. Nhiều người hỏi tôi rằng: tại sao T.H lại thích CÁI DUYÊN. CÁI DUYÊN có gì đặc sắc. Người ta thường kết 2 câu cuối thật "mùi". Thì với Cái duyên của tôi, 2 câu cuối không lấy gì làm... hoàn mỹ...

Nhưng... đó chính là tâm sự của Tôi, một tình yêu có lẽ chỉ bắt đầu được từ cái duyên. Quan niệm của tôi về cái duyên đâu phải vì giầu nghèo, đâu phải vì chức trọng quyền cao. Chỉ một manh váy đụp, một bát cháo hành là nên duyên.
Ông trời đã khéo xe đôi xe lứa. Cái duyên được tôi viết với rất nhiều hàm ý và cảm xúc... Thơ của tôi tuy không hay. Bài đó tuy không đựơc chặt chẽ trong cách bố trí niêm luật của thơ LỤC BÁT. Nhưng lại thổi vào cái tình, cái ý tôi muốn gửi gắm.

Những người bạn của T.H. Xin hãy đọc lại CÁI DUYÊN và hiểu tôi thêm.
Gửi một người: EM ĐỪNG YÊU BẰNG TRÁI TIM, SAU ĐÓ BẰNG LÝ TRÍ nữa nhé em. Tình yêu đừng nên suy nghĩ nhiều về vật chất...

Đó chỉ là quan điểm của riêng tôi, và giải đáp một số câu hỏi của bạn bè... một lần nữa tôi cám ơn các bạn, những người đã nhiệt tình ủng hộ KẺ LƯỜI BIẾNG và đọc thơ của KẺ LƯỜI tôi...
Chúc các bạn an lành, hạnh phúc. Và tôi lại trên đường đi tìm kiếm cái duyên cho mình để... bớt long đong...


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 5:01pm
Đã lâu rồi

Đã lâu rồi anh chẳng tặng hoa em
Như ngày xưa tình yêu vừa chớm
Đã lâu rồi anh thường lỗi hẹn
Đứng chờ em vào mỗi lúc tan tầm
Đã lâu rồi anh có biết không ?
Em thèm lắm nụ hôn dài lên mắt
Những lời chức ngủ ngon sau mỗi ngày mệt nhọc
Những buồn vui anh san sẻ cùng em .
Đã lâu rồi anh cũng lãng quên
Hát những bản tình ca ngày xưa anh thường hát .
Mài mải vui quên bữa cơm đạm bạc
Em vẫn chờ anh sau mỗi buổi tan tầm .
Đã lâu rồi anh có biết hay chăng ?
Dẫu lời chúc nhỏ nhoi cũng xua tan bao mệt mỏi
Một nhành hoa cũng đủ để em vui
Một câu hát, nỗi buồn cũng vơi đi hết
Hạnh phúc giản đơn mà anh nào biết,
Đã lâu rồi, ... anh còn nhớ hay quên... ?

Trần Thị Hải Ly
(Khu phố Vân Trì, Vân Nội, Đông Anh, Hà Nội)


Bình thơ – nhà văn Lưu Trọng Văn

Nào đã lâu đâu...

Cái gì cũng “đã lâu rồi”. “Đã lâu rồi anh chẳng tặng hoa em”. Quá rõ ! “Đã lâu rồi anh thường lỗi hẹn”. Chưa rõ. Lỗi hẹn cái gì ? Lỗi hẹn :
“Đứng chờ em vào mỗi lúc tan tầm”
Điều chưa rõ đã rõ: “Đã lâu rồi anh có biết không?”

Biết điều gì:
“Em thèm lắm nụ hôn dài lên mắt
Những lời chúc ngủ ngon sau mỗi ngày mệt nhọc
Những buồn vui anh san sẻ cùng em”.


Rồi tiếp:
“Đã lâu rồi anh cũng lãng quên
Hát những bản tình ca ngày xưa anh hay thường hát
Mà mải vui quên bữa cơm chiều đạm bạc
Em vẫn chờ anh sau mỗi buổi tan tầm”.


Buồn quá Hải Ly ơi! Thế thì còn gì nữa cái gọi là tình yêu và hơn tình yêu đó là tình và nghĩa vợ chồng? Điệp khúc “Đã lâu rồi” cứ như những vết dao chém, không những chém thời gian đã qua mà chém cả thời hiện tại, bời cái đã lâu rồi ấy vẫn đang diễn ra tức là đang tồn tại, tức là có thể còn tiếp tục dài dài. Thơ đâu chỉ là thơ nữa. Thơ đã thành thân phận của người vợ trước một người chồng ỷ thế là chồng, cứ tin tưởng sự vĩnh cửu là đức ông chồng mà quên đi cái bổn phận là chồng, quên đi tình chồng vợ luôn phải giữ như buổi ban đầu yêu nhau, thuộc về nhau. Một sự thờ ơ , lãnh cảm , nhàm chán, yên tâm đều có thể làm tan rã một mái ấm gia đình.

Thôi thì “Đã lâu rồi” đấy, bỏ qua cái quá khứ, ông chồng kia ơi hãy dừng lại, khẩn cấp dừng lại, nếu không cái sự “Đã lâu rồi” sẽ trở thành sự trỗi dậy mãnh liệt quyền đòi được yêu, được chăm sóc, được quan tâm, cái quyền ấy nghe to tát nhưng thực bình dị và đã từng được chính người chồng ấy cho hưởng :

...”Dẫu lời chúc nhỏ nhoi cũng xua tan bao mệt mỏi
Một nhành hoa cũng đủ để em vui
Một câu hát , nỗi buồn cũng vơi đi hết
Hạnh phúc giản đơn mà ...”


Và cái quyền ấy không được đáp ứng thì sẽ đồng nghĩa với : Đã lâu rồi chúng mình không còn yêu nhau./.
 
(ST)
_________________


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 5:02pm
NẮNG THU

Tháng Ba đã bỏ tôi đi
Mang về cho Thu giọt nắng
Lang thang trên hè phố vắng
Ðếm từng giọt nắng đong đưa.

Thu về em đã biết chưa
Lá vàng đang rơi xào xạt
Nắng buồn long lanh từng hạt
tung tăng vỡ giữa trời thu

Nắng về ngang qua lối hẹp
Hàng cây xanh cũng thẹn thùng
Bâng khuâng dạt dào lá rụng
Bồi hồi nắng đón thu sang.

Em đi nắng bước chung hàng
Tôi về sầu Ðông rụng lá

Ðôi ta chập chờn hai ngả
Bàng hoàng tôi viết thành thơ ......

Hoang Vu



Đọc và bình "NẮNG THU" - Hoàng Vũ.

Tháng Ba đã bỏ tôi đi
Mang về cho Thu giọt nắng
Lang thang trên hè phố vắng
Ðếm từng giọt nắng đong đưa.


Theo cách của người viết ta có chút lưu luyến tháng ba, những tưởng cái nắng tháng ba cũng diệu vợi, se se lạnh, ngoại trừ rét Nàng Bân thì nắng tháng ba trong trẻo và Xuân lắm " Tháng Ba đã bỏ tôi đi" thế nên người có chút dỗi hờn. Nắng thu cũng không kém phần quyến rũ, đong đưa để người đón nhận một cách lơ đãng. Em biết chưa, dẫu thừa biết rằng : Thu về ai chả biết, nhưng vẫn muốn nhắc khéo em để hạnh phúc làm "tung tăng vỡ" bỗng chốc buồn như một thứ trang điểm cho thu .

Thu về em đã biết chưa
Lá vàng đang rơi xào xạt
Nắng buồn long lanh từng hạt
tung tăng vỡ giữa trời thu


Cái nắng thu làm cho mọi vật trở nên dịu dàng, cây cũng e thẹn, bâng khuâng thế đó ! Sao tránh khỏi rung động lòng người "Bồi hồi nắng đón thu sang" .

Nắng về ngang qua lối hẹp
Hàng cây xanh cũng thẹn thùng
Bâng khuâng dạt dào lá rụng
Bồi hồi nắng đón thu sang.



Bài thơ như cái giấc mơ trưa, loáng thoáng, vụng về, định thoát ra khỏi mộng mị thì người lại vô tình chạm phải mùa Đông, để giấc mơ rơi rụng như chiếc lá, cuốn đi những hoài bão... họ thảng thốt mà không dám giữ lại cho riêng mình.

Em đi nắng bước chung hàng
Tôi về sầu Ðông rụng lá
Ðôi ta chập chờn hai ngả
Bàng hoàng tôi viết thành thơ ......


Buông một câu thơ tưởng như được chia sẻ thì lại bắt gặp sự nao lòng, bàng hoàng, nối tiếc, giá mà em bước đi chung hàng, anh bước đi chung hàng, nắng sẽ nhuộm vai anh, vai em, nắng sẽ in trên nền thảm cỏ hai người thì kết cục đã trọn vẹn quá đỗi. Nhưng thôi, thế mới là thơ, chẳng có gì rõ ràng, phân mình cả, theo đuổi từ mùa Xuân đến đầu thu và sang mùa Đông thì "Ðôi ta chập chờn hai ngả ". Thật tiếc lắm thay.

Hoang Vu ơi, xin thứ lỗi cho tớ nhé, phá phách bạn một chút, mong được đọc thơ bạn nhiều hơn, thật nhiều nhé.

THN, 11012007



-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 5:04pm
VÀ CÂY ĐỜI MÃI MÃI XANH TƯƠI
Xuân Diệu

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
và cây đời vĩnh viễn xanh tươi (*)
Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười
Vĩnh viễn anh yêu em, như yêu sự thật

Và cây đời mãi mãi xanh tươi
Mãi mãi em ơi Cây đời trữu trái
Gió trong lá mùa thu rồi trở lại
Rì rào đôi ta tình ái muôn đời

Trong mắt đen em mãi mãi ánh trời
Ngời qua một sợi tóc mây rũ trán
Mãi mãi môi em, nhụy đời vô hạn
Và cây đời, ôi ! xán lạn xanh tươi

01/01/1970



Thử bàn về chữ Yêu trong thơ Xuân Diệu


Chọn một góc nhìn để viết ra được cái mình yêu là quyền của tác giả, và truyền được cái yêu ấy đến với độc giả đã là bậc thang mới. Nhưng truyền được lửa yêu của cái mình yêu để mọi người cùng yêu đó mới chính là “Cây đời” xanh tươi đơm bông kết trái .

Trọn vẹn một bài thơ Cây đời mãi mãi xanh tươi. Tác giả đã mở ra cái không gian rộng lớn của thế gian chứ không còn bó hẹp trong mối tình anh, tình em đơn thuần cuộc sống nữa. Cái triết lý về đời sống không còn là lý thuyết suông bàng bạc một màu xám mà nó đã hoà quyện với đất trời, tình yêu con người làm thay đổi cả tiếng chim, thay đổi vầng dương, gió cũng phải xao xuyến huống chi tình yêu chân thật mà anh đang muốn dành trọn vẹn cho em.

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
và cây đời vĩnh viễn xanh tươi (*)
Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười
Vĩnh viễn anh yêu em, như yêu sự thật


Tác giả vẽ lên một không gian rộng lớn rồi từ từ xích gần lại với đời thường để nâng giá trị đích thực của tình yêu trong đời sống hiện tại. Nói xa rồi lại nói gần, cái nguyên lý sự sống đã được nhào nặn một cách vuông vức “Vĩnh viễn anh yêu em”… Tình yêu anh mang đến cho em được chim ca , nắng cười khích lệ như một thiên thần đem hạnh phúc đến trao cho người.

Điệp từ "Vĩnh viễn" được nhắc đi nhắc lại ở phần đầu bài giúp cho ta hiểu được ý đồ tác giả - khẳng định một điều chắc chắn… nó đã thế, nó phải thế .

Ở bài bình của Ngô Minh Sơn, sự phán đoán ý đồ tác giả rất rõ nét “Cây đời xanh tươi” vừa là điều ước, vừa là lời chúc phúc, vừa là một trách nhiệm cho đời này phải luôn nối tiếp đời sau vun xới cho tình người, tình yêu dày thêm, cao thêm, xanh tươi mãi mãi… Tình yêu ví như một gốc cây được chăm sóc, vun xới, được tỉa cành bón phân, đủ đất, đủ nước thì sẽ đơm hoa kết trái.

Khi trái tim ấp ủ một tình yêu chân chính nó sẽ trở nên bao dung, sẽ vì đời mà không ngần ngại khó khăn, gian khổ… Rồi đây – cũng có lúc gió bão nổi lên, cũng có lúc dập vùi mưa nắng để rồi “gió rì rào… thổi vào tình ái muôn đời”. Nhà thơ đón nhận một tình yêu thật đẹp, gạn lọc những tinh tú nhất để chuyển những cái tầm thường vật chất thành tinh thần, thể thơ thứ hai không nặng triết lý nữa mà đã bay bổng chan chứa ân tình…

Với một lý lẽ khúc triết, thong dong. Khổ thơ cuối đã kết một cách mãn nguyện:

Mãi mãi môi em, nhụy đời vô hạn
Và cây đời, ôi ! xán lạn xanh tươi


Riêng với câu “Trong mắt đen em mãi mãi ánh trời” ẩn ý câu này có bạn đã thắc mắc – tôi đọc và hiểu rằng đôi mắt huyền khi nhìn ắn đèn hoặc ánh sáng (nắng) trong đồng tử thường có đốm sáng và nhà thơ nhìn nó lung linh ví như ánh trời.

Bài thơ này là một chân lý của tình yêu nếu không muốn nói nó là sự tất yếu của cuộc sống, càng biết chăm chút cho tình yêu thì cuộc sống càng đáng sống và đáng yêu.

Thân mến, cảm ơn các bạn đã nghe.
23/4/2008


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 5:14pm
Về quê
Đoàn Văn nghiêu
 
 
Anh dắt tay em
Về lại quê nghèo
Tìm nơi đồng ruộng
Câu hát chèo đánh rơi
 
Cánh cò xưa khảm ngang trời
Để nay câu hát ru hời
Chao nghiêng.

Quê nghèo!
Giàu nỗi niềm riêng
Dầm trong bùn nước
Một miền nhớ thương.

Mùa nay thóc phơi kín đường
Rơm quê trải lối
Cơm thơm bát đầy.
Cánh cò xưa
Bỏ đất này
Bởi đồng vang tiếng máy cày quanh năm

Hội làng rộn tiếng hát văn
Điệu chèo đánh thức
Bao năm lại về.
Trăng vui sà xuống miền quê
Gái trai dìu dặt
Câu thề trao nhau.
Mừng quê!
Thay áo, đổi màu
Đói nghèo đọng xuống bùn sâu mấy tầng

Em về!
Vui gấp mấy lần
Điệu chèo, câu hát trong ngần đêm trăng
----------------------------------------------------
 
Tôi lại nhớ câu hát “Đưa nhau ta thì về” trong bài “Về quê” của nhạc sĩ Phó Đức Phương. Bài thơ “Về quê” của Đoàn Văn Nghiêu cũng phảng phất chút hồn quê như vậy, trai gái dắt nhau về trong ngày hội vào mùa:

Anh dắt tay em

Về lại quê nghèo

Nhìn đôi uyên ương đưa nhau về quê chuẩn bị cho lễ cưới mới hạnh phúc làm sao. “Anh dắt tay em” – họ tay trong tay ấm nóng chút tình quê. Ở nơi đó, có chàng trai vụng về đánh rơi câu hát chèo ngày hội, để bàn tay lạc hơi ấm bàn tay. Giờ ta đưa nhau về quê nghe em – về hát lại bài hát tình quê ngày xưa mà anh còn chưa thuộc hết, bỏ quên khúc dạo đầu giữa đồng ruộng mênh mông:

Tìm nơi đồng ruộng

Câu hát chèo đánh rơi

Chàng trai khôn ngoan mời cô gái về quê nhưng nhắc với em là để tìm lại câu hát chèo ngày ấy. Cô gái nào không vui khi được đi bên một chàng trai luôn nhớ tới cội nguồn. Anh tìm câu hát xưa khác gì tìm em, ngày hội làng xưa lúc nào chẳng có trai có gái, giờ anh dắt em về để ra mắt mẹ, để cùng em hát hội trăng rằm. Tình tứ làm sao khi anh muốn gửi gắm tình yêu cho một cô gái qua hình ảnh “câu hát chèo bỏ quên”. Cô gái mỉm cười nhìn anh, em theo anh về. Về quê để thấy:

Cánh cò xưa khảm ngang trời

Để nay câu hát ru hời

Chao nghiêng.

Quê nghèo!

Giàu nỗi niềm riêng

Dầm trong bùn nước

Một miền nhớ thương.

Về với anh nghe em, quê anh nghèo “hai sương một nắng”, có những người nông dân chở nỗi niềm riêng qua cánh cò chao nghiêng vào mỗi buổi chiều. Quê anh nghèo nhưng tình thương lại dạt dào và mênh mông như đồng lúa thẳng cánh cò bay…Họ chân chất, mộc mạc nhưng không gì có thể đổi lấy thứ tình cảm quê hương, làng xóm ấy. Vì nơi đó, có cả một miền nhớ thương em có biết không?

Mùa nay thóc phơi kín đường

Rơm quê trải lối

Cơm thơm bát đầy.

Cánh cò xưa

Bỏ đất này

Bởi đồng vang tiếng máy cày quanh năm

Người con trai đã không dấu nổi niềm vui khi khoe với cô gái rằng quê anh đang ngày càng đổi mới. Nào thóc phơi kín đường, nào cơm đầy bát…và cánh cò xưa đã bỏ lại đất này bởi tiếng máy cày rộn rã quanh năm. Hình ảnh bát cơm đầy gợi lên sự ấm no, đầy đủ. Em ơi, cực khổ qua rồi, cánh cò lặn lội, cánh cò ước mơ cho một mùa bội thu nay đã thành sự thật. Em chớ buồn vì cái cảnh thôn quê. Em có nghe chăng: “đường về thôn em, duyên dáng bên ven sông, con thuyền xuôi mái…”? Nếu được nghe, em sẽ hiểu quê cũng có những nét đáng yêu.

Hội làng rộn tiếng hát văn

Điệu chèo đánh thức

Bao năm lại về.

Trăng vui sà xuống miền quê

Gái trai dìu dặt

Câu thề trao nhau.

Anh đã tìm được rồi em ơi! Chàng trai như reo vui cùng hội làng và tự hào với cô gái rằng hội làng vẫn rộn tiếng hát văn, tiếng hát chèo năm đó. Đừng buồn nghe em vì anh là người biêt tôn trọng quá khứ, anh sẽ bù đắp cho em, mạng lại niềm vui cho em bằng chính những câu hát đậm chất thủy chung, trữ tình của quê mình. Anh sẽ lại gọi trăng về, ánh trăng quê mà giữa phố phường chật hẹp hiếm khi nào em được nhìn thấy. Anh sẽ giữ trọn tình yêu thủy chung với em như tình yêu với tiếng hát chèo cổ vậy. Tiếng hát có em, tiếng hát có tình.

Trăng vui sà xuống miền quê

Gái trai dìu dặt

Câu thề trao nhau.

Sẽ còn thi vị gì không nếu như anh phải hát một mình? Vậy nên, phải có đôi để “gái trai dìu dặt”, để họ trao nhau câu hẹn, câu thề dưới ánh trăng quê. Ánh trăng tình tứ như cũng muốn đùa dỡn cùng các chàng trai, cô gái. Làng quê đậm chất thơ thế kia thì có cô gái nào mà chẳng muốn về! Chàng trai vẫn điệp khúc hân hoan:

Mừng quê!

Thay áo, đổi màu

Đói nghèo đọng xuống bùn sâu mấy tầng

Em về!

Vui gấp mấy lần

Điệu chèo, câu hát trong ngần đêm trăng

Vẫn niềm vui, niềm hân hoan không dấu được trong câu hát của anh. Anh vui bởi làng quê đã “thay áo, đổi màu”, bởi “đói nghèo”đã “đọng xuống bùn sâu mấy tầng”. Nhưng còn niềm vui khác lớn lao hơn. Có niềm vui nào hơn khi quê hương mình đổi mới? Quê hương anh đổi mới, anh đã khoe mãi rồi. Khoe nhiều lắm, suốt cả bài thơ chỉ thấy anh ca ngợi quê hương, mãi đến câu kết, ta mới thấy anh đã cho cô gái một sự bất ngờ:

Em về!

Vui gấp mấy lần

Điệu chèo, câu hát trong ngần đêm trăng.

Thì ra, ngoài niềm vui về quê hương, anh còn niềm vui khác nữa. Đó là niềm vui khi có em về, niềm vui của một chàng trai sắp có vợ, dù xa quê nhưng anh không quên điệu hát chèo. Niềm vui đó được nhân lên gấp bội. Và hình như, hình ảnh những chàng trai khéo léo khi tán tỉnh ta đã từng bắt gặp trong bài ca dao “Tát nước đầu đình”:

“Áo anh đứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu…”

Còn ở đây, chàng trai cũng ý tứ cho cô gái biết tình cảm của mình qua việc nhân niềm vui lên “gấp mấy lần” so với niềm vui quê hương đổi mới:

Em về!

Vui gấp mấy lần

Điệu chèo, câu hát trong ngần đêm trăng

LÊ DUYÊN

Ngày 31-05-2008


-------------


Viết bởi: Chubengheokho
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 9:07pm
ĐI TRONG HƯƠNG TRÀM
(Hoài Vũ)

Em gửi gì trong gió trong mây
Ðể sáng nay anh lên Vàm Cỏ Tây
Hoa tràm e ấp trong vòm lá
Mà khắp trời mây hương tỏa bay!
Dù đi đâu dù xa cách bao lâu
Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu
Dù trái tim em không trao anh nữa
Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau
Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu
Có nỗi thương đau có niềm hy vọng
Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng
Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?
Dù đi đâu và xa cách bao lâu
Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát
Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát
Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...

LỜI BÌNH:

Cái ánh mắt biếc xanh như vòm lá tràm ấy cứ ám ảnh tôi, cứ bám riết lấy tôi theo từng câu từng chữ khi đọc bài thơ này và nghe bản nhạc phổ cho bài thơ này.
Nó ám ảnh tôi có lẽ bởi trước hết nó lúc nào cũng trong biếc, tinh khôi trong mắt, trong tim, trong óc, trong trí tưởng tượng của chàng trai đa tình và chung tình kia. Cái hình ảnh ấy cuối bài thơ mới xuất hiện, nhưng đọc một lần, để ý xem lại, ta thấy dường như nó hiển hiện trong toàn bộ bốn khổ thơ cũng đa tình và chung tình này!
Hoài Vũ đã khéo léo gửi cái ánh mắt ấy vào trong lá tràm. Để rồi bất cứ thứ gì liên quan đến “em” cũng trở thành Tràm. Tưởng như Tràm là em từ bao giờ rồi. Và bài thơ ngập trong hương tràm, lá tràm, gió tràm. Tràm chính là em, em có ở trong tràm. Cái xứ Tháp Mười này cũng trở thành xứ tràm – xứ em!
Này nhé:
Anh vẫn thấy bóng em giữa bóng tràm bát ngát
Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát
Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao…”

Em là bóng tràm. Em là mắt lá tràm. Em là hương tràm. Và vì thế cho nên rất dễ hiểu vì sao trong bốn khổ thơ, khổ nào cũng gió tràm, cũng mây tràm, cũng hương tràm, lá tràm… Và vì thế cho nên “Đi trong hương tràm” chính là đi trong tình em!
Bốn khổ thơ, cuối mỗi khổ đều quấn quyện hương tràm, tưởng như cả bài thơ ngập trong cái hương tràm xôn xao kia. Khổ thứ nhất: “Mà khắp trời mây hương tỏa bay”, khổ thứ hai: “Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”, khổ thứ ba: “Hương tràm bên anh mà em đi đâu?”, khổ thơ thứ tư: “Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao”. Mỗi khổ thơ là một khổ hương tràm, một sắc thái hương tràm. Và mỗi khổ cũng là một sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình “anh”. Tất cả đắm say trong hương tràm, trong “tình em”. Ngay từ khổ thứ nhất đã say đắm:
“Hoa tràm e ấp trong vòm lá
Mà khắp trời mây hương tỏa bay”

Không đắm say, không nhập tâm nhập thần cái hương tràm ấy thì làm sao mà từ bông hoa tràm trong vòm lá kia lại có thể thấy được một trời mây hương tràm tỏa bay như thế!
Tuy nhiên, cái đắm say ấy cũng mới chỉ là bước khởi đầu của một chuỗi diễn biến tâm trạng của “anh”. Nó mới chỉ là cái đắm say của cảnh, của lá tràm, bóng tràm thực tại. Khổ hai, tâm trạng bắt đầu vận động theo hương tràm. Sau một loạt những “Dù” phũ phàng và đau đớn là “Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”. Từ bông hoa tràm mà thấy được một trời mây hương tràm tỏa bay đến không có “em” mà vẫn có thể “cho ta bên nhau” qua “một thoáng hương tràm” thì cái liên tưởng ở đây đã có chiều hướng đi sâu vào tâm tưởng.
Và như một quy luật của logic tâm hồn, khi chạm đến những gì là của tâm tưởng, của tâm thức thì sau phút đắm say sẽ là nỗi đau. Mà sự đắm say càng sâu thì nỗi đau càng giằng xé, càng quặn thắt. Cái thực tại phũ phàng “Hương tràm bên anh, mà em đi đâu” như muốn phá tan tất cả những hư ảo mơ màng của không - gian - tràm trước đó. Nhưng có lẽ vì anh chung tình quá nên cái không - gian - tràm ấy không dễ gì mà phá vỡ được. Và đến khổ cuối thì cái cảm xúc: “Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao” đã trở thành siêu liên tưởng!
Không gian thơ ở đây được phân định thành hai chiều không gian rõ ràng: Một chiều không gian thực tại với những cây tràm, bông tràm, lá tràm và “xa cách”, và “đổi hướng thay màu”, và “không trao anh nữa”, và thương đau… Một chiều không gian của tâm thức, tiềm thức với bóng tràm, với hương tràm, với mắt tràm, với mây tràm, với gió tràm, với “hy vọng”, với “cho ta bên nhau”…
Chính vì cái không gian này nên cái ngọn gió của xứ Tháp Mười – xứ tràm – xứ em kia mới “thổi rất sâu” chứ không phải là thổi rất xa hay rất cao! Cái chiều thổi của gió là chiều của tâm hồn, chiều của nỗi nhớ, của tình yêu, của niềm hy vọng…
Và có lẽ cũng bởi cái chiều không gian thứ hai này và cái chung tình của “anh” mà khiến cho cái không gian chung của bài thơ không ít mơ màng, hư ảo này bừng sáng lên trong từng câu chữ.


Viết bởi: Chubengheokho
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 9:14pm
Ghen

Cô nhân tình bé của tôi ơi !
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi.

Tôi muốn cô dừng nghĩ đến ai
Đừng hôn dù thấy cánh hoa tươi(*)
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay biển lắm người.

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
Mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẫu chỉ qua đường khách lại qua.

Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn quất bên cô
Bằng không tôi muốn cô đừng gặp
Một trẻ trai nào trong giấc mơ.

Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa quen.
Chân cô in vết trên đường bụi
Chẳng vết chân nào được dẫm lên.

Có nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mẩt rồi
Và nghiã là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi .

 
Ghen có thể nói là một đặc tính cố hữu của tình yêu đôi lứa. Một điều nghe đã quá đỗi quen thuộc nhưng không hề cũ trong mọi thời đại. Nó đã tồn tại lâu đời , như một thực tại khách quan trong ý thức hệ của con người từ khi sinh ra và còn tồn tại mãi mãi cùng với cuộc sống của con người trong vũ trụ.

Đã có không biết bao nhiêu giấy mực của nhiều tác giả tự cổ chí kim viết về cái sự ghen trong tình yêu . Cũng không phải ít những sự bàn thảo phi giấy mực về ghen theo lối khẩu ngữ lưu truyền trong dân gian từ xưa đến nay .Người ta đã và vẫn sẽ còn viết mãi về cái đề tài muôn thuở ấy dưới nhiều góc độ khác nhau : tích cực có, tiêu cực cũng có.

Khoan hãy nói về cái mặt trái hay cái tính tiêu cực của cái ghen gây ra những tấn bi kịch theo kiểu Hoạn Thư ngày trước hay những trận tạt a xít , hoặc ẩu đả , làm hại danh dự , nhân phẩm và thể xác lẫn nhau vì ghen tuông một cách quá đáng (của một số cái ghen để trong ngoặc kép ) ở một số người trong cái thời buổi @ này mà ta hãy bàn về cái nét thi vị, cái mặt tích cực , cái gia vị đặc biệt làm thăng hoa tình yêu của cái ghen trong tình yêu của nam và nữ như trong bài thơ
Ghen trên đây của nhà thơ Nguyễn Bính.

Thiết tưởng khi đọc xong bài thơ, ai cũng thấy có cái riêng rất tâm đắc của mình trong cái chung rộng lớn ấy.
Bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ . Bất cứ một sự chia sẻ nào cũng làm cho tỉnh yêu trở nên không trọn vẹn và mất đi sự thiêng liêng của một thứ vốn có tính chất bền vững vĩnh cửu trong đời sống tinh thần của nhân loại.

Khi đã có lòng yêu ai, người ta chỉ muốn người ấy chỉ là của riêng mình một cách tuyệt đối. Vì thế cái ghen luôn luôn tỷ lệ thuận với mức độ mãnh liệt trong tình yêu hay nói cách khác, nó chính là thước đo tình yêu .Theo đó, những người yêu chưa hết mình, theo kiểu nửa vời hoặc những kẻ tính toán, hẳn nhiên không thể có cái ghen nồng nàn , đáng yêu, đẹp đẽ như một người có sự trao gửi tuyệt đối về tư tuởng và hành động đối với người mình yêu.

Trở lại với bài thơ, cái điệp khúc " tôi muốn ...." được lặp đi lặp lại nhiều lần trong bài, trong nhiều hoàn cảnh cụ thể khác nhau của đời sống thường nhật mà người yêu của anh đang trú ngụ trong cõi thực . Những sự mong muốn sở hữu ấy, thậm chí có lúc trở nên vô lý, vì người con trai rất "lạ lùng " kia còn có cả cái tính ghen với những sự vật vô tri vô giác , mà cô gái thường sử dụng như : những cánh hoa,như chiếc gối, ....chỉ vì chúng có được cái diễm phúc rất to lớn là thường xuyên được cô gái ôm ấp, nâng niu , và hôn một cách rất tình tứ, say mê.

Trong cõi thực , anh chàng si tình đó vẫn có cái sự ghen rất nhạy cảm đối với những việc làm của cô gái : ví như cô đi tắm biển chẳng hạn . Không thể nói là cái ghen vô lý được nữa, bởi ở cái bãi biển đó, cô gái đã phô bày hầu hết cơ thể như một sự trở về nguyên thủy với thiên nhiên. Một mình cái biển xanh không thôi với những bờ cát phẳng lì tyệt đẹp, với những con sóng bạc đầu dữ dội , điệp điệp trùng trùng, đầy thèm khát ấy cũng đã đủ làm cho một người con gái thấy ngượng ngùng e thẹn, giống cái ngượng của một người con gái khác khi tắm dưới cái ánh trăng , của Hàn Mặc Tử :

"Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe "


Huống hồ là trước cái bãi biển đông người, với hàng ngàn hàng vạn những ánh mắt đang chiêm ngưỡng cái vẻ đẹp tuyệt vời của cô, một sản phẩm tuyệt tác của tạo hóa, hỏi làm sao chàng trai của chúng ta lại không ghen cho được ?

Nói về một chi tiết thứ hai, bằng cách chọn lọc một số hình ảnh tiêu biểu, Nguyễn Bính nhắc đến dấu chân của người con gái . Hẳn là cô gái ấy phải đẹp lắm , nên cái dấu chân kia mới gây nhiều ấn tượng cho chàng trai của chúng ta , ca dao nói :
" Người xinh đi đứng cũng xinh
Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn "
Tự cổ chí kim, người ta còn nói đến gót chân của người phụ nữ , như nói tới một vẻ đẹp nhuần nhị, dịu dàng, thể hiện tính cách bên trong đầy nữ tính của người con gái. Vết chân của con gái , tất nhiên khác với vết chân của người con trai, bởi nó được cấu thành trên cơ thể của một giới "chân yếu tay mềm". Những dấu chân của phái đẹp nói chung như những điểm xuyết mà tạo hoá ban xuống tô điểm cho bãi biển đời người của trần thế, một nét hoa văn nổi bật giữa những bàn chân thô nhám của cánh mày râu .
(Mai Trang)


Viết bởi: Chubengheokho
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 9:19pm
BÌNH THƠ - CHỊ ƠI , XUÂN VỀ (Phạm Duy Tân)

Chị ơi,chim én về rồi
cành xuân gió lẩy,
bồi hồi
lạ chưa
biết rằng chị thưở ngày xưa
hài rơm,nhẫn cỏ
chạm vừa lòng nhau
đồng làng
em trước ,chị sau
tập làm người lớn
buồng cau dạm nhà
ông mai bà mối như là
cô dâu chú rể
cuống ca,cuống cuồng
roi bà giục dặt tay luôn
lại đây
ai bẻ trộm buồng cau xanh
lệ tròn mắt chị long lanh
chân run em đứng chòng chành
dạ thưa
lắc đầu bà mắng
lạ chưa
hài rơm,nhẫn cỏ
ngày xưa
bây giờ
ngoài trời khóm trúc dăng tơ
nhìn chim én liệng
mấy bờ
rưng rưng...

-------PHẠM DUY TÂN--------

Chị ơi,chim én về rồi
cành xuân gió lẩy
bồi hồi
lạ chưa

Tôi đã đọc nhiều bài thơ xuân,với rất nhiều hình tượng của mùa xuân trong đó.Nhưng, khi đọc bài thơ này,tôi vẫn xúc động trước mùa xuân ở đây.Chỉ bằng hai câu thơ thôi với rất ít hình ảnh:một cánh én,một làn gió xuân,một cành xuân run nhẹ mà sao tôi đã thấy mùa xuân tràn trề,thấy như cả đất trời đang rạo rực,từng mầm cây ,ngọn cỏ đang cựa mình ,tách vỏ vươn lên.Tôi chợt thấy ùa về theo cánh én là làn gió xuân hây hẩy,nồng nàn,âm ấm để cho lòng chợt bồi hồi ,mềm lại,mở ra cho kỷ niệm ùa về...

Ngày xưa...câu chuyện ngày xưa đẹp như cổ tích,trong suốt như pha lê.

Biết rằng chị thưở ngày xưa
hài rơm-nhẫn cỏ
chạm vừa lòng nhau
Chị,hẳn chỉ mười ba,mười bốn tuổi
Em,chỉ độ mươi,mười hai tuổi

Em tự nguyện làm cái đuôi của Chị,lẽo đẽo theo Chị khắp đồng làng,ngõ xóm.Lứa tuổi thần tiên chưa bị vẩn đục bởi cuộc đời,cho "hài rơm,nhẫn cỏ" quí hơn hết thảy châu báu sau này.Đã mấy lần tôi thầm hỏi, vì sao tác giả lại dùng chữ "chạm " ở đây,nếu dùng chữ "cho "thì có phải đơn giản và dễ hiểu hơn không? Thường khi "chạm" là phải rất khẽ ,rất nhẹ...Với "hài rơm-nhẫn cỏ" phải chăng Chị và Em ở đây đã "chạm" được vào một miền ký ức thiêng liêng trong đời,"chạm" vào những rung động đầu đời,như "chạm" khẽ vào sợi tơ lòng mảnh nhất ,để tiếng ngân trong vắt của nó cũng chẳng dễ nhận ra.

Để có một ngày...Chị và Em "tập làm người lớn",bẻ trộm buồng cau xanh của bà làm "ông mối,bà mai"
Họ còn trẻ quá,trong trắng quá nên khi bị bà bắt được,mới dứ dứ ngọn roi là Chị đã nước mắt lưng tròng.Ô kìa,sao đang là "ông mối,bà mai"mà lại hoá thành

"cô dâu-chú rể
cuống ca cuống cuồng "

Bắt quả tang hai chị em rồi nhé,chỉ giả vờ là "ông mối,bà mai " thôi,thực ra là muốn chơi trò "cô dâu -chú rể "kia.Sự chuyển hướng này thật bất ngờ mà lại rất dễ thương.

lệ tròn mắt chị long lanh
chân run em đứng chòng chành
dạ thưa

Em lúc này còn nhỏ nhưng đã tỏ ra có phong độ của đấng nam nhi.Trước "lệ tròn mắt chị long lanh" chỉ chực vỡ ra,oà xuống Em đã cố gồng lên ,chòng chành trên đôi chân run rẩy để nhận về trách nhiệm cho mình,khiến cho bà cũng phải lắc đầu,chịu thua...

Lạ kỳ thay là mùa xuân,gió xuân,mưa xuân và những sợi tơ hồng giăng tơ trên khóm trúc.Ai xui xuân về để lòng Em bỗng rưng rưng nỗi nhớ...vẫn vẹn nguyên trong Em "hài rơm,nhẫn cỏ" để thầm thì Em gọi

Chị ơi
chim én về rồi
cành xuân gió lẩy
bồi hồi
lạ chưa.......


Viết bởi: Chubengheokho
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 9:20pm
TÌM

Tôi đi tìm lại chính tôi
Bầu trời quá rộng
Lòng người lại sâu
Tìm mình,chẳng thấy mình đâu
Qua sông,sông rộng
Qua cầu,cầu trơn
Đường xa,gối mỏi,chân chồn
Quay về chốn cũ
Thả hồn ngu ngơ...

Tôi tìm tuổi dại ngây thơ
Vấn vương ánh mắt...cứ ngờ rằng yêu
Tôi tìm lại những buổi chiều
Nước Hồ Gươm mặn
Bao nhiêu lệ đầy
Tìm trong màu nắng,màu mây
Lời yêu xưa...
Gió thổi bay mất rồi
Tìm bao cảm xúc đầu đời
Lòng giờ hoang vắng bởi người mang đi
Tôi tìm...
Chẳng biết tìm chi
Tim hoài ảo vọng
Còn gì cho tôi
Nủa đời người cứ chơi vơi
Tôi tìm...
Tìm mãi...
Một thời xuân qua...



Cảm nhận từ: [Khách]

ĐÂY LÀ CẢM NHẬN CỦA BÀI TÌM

Tôi gặp bài thơ này,dịu dàng mà sâu lắng quá,chợt ùa dậy trong lòng mình bao cảm xúc rất trẻ,chợt cũng muốn đi tìm...
Có bao giờ trong cuộc đời này,bỗng một hôm bạn chợt hụt hẫng,cảm thấy như thiếu một cái gì,như đánh rơi mất một quãng đời của mình ở đâu đó...

Có bao giờ bạn tự đi tìm lại chính mình,tìm những yêu thương,giận hờn,nhung nhớ đã chìm đi trong cơm áo gạo tiền,trong những lo âu vặt vãnh của đời thường...
"Tôi đi tìm lại chính tôi" vì mình đã tự đánh mất mình,đánh mất những khát vọng,mộng mơ của một thời tuổi trẻ...
Con đường đi tìm lại chính mình cũng chẳng dễ gì

Bầu trời quá rộng
Lòng người lại sâu

Qua sông-sông rộng
Qua cầu-cầu trơn

Câu thơ ở đây ngắt từng nhịp ngắn,như điểm lại mỗi chặng đường,như lời than,như tiếc nuối,nhũng tháng năm đã qua đi,mái đầu điểm bạc,"đường xa,mắt mỏi,chân chồn "mà vẫn chẳng tìm thấy mình đâu.Mình hôm nay đã mang trong mình bao vết thương nông sâu của cuộc sống."Tìm mình... chẳng thấy mình đâu",câu thơ như một tiếng thở dài rất nhẹ mà xa xót làm sao.

Đến đây,tác giả lại cho mình quay trở về với một quãng đời hoa mộng,với những kỷ niệmcủa một thời tuổi trẻ dại khờ,có nắng,có mây,có ánh mắt ai vấn vương,có cả một tình yêu ngộ nhận"cứ ngờ rằng yêu".

Tôi tìm lại những buổi chiều
Nước Hồ Gươm mặn
Bao nhiêu lệ đầy

Đọc đến đây,tôi giật mình vì cách dùng từ thật tài tình.Tôi chờ đợi tác giả viết:nước hồ trong,nước hồ xanh hay nước hồ long lanh...Nhưng không,tôi gặp ở đây ,lần đầu tiên,một Hồ Gươm nước mặn đắng,một Hồ gươm đong đầy nước mắt của một thời hoa mộng,nặng trĩu u buồn,vắt kiệt cảm xúc của người con gái trong mối tình đầu.Hẳn mối tình ấy trong trái tim em phải sâu đến đâu,phải nặng thế nàothì em mới mang mãi trong tim đến hết "nửa đời người" như vậy chứ .

Bâng khuâng,tôi lại nghĩ vẩn vơ về"lời yêu xưa" mà tác giả nhắc đến ở đây."Lời yêu xưa "ấy,ai đã thốt ra,có dễ dàng không,có hời hợt không mà sao nghe nhẹ lắm,"gió thổi bay mất rồi " cơ mà.Chao ôi,mối tình đầu của em,có gì đâu nhỉ,chỉ một "ánh mắt vấn vương",chỉ một "lời yêu" nhẹ bỗng,một lời yêu thật vu vơ,có khi ai đó chỉ thả bâng quơ mà lại làm đau cả một đời người con gái,vắt kiệt mọi "cảm xúc đầu đời" của em để nước Hồ Gươm chuyển mặn,để "lòng giờ hoang vắng" để

Nửa đời người cứ chơi vơi
Tôi tìm ...
Tìm mãi...
Một thời xuân qua...

mà có thấy gì nữa đâu,còn đọng lại gì đâu,chỉ có

Tim hoài ảo vọng
còn gì cho tôi.

Tôi chợt thấy sợ,biết đâu,trong đời này mình đã vô tình làm đau ai đó.

Bài thơ ngắn thôi,nhưng lại mang đến cho tôi cảm xúc thật nhiều.Bài thơ đọc lên thật nhẹ nhàng nhưng lại rất đậm nét tinh tế của những người con gái Hà Nội xưa.Tôi chắc chắn rằng,chỉ có những người thiếu phụ thanh lịch của đất Tràng An mới có thể viết về nỗi buồn của mình mềm mại thế,duyên dáng thế...


Viết bởi: Chubengheokho
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 9:29pm
GIÁ NHƯ

Giá đừng nhấp chén ly bôi
Vội trao chót lưỡi bờ môi say mềm
Lục tìm một ánh sao đêm
Thiên thai người đã để quên yếm đào.

Giá đừng ngắt cánh hoa đào
Tìm mơ non để lạc vào vườn mai
Bây giờ lệ nhỏ bờ vai
Ngực tôi người áp than hoài...giá như...

Nếu xưa không nhận phong thư
Say lời đường mật mây mưa trốn tìm
Để nay đáy bể rớt kim
Đất trời muôn ngả biết tìm nơi nao?

Xưa đừng mộng ước trăng sao
Chẳng mơ trái cấm động đào dấn thân
Cũng như thấu được tình xuân
Vẫn không giữ nổi bước chân đông ngàn.

Nay người bỏ ngãi tham vàng
Để riêng ta nỗi bẽ bàng đơn côi
Xưa đừng nhấp chén ly bôi
Đừng say mộng tưởng để rồi...giá như...

29.11.06
KIM YẾN


Xin bình đôi dòng theo cảm tính !

Chuyện văn chương xưa nay có nhiều trường phái, ở thời tuổi trẻ bây giờ họ sống và làm việc theo những mô típ khẩn trương, mạnh mẽ, quyết đóan và nói thế nào nhỉ… đi tìm cái mới, cái lạ.

Thế nhưng, thời gian thăng trầm, cũng có lúc văn chương trở về với cổ truyền - vẫn dáng dấp huyền thoại nhưng chứa ẩn một nét rất mới, rất riêng… đó là tìm trong lục bát nhưng ngôn từ, những gieo vần phá phách nhưng không làm mất đi truyền thống của nó.

Tôi trở lại với bài thơ : Giá như - của anh Kim Yến!

Chuyện tình yêu, chuyện đời sống tinh thần hay những mơ ước thì ở đâu cũng gặp, ở đâu cũng có… Kim Yến đã để lại một bài thơ mà theo tôi là vừa đủ để nói lên một sự nuối tiếc, một niềm trăn trở . Anh đã nói hộ nhiều người cái điều tưởng cũ kỹ ấy: Giá như…
Vâng,

Giá đừng nhấp chén ly bôi …

Giá đừng ngắt cánh hoa đào …


Những cái giá… phải trả khi người ta đã lỡ giành cho mình một tình bạn, một tình yêu mà đôi khi như cái duyên được hội ngộ… để mang theo mình suốt quãng đời day dứt nhớ nhung. Chẳng ai từ chối một ly rượu mời và cũng không thể đoán được nó sẽ làm đau lòng người về sau này bởi ly rượu đó. Chẳng ai từ chối ngắm hoa, nâng niu bông hoa để biết rằng sau này vương vấn - dỗi hờn đến thế… Nên họ vẫn sẵn sàng nhận đấy thôi!

Tôi thích ngôn từ thả chữ…giữa cho và nhận của anh, nó cứ tự nhiên như thể được người ta đặt sẵn một bữa tiệc tao ngộ . Hơn một lần tôi cũng nghe người ta than trách thân phận… giá như… Cái than trách không đem nguời ta nhúng đầm đìa nước mắt, cái than trách không làm cuộc tao ngộ mất đi giá trị mà nó lại như một công nhận …cảm ơn người đã cho tôi được gặp… ước mơ vẫn chỉ là ước mơ mà thôi, đôi khi người ta lại cứ vin vào ước mơ để tự dối lòng, để lại tiếp tục sống… thì đây, lời trách kia cũng tự bằng lòng với những khát khao chưa toại nguyện, nhói lòng đấy, nhưng cũng tự nhủ … may mà còn được nói giá như…

Ngực tôi người áp than hoài...giá như...

Làm thơ Lục bát muốn cho hay rất khó, đôi khi người ta tưởng dễ làm, dễ đọc vì chính nó như một lời ru, lời hát - nhưng nó cũng rất dễ xáo mòn, rẻ rúng khi hời hợt với ngôn từ.

Cảm ơn Kim Yến với bài thơ lục bát rất tâm đắc nhé.


Viết bởi: Chubengheokho
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 9:34pm
Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ

Được sáng tác vào năm 1964, sau hơn 40 năm, Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ vẫn được nhiều người yêu thích. Bài thơ có mặt trong hầu hết các tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại.


Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ.
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa


Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rạng đông đang hừng trên nét mặt
Một rạng đông với màu hồng ngọc
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai...


Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp!
Nắng vẫn còn ngời trên những lá si
Và người chồng ấy đã ra đi...
Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói, tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau..."


Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét...
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly...


* Lời bình của Tú Anh



Người đọc cho tôi nghe lần đầu bài thơ này là nhà thơ Tô Hà. Anh đọc thuộc lòng, riết róng và nức nở. Tô Hà đọc thơ bao giờ cũng riết róng, nhưng không phải khi nào cũng nức nở như khi đọc thơ Nguyễn Mỹ. Dường như trong mỗi câu thơ đều thấm đẫm nước mắt nhớ thương người bạn đã vĩnh viễn ra đi. Và khi đọc đến câu thơ cuối cùng, Tô Hà đã khóc thật, khóc nức nở, đến nỗi những câu thơ bỗng nhòe đi, thảng thốt lạ lùng:


Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly!


Nhà thơ Bằng Việt từ trong phòng làm việc của Tạp chí Tác phẩm mới bước ra, ngạc nhiên hỏi:


- Sao Tô Hà... khóc?


- Vì đọc thơ Nguyễn Mỹ! - Tôi trả lời. Nghĩ ngợi một lát, Bằng Việt bảo:


- Mình sẽ giúp Tô Hà in tập thơ cho Nguyễn Mỹ! Phải in cho bằng được!


Suốt mấy chục năm qua, mỗi lần chạm vào Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ, tôi không sao quên được kỷ niệm xưa.


Vậy mà, cuộc kháng chiến chống Mỹ đã đi qua trọn ba mươi năm rồi, tôi vẫn chưa viết được dòng nào về Nguyễn Mỹ và bài thơ định mệnh ấy của anh!


Cũng như tôi, bao thế hệ nhà thơ trước và sau chiến tranh, đều yêu thích Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ. Vì sao vậy? Cùng với bài thơ Con đường ấy, Cuộc chia ly màu đỏ xuất hiện thường xuyên trong hầu hết các tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại, chứng tỏ sức sống và vẻ đẹp trường tồn của nó. Vì sao?


Bài thơ được viết vào năm 1964, năm đầu tiên giặc Mỹ đem máy bay đánh phá miền Bắc. Chiến trường miền Nam đang đánh và thắng lớn, kêu gọi lớp lớp thanh niên lên đường vào mặt trận. Những cuộc chia tay, tiễn đưa người lính ra chiến trường diễn ra từng ngày, từng giờ, làm xao xuyến trái tim thi sĩ. Nguyễn Mỹ đã chọn đúng thời điểm này để viết bài thơ, Cuộc chia ly màu đỏ như là một tất yếu khách quan. Ngay từ cái "tít" bài thơ đã khác người, đã làm cho bạn đọc phải sửng sốt. Sao lại "chia ly"? Hai từ này là hai từ tuyệt đối "cấm kỵ" trong thời buổi đó. Chỉ có thể nói tạm biệt, chia tay, chúc chân cứng đá mềm và hẹn ngày gặp lại... chứ sao lại nói "chia ly"?


Vậy mà Nguyễn Mỹ vẫn gan góc viết là "Chia ly". May sao, đó là cuộc "chia ly màu đỏ". Một cuộc chia ly có màu, màu đỏ, vừa là cái giá đỡ, cái khiên che, vừa là một ẩn dụ đầy linh nghiệm.


Nhân vật trữ tình - nhà thơ - ở đây là nhân vật thứ ba, là người quan sát. Nhà thơ cảm thấy, trong cuộc chia ly này, mình phải là kẻ khách quan, là người quan chiêm mới thỏa đáng, và ngầm tuyên bố rằng: Hỡi các bạn, tôi là kẻ đứng ngoài đấy nhé! Bất chợt trưa nay, Trưa một ngày sắp ngả sang đông/ Thu bỗng nắng vàng lên rực rỡ, tôi vô tình lạc bước vào công viên và chợt bắt gặp một cô áo đỏ tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa. Chỉ vừa thoạt nhìn thôi, nhà thơ đã xúc động rồi, và ngay lập tức, nhà thơ định danh cho cuộc chia ly ấy: Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/ tươi như cánh nhạn lai hồng! Rồi, như một ống kính máy quay, cái nhìn của nhà thơ bỗng "Zoom" vào cận cảnh:


Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy


rồi vào đặc tả:


Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời


Và, vì là nhà thơ nên ông có ngay một lời bình về những giọt nước mắt kia, những giọt nước mắt như những hạt ngọc đang "chảy trên bình minh hé giữa làn môi/ Và rạng đông đang hừng trên nét mặt/ Một rạng đông với màu hồng ngọc".


Ống kính máy quay của nhà thơ vẫn hướng theo họ với một cú "lia" toàn cảnh và thấy:


Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình...


Họ ngồi dưới bóng rợp của cây si để nói với nhau chuyện gì thì nhà thơ không biết. Vì vậy, bằng vào cảm xúc của mình, ông tưởng tượng câu chuyện hai người đang nói với nhau và đinh ninh rằng nhất định là họ đang nói tới ngày mai :


Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp


Ống kính lơ đãng chiếu lên vòm cây và thấy "Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si" nhưng "người chồng ấy đã ra đi..." Khi ống kính quay trở lại, người thiếu phụ chỉ còn lại một mình trong vườn hoa và nhà thơ nghe phảng phất đâu đây trong tiếng gió:


Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói, tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau!"


Tới đây, cuốn phim của nhà thơ đã hết. Nhưng là người "quay phim", nhà thơ phải viết tiếp lời bình cho cuốn phim hoàn chỉnh. Và nhà thơ đã bình những hình ảnh kia thấm thía đến tuyệt vời:


Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như (cái) màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng bên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét...
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly!...


Như vậy, bài thơ là một cuốn phim tài liệu (hay phóng sự?) và những lời bình. Cái vẻ tưng tửng khách quan này làm lòng người rướm máu, nhưng cũng làm chợt thức một ý chí kiên cường! Cả bài thơ là một bức tranh theo trường phái ấn tượng, đầy màu sắc, tràn ngập màu sắc, với một gam màu nóng, rực rỡ đến chói gắt. Bạn yêu thơ, bạn hãy tính xem, có bao nhiêu màu sắc trong bài thơ này? Ở phương diện ấy, Nguyễn Mỹ chính là một họa sĩ, họa sĩ của ngôn từ! Tôi mong muốn biết bao, các họa sĩ của chúng ta, hãy vẽ một bức tranh với chủ đề Cuộc chia ly màu đỏ.


Vậy, cái tài tình của bài thơ chính là trong thơ có họa, trong thơ có phim, trong thơ có truyện, và trong thơ là... thơ!


Và Nguyễn Mỹ - với tư cách chiến sĩ - đã lấy máu của chính mình để bảo hiểm cho những dòng thơ ấy.


Hà Nội, 3-2005

Nguồn: Báo Nhân Dân


Viết bởi: Cuti
Ngày viết: 05 Nov 2011 lúc 9:55pm
 

Mẹ ốm

Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan.

Khắp người đau buốt, nóng ran
Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào.

Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay  hương
Cả đời đi gió đi sương
Bây
giờ mẹ lại lần giường tập đi.

Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo.

Vì con, mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
Con mong mẹ khoẻ dần dần
Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say.

Rồi ra đọc sách, cấy cày
Mẹ là đất nước, tháng ngày của con...

                            Trần Đăng Khoa

Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:
“Mọi hôm mẹ thích vui chơi.
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã.  Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu...”.

Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:

“Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

Tác giả - một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.

Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:

“Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm.
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ - em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:

“Cả đời đi gió, đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.
“Cả đời đi gió đi sương”
là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.

Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:

“Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” - một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:

“Vì con mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:

“Con mong mẹ khoẻ dần dần
Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.

Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con - một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”. Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:

“Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.

Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con !

Trần Thị Thành (báo Bắc Giang).



-------------
Ta luôn khiêm tốn nói rằng: Ta là vô đối


Viết bởi: Hangnga
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 12:19am

Ảo ảnh
Đinh Thu Hiền

Tôi đã chôn sao anh cứ hiện về
Nấm mồ ấy không một lần hương khói
Vùi sâu anh trong quãng đời nông nổi
Tôi bồi hồi, tôi bối rối, tôi yêu.
Rômêô cuộc đời có được bao nhiêu
Mà cô gái muốn làm Juliet
Xuân Hương ơi! màu trầu xanh tha thiết
Nhưng tìm hoài không có kẻ ăn chung.
Ảo ảnh mãi thôi, ảo ảnh đến cùng
Mồ anh đó tôi chôn bằng nước mắt
Hồn chìm nổi lênh đênh, hồn phiêu bạt
Để lại về khắc khoải sống trong tôi.
Thiên đường bao la nhặt hết giữa cõi đời
Những ngôi sao làm một trời tinh tú
Ảo ảnh của tôi ơi, hãy bay vào vũ trụ
Thế giới này đâu có chỗ cho anh.

Tình yêu, một tình cảm làm dịu mát tâm hồn con người nhưng cũng làm vỡ vụn bao trái tim của những kẻ tình si. Dù là mật ngọt hay đắng cay, hạnh phúc hay đau khổ, bao đời nay, con người vẫn tự nguyện đến với tình yêu, sống trong tình yêu, hạnh phúc trong tình yêu và rồi đau khổ tột cùng trong tình yêu. Nhưng trong tột cùng nỗi đau ấy, tình yêu vẫn mãi ngự trị trong ta, da diết, nồng say. Ảo ảnh của Đinh Thu Hiền dẫn dắt ta vào bến bờ của một tình yêu da diết, nồng say, vào tận cùng ngõ ngách của một trái tim thổn thức vì yêu.
Niềm yêu chợt ùa về ngút ngàn để rồi buột ra một câu thảng thốt:
Tôi đã chôn sao anh cứ hiện về
Câu thơ mở đầu có hình thức một câu hỏi nhưng dường như nó thực hiện chức năng của cả ba loại câu: câu hỏi tu từ, câu cảm thán và câu cầu khiến. Sao anh cứ mãi hiện về trong tôi, ám ảnh tôi? Tôi không thể nào quên anh! Hãy về với tôi! Chỉ với câu mở đầu, người đọc có thể cảm nhận rất rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình- Tôi- cô gái đang yêu, cố chạy trốn tình yêu nhưng càng chạy trốn lại càng bị buộc chặt trong tình yêu. Chạy trốn tình yêu nhưng thực ra, cô gái đang đối diện với người mình yêu, đối diện tình yêu với đầy đủ cung bậc của nó. Nếu trong Tự khúc, Trần Thị Khánh Hội dùng từ “gom” để thổ lộ lòng mình; tình yêu “làm cạn kiệt trái tim mình” nhưng cô gái vẫn nâng niu, gom giữ nó như một kỉ vật:
Em gom hết nỗi đau suốt cuộc tình vụng dại
Làm cạn kiệt trái tim mình.

thì ở Ảo ảnh, người đọc cảm nhận được tình yêu ấy qua từ “vùi”:
Vùi sâu anh trong quãng đời nông nổi
Tôi thật ngỡ ngàng, thán phục cách dùng từ của Đinh Thu Hiền. Chị đã “bẻ đôi” từ ghép “chôn vùi” để đặt chúng vào hai câu thơ trong cùng một khổ thơ với tư cách là hai từ độc lập, có ý nghĩa mới mẻ, bổ sung ý nghĩa cho nhau tạo nên độ sâu sắc cho khổ thơ. Ở câu thơ thứ nhất (Tôi đã chôn sao anh cứ hiện về), chỉ với từ “chôn” (chứ không phải là “ném” hay “vứt” ...), người đọc đã “đọc thấu” nỗi lòng của nhân vật Tôi, và đây cũng chính là nghịch lí trong tình yêu của người phụ nữ. Trong tận cùng đau khổ, người con gái vẫn không từ bỏ, đoạn tuyệt với tình yêu, cô vẫn chôn dấu, vẫn cất giữ nó- cất giữ một cái vô hình như cất giữ một vật hữu hình. Đến câu thơ thứ ba thì sự gìn giữ, ấp ủ tình yêu của cô gái càng thể hiện rõ nét hơn:
Vùi sâu anh trong quãng đời nông nổi
Tôi bồi hồi, tôi bối rối, tôi yêu

Khó mà lường hết được sự kết hợp táo bạo, bất ngờ của Đinh Thu Hiền ở từ “vùi” trong câu thơ này. Đó là sự kết hợp giữa cái hữu hình (Anh) với cái vô hình (quãng đời). “Vùi” anh trong quãng đời “nông nổi” của em để quên anh hay đó là sự ấp ủ, níu giữ khó mà tháo gở của một trái tim đã trót yêu say đắm? Tình yêu của cô gái sao mà róng riết, mà đam mê đến vậy. Một lần nữa, tôi muốn ca ngợi chị- Đinh Thu Hiền- bởi cái tài dùng từ của chị. Chị không hề non tay khi dùng liên tiếp ba động từ chỉ trạng thái tâm lí (bồi hồi, bối rối, yêu) trong một dòng thơ mà không hề có sự dẫm đạp; trái lại, mỗi động từ nói được đầy đủ, sâu sắc trạng thái tình cảm của nhân vật Tôi- cô gái đã yêu, đang yêu và đang đau khổ tột cùng bởi tình yêu:
Tôi bồi hồi, tôi bối rối, tôi yêu
Ba kết cấu C-V tối giản được đặt trong một dòng thơ 8 âm tiết với cách ngắt nhịp 3/3/2 như nhịp đập của một con tim đang thổn thức trong một niềm yêu tha thiết. Chẳng dễ dàng gì khi quên một mối tình, dẫu đó chỉ là một mối tình đơn phương. Hàn Mặc Tử cùng đã từng thốt lên một cách đau đớn:
Trời hỡi làm sao khi khát đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phủ phàng?

Nhân vật xưng Tôi trong Ảo ảnh cũng thế, chạy trốn, bứt phá nhưng tình yêu luôn ngự trị trong cô, đau đớn nhưng ngọt ngào bởi vốn dĩ tình yêu là thế. Chẳng thế mà ở khổ thơ thứ nhất của bài thơ 8 âm tiết, Đinh Thu Hiền đã dùng cách ngắt nhịp thật đều đặn (3/5; 3/5; 3/5; 3/3/2) tạo một cảm giác nhịp nhàng, sâu lắng nhưng chính vì vậy mà nó làm nhói đau biết bao trái tim những người đồng cảm. Cảm giác ấy cứ lan toả trong mỗi khổ thơ cho đến hết bài thơ, quên- nhớ, yêu thương- căm hận, hạnh phúc- đau khổ... như một nghịch lí trong tình yêu.
Mọi lối thoát cũng như sự kiếm tìm nhiều khi không phải là ý muốn chủ quan. Chiêm nghiệm với nỗi đau, trực diện với chính mình, cô gái có trái tim biết yêu đã tự vấn nhưng cũng để khẳng định thêm một lần nữa tình yêu của cô dành cho anh:
Rômêô đời có được bao nhiêu
Mà cô gái muốn làm Juliet

Cô gái không có được cái hạnh phúc được yêu và được chết vì người mình yêu như nàng Juliet, nhưng trớ trêu thay, cô lại là một Juliet. Nỗi xót xa của cô gái chính là chỗ đó. Cuộc đời này vẫn không có Rômêô dành cho Juliet, “màu trầu xanh tha thiết” vẫn mãi không có người để trao tay! Phải chăng cái éo le trong tình trường của Xuân Hương là duyên cớ để nhân vật trữ tình thổ lộ tâm tư? Và phải chăng đây cũng chính là điểm mấu chốt của cái nghịch lí trong tình yêu? Càng không có được tình yêu lại càng yêu da diết, càng cố lãng quên lại càng nhớ cồn cào, càng yêu mãnh liệt. Thế mới là tình yêu, nó vốn không nửa vời, không chia sẻ và bao giờ cũng đến tận cùng sâu thẳm. Nhân vật trữ tình trong Ảo ảnh của Đinh Thu Hiền đã có một tình yêu như thế.
Mạch thơ sâu lắng, nhẹ nhàng nhưng xót xa, bứt phá bởi cái nghịch lí của tình yêu- mạch ý ngầm xuyên suốt cả bài thơ:
Ảo ảnh mãi thôi, ảo ảnh đến cùng
Mồ anh đó tôi chôn bằng nước mắt
Hồn chìm nổi, lênh đênh hồn phiêu bạt
Để lại về khắc khoải sống trong tôi.

Hơn ai hết, cô gái nhận ra Anh là một ảo ảnh, tình yêu của cô cũng chỉ là một ảo ảnh (tình yêu vô vọng) nhưng cho dù “ ảo ảnh đến cùng”, anh vẫn luôn hiện hữu trong cô thật rõ nét.
Tình yêu của nữ giới là thế. Đã yêu, yêu đến tận cùng dù nỗi đau vì tình yêu như thể nghiền nát họ vậy. Cũng như trong tận cùng tuyệt vọng, nhân vật trữ tình của bài thơ vẫn “khắc khoải” yêu. Một lần nữa, sự lựa chọn của Đinh Thu Hiền lại đem đến cho tôi một bất ngờ bởi một loạt tính từ xuất hiện trong hai dòng thơ:
Hồn chìm nổi, lênh đênh hồn phiêu bạt
Để lại về khắc khoải sống trong tôi.

Đặt ba tính từ “chìm nổi, lênh đênh, phiêu bạt” cạnh nhau trong một dòng thơ, chị đã bắt các nét nghĩa khác nhau trong ba từ gần nghĩa này phát huy hết khả năng chuyển tải ý nghĩa của nó, để rồi dồn nén lại trong từ “khắc khoải” ở dòng thơ tiếp theo. Người đọc một lần nữa cảm nhận một cách sâu sắc nỗi đau của nhân vật trữ tình.
Dòng thơ cứ chảy miên man trong dòng hoài niệm của một con tim đang thổn thức vì yêu, trong niềm hạnh phúc lẫn khổ đau của một Ảo ảnh. Anh, một con người bằng xương bằng thịt nhưng như một ảo ảnh trong Tôi. Cơ hồ bóng hình Anh chưa lúc nào vụt khỏi tâm tưởng Tôi. Nếu ở câu đầu của bài thơ, Đinh Thu Hiền dùng từ “cứ” (cứ hiện về) thì đến câu cuối khổ 3, chị lại dùng từ “lại” (lại về) như khẳng định một lần nữa tình yêu và nghịch lí trong tình yêu.
Dẫu đã gấp thơ lại, đã cố gắng quên nhưng tình yêu của nhân vật trữ tình trong Ảo ảnh của Đinh Thu Hiền cứ mãi ám ảnh tôi. Tình yêu của người phụ nữ sao mà róng riết, mà đam mê đến vậy. Thượng đế đã cho người phụ nữ làm Êva sao không ban cho họ một Ađam hiểu thấu tâm tình họ, tâm tình của một người “Biết yêu anh cả khi chết đi rồi” (Xuân Quỳnh). Đinh Thu Hiền đã khiến tôi thao thức mãi khôn nguôi, liệu những mối tình “lệch nhịp” như thế có đeo đẳng họ suốt cuộc đời để
Em ngồi giặt áo giữa trưa
Rát bàn tay vẫn vò chưa sạch lòng



Viết bởi: Hangnga
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 12:24am
Hương thầm
(Phan Thị Thanh Nhàn)
Cửa sổ hai nhà cuối phố
Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ
Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Bên ấy có người ngày mai đi xa
Họ ngồi im chẳng biết nói chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói!
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh chẳng dám xin, cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm, thanh tao
Không giấu được cứ bay dịu nhẹ
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thầm nói hộ tình yêu
Anh vô tình, anh chẳng biết điều!
Tôi đã đến với anh rồi đấy…
Và theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường hương sẽ theo đi khắp
Họ chia tay, vẫn chẳng nói điều chi
Mà hương thầm theo mãi bước người đi.
 

Cảm nhận bài thơ "HƯƠNG THẦM" của Phan Thị Thanh Nhàn!

Tình yêu là điều kì diệu mà thượng đế ban tặng con người. Tình yêu giúp ta có thêm nghị lực để sống, để phấn đấu vươn lên mà giành lấy hạnh phúc đích thực của cuộc sống. Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho rằng:"Tình yêu mật ngọt,mật ngọt trên môi"(Lặng lẽ nơi này). Thật vậy,tình yêu là một thứ mật ngọt mang đến cho mỗi con người những dư vị đắm say. Nhưng để có được cái mật ngọt đầy chất đam mê ấy, chúng ta phải biết vươn lên và chạm tay vào nó, vì nó luôn cao xa tầm với của con người. Một mối tình đẹp được khắc họa rất rõ nét trong bài thơ HƯƠNG THẦM của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn.
Câu chuyện tình yêu đã bước vào bài thơ với xuất phát điểm là khung cửa sổ của hai ngôi nhà cuối phố:
Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ
Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa.

Trời có lúc mưa lúc nắng, nhưng dù ngày nắng hay mưa thì hai khung cửa ấy chẳng bao giờ khép lại. Họ không chỉ là hàng xóm với nhau mà còn là đôi bạn một thời học cùng một trường, một lớp...Có thể vì mối quan hệ như thế mà khung cửa sổ của họ không bao giờ khép lại chăng? Tình tiết của câu chuyện phát triển khi cô gái sang nhà hàng xóm:
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay,
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm,
Bên ấy có người ngày mai ra trận...

Mượn một chùm hoa bưởi đang ngát hương sau nhà, cô gái giấu vội trong chiếc khăn tay hãy còn e thẹn màu thiếu nữ và từng bước chân ngập ngừng, nàng sang nhà hàng xóm để chia tay một người. Một người đã từng ngồi chung một lớp học với nàng. Ngày mai cả hai không còn gặp nhau nữa vì người con trai ấy lên đường ra chiến trận, sẽ có biết bao điều để nói với nhau. Khung cảnh của buổi chia tay diễn ra thật thầm lặng, thầm lặng vì họ chẳng nói gì với nhau.
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi,
Nào ai đã một lần dám nói
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin
Cô gái chẳng dám trao.

Họ im lặng mặc cho kim thời gian cứ lơ đãng quay. Cái sự im lặng đến cháy lòng ấy, mấy ai từng yêu mới hiểu hết về nó. Sự vụng về, ngượng ngập của tình yêu đầu đã không thể bật lên một lời nói, dù là một lời rất khẽ. Để những ánh nhìn càng thêm bối rối,bối rối nhìn rồi lại bối rối quay đi.Bối rối cả hương bưởi ngạt ngào! Nhành hoa bưởi đã hái rồi mà cô gái chẳng dám trao. Nàng không trao vì gai bưởi vướng vào chiếc khăn tay xinh xắn, hay sự lỗi nhịp của trái tim lần đầu rung động?Chẳng biết! Ta chẳng biết, và chàng trai cũng chẳng biết nên không dám xin.
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không giấu được cứ bay dịu nhẹ
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.

Kẻ muốn trao, người muốn nhận nhưng ngượng ngùng cất giấu, chỉ hoa bưởi vô tình chẳng giấu được mùi hương - một mùi hương "đầm ấm thanh tao" - len cả vào trong trái tim của hai con người đang bắt đầu yêu, khiến họ càng thêm bối rối: hương bưởi hay hương tình đầu đang ngạt ngào lan tỏa? Khung cảnh hoàn toàn yên ắng, chỉ có hoa bưởi dịu dàng, như chứng nhân cho một tình yêu không lời, nói hộ dùm tình yêu của một con người và cả những lời giận hờn trách móc vu vơ:
(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Em đã đến với anh rồi đấy...)

Trong cuộc đời này, có những khoảnh khắc mang ý nghĩa vĩnh cửu của thời gian. Có những khoảng trống lấp đầy bao chật hẹp và cũng có những điều im lặng lại cất lên được bao lời. Hương bưởi tưởng như vô tình nhưng đã nói hộ cô gái rất nhiều ý nghĩ. Trong chút nồng nàn của hương bưởi ấy, chàng trai đã nhận ra được tình yêu của nàng:
Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường
hương sẽ theo đi khắp.

Thế là họ chia tay nhau. Lặng lẽ gặp và lặng lẽ chia tay!Chỉ có tình yêu còn ở lại, mãi mãi trong sâu thẳm trái tim của người ra đi và người ở lại:
Họ chia tay
vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

Đó là kết thúc của một lẩn gặp gỡ, nhưng dư âm còn vang vọng mãi và sẽ là ngọn nguồn cho một tình yêu lớn. Chàng trai lên đường chiến đấu, cô gái ở lại quê nhà. Rồi tình yêu của họ sẽ là tình yêu giữa tiền tuyến và hậu phương, một tình yêu đẹp, ẩn chứa bên trong biết bao nghĩa cử cao quí của đức hi sinh thầm lặng. Thầm lặng, lặng thầm, nguyên vẹn như thuở ban đầu e ấp, thẹn thùng.
Điều làm cúng ta xúc động trong bài thơ này là hình tượng người con gái khi yêu giữa thời chiến. Họ thật sự mạnh mẽ!Họ lên tiếng trước để bộc bạch những cảm xúc đang ấp ủ trong lòng. Tuy không trực tiếp nói ra nhưng cô là người chủ động sang nhà chàng hàng xóm với một cành hoa bưởi - như một biểu tượng tình yêu của nàng - để tiễn một người ra đi.
Một bài thơ hay với tứ thơ dịu dàng, thi từ dễ thương miêu tả sự thuần khiết của tình yêu đôi lứa...là những ấn tượng khó phai trong HƯƠNG THẦM. Và điều này cũng tạo nên nét duyên của bài thơ, cứ lặng thầm mà đi vào lòng của bao thế hệ người đọc.

Phùng Thanh Lài



Viết bởi: Hangnga
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 12:27am

Lạc anh
Nguyễn Thị Mai


Phố xuân lạc mất anh rồi
Tự nhiên đứng lại giữa trời, một em
Dặn rồi!
Thành thị đông chen
Ngã năm ngã bảy rối ren nẻo đường
Dặn rồi!
Xuân lắm sắc hương
Thoáng theo tà áo… là vương mất người
Dặn rồi!
Xểnh mấy phút thôi
Mà anh biến hút chân trời bóng chim…
Em về
Buồn giữa lặng im
Mặc gương chiếu hậu dõi tìm bóng anh.

-------------------------------------------------------------------------------

Bài thơ "Lạc anh" ngắn, chỉ gồm 5 câu lục bát, ghi lại nỗi buồn tiếc của người phụ nữ khi để lạc mất người thương. Không dềnh dàng kể lể, Nguyễn Thị Mai đi thẳng vào cái không gian để lạc mất anh:

Phố xuân lạc mất anh rồi
Tự nhiên đứng lại giữa trời, một em.


Bài thơ mô tả trạng thái bơ vơ, trơ trọi của người “đi hai về một”, hình ảnh một mình em “đứng lại giữa trời” hé mở cho ta thấy, dường như đây không còn là chuyện lạc nhau bình thường.
Ba câu lục bát kế tiếp mở đầu bằng hai chữ “dặn rồi” đứng thành một dòng riêng, láy đi láy lại như còn muốn nói tiếp với dấu chấm lửng (…) phía sau để nói rằng, em đâu phải là người vô tâm, không biết lường tính mọi khả năng có thể xảy ra.
Em đi cùng anh trên con đường cụ thể, nhưng cũng là trên đường đời vậy. Có ngàn vạn lý do để “lạc” nhau...

Dặn rồi!
Thành thị đông chen
Ngã năm ngã bảy rối ren nẻo đường
Dặn rồi!
Xuân lắm sắc hương
Thoáng theo tà áo… là vương mất người

Chốn phồn hoa đô hội với bao nhiêu là cám dỗ phiền hà rất có thể khiến anh lạc bước, nên em phải dặn.
Nhưng lạc bước còn có thể quay về chứ lạc hồn là mất người, mất hẳn. Hình ảnh ẩn dụ “Theo tà áo…vương mất người” thoáng chút hóm hỉnh, bao dung khiến cánh mày râu phải chột dạ.
“Dặn rồi”, dặn đến năm lần bảy lượt, mà nào có được. Chỉ “xểnh” mấy phút thôi, sơ ý, lơ đễnh một chút thôi mà em đã để lạc mất anh, khiến anh “mất hút chân trời bóng chim”. Đến đây đã thật rõ ràng: Không phải chuyện lạc nhau bình thường, mà là anh đã cố tình biến mất khỏi em, như bóng chim tăm cá biết đâu mà tìm. Bao nhiêu lời dặn đổ xuống sông xuống biển.
Sự mất mát nào mà chẳng đem lại nỗi buồn. Buồn trước sự đổi thay của người mình yêu thương. Nhưng ở đây, trong trạng thái “buồn giữa lặng im” của người con gái như có cả niềm xót xa tiếc nuối... thế cho nên câu cuối cùng của bài thơ “Mặc gương chiếu hậu dõi tìm bóng anh” vô lý mà có lý. Cái gương vô tri vô giác kia đâu có biết chủ nhân của nó tuy nói rằng mặc nó chiếu vào dòng đời, rằng nó có phản chiếu bất kỳ gương mặt nào đi chăng nữa thì chị cũng không quan tâm… nhưng thực ra lòng chị vẫn đau đáu mong chờ gương mặt anh xuất hiện.
Bài thơ hàm súc ngôn ngữ chắt lọc, uyển chuyển, hàm nghĩa sâu xa; tình cảm đằm thắm, ý nhị khiến ta đọc một lần rồi nhớ mãi.



Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 6:23am

KHOẢNG CÁCH


Những song cửa sổ màu xanh
Chia bầu trời thành nhiều khoảng
Năm tháng
Để giữa chúng mình có một khoảng thôi
Mà sao xa đến vút vời
Cái khoảng cách khi tình yêu không còn nữa
Em bết lắm
Với Anh, Em không còn một nửa
Không là sân ga cho bến đỗ cuộc đời

Ừ thì phôi pha
Cứ thanh thản đi anh
Có hề gì ngại ngần mà mỗi lần gặp lại
Để Em phải cười
Phải ngụy trang mình mãi

Xin anh
Biển đã yên lặng
Đừng gọi sóng về

Những song cửa sổ màu xanh
Phan Khánh Thi

Đây là một bài thơ nói về kỷ niệm của tình yêu tuy nhiên tình yêu trong bài thơ này được gợi nhớ rất lạ
" Những song cửa sổ màu xanh
Chia bầu trời thành nhiều khoảng
Năm tháng
Để giữa chúng mình có một khoảng thôi
Mà sao xa đến vút vời
Cái khoảng cách khi tình yêu không còn nữa"
trong đôi mắt của người đang yêu, sự gợi nhớ kỉ niệm bắt đầu từ song cửa màu xanh vô trị, ở đây người đang yêu không nhìn sự vật bằng đôi mắt thật mà bằng sự nhật cảm của mình chính vì thế có sự so sánh liên tưởng độc đáo : những song cửa sổ vô tình chia bầu trời thành nhiều khoảng, đồng thời cũng là vật cản để 2 người không đến được với nhau, cái khoảng cách ấy tưởng chừng như ngắn 1 gang thôi ấy vậy mà xa đến vút vời, điều đơn giản tạo ra khoảng cách ấy là tình yêu không còn nữa, nhưng khi đọc những câu thơ ấy ta lại thấy như một lời trách cứ, một sự hụt hẫng đau đớn khi phải đối diện với sự thật
Em biết lắm
Với Anh, Em không là một nửa
Không là sân ga cho bến đỗ cuộc đời
Rõ ràng người con gái đã kỳ vọng bao nhiêu vào tình yêu của mình, đã nhớ về những kỷ niệm đẹp ngày xưa. Quá khứ và hiện tại trong ý thức của người con gái bị chia cắt bởi " không " đúng hơn là chữ mất bởi cô từng có người đàn ông của riêng mình, mình yêu, có nhiều suy nghĩ về hạnh phúc về đoạn kết cho tình yêu của mình
Những câu thơ đau đáu niềm hạnh phúc bị tan vỡ, bõng được chuyển một cách một cách đột ngột, lạnh lùng
Ừ thì phôi phai
Cứ thanh thản đi anh
Có hề gì mà ngại ngần mỗi lần gặp lại
Để Em phải cười
Phải ngụy trang mình mãi
Phải có sự vị tha thì mới nói được những lời như thế. Ai cũng hình dung được tình yêu của người con gái không đơn giản là sự không có, mất còn mà là sự phản bội. Sự phản bội làm cho người đàn ông trở nên hèn nhát, tầm thường, trở nên nhỏ bé khi đối diện với người con gái luôn xem trọng tình yêu của mình. Và cũng để cho người ta được thanh thản, nhẹ nhàng người con gái luôn phải tỏ ra bình thường mặc dù ẩn đằng sau nét mặt cử chỉ ấy là cơn bão tố của tâm hồn
Ta thấy người đàn ông đang bị cắn rứt, giày xéo khi nhận ra lỗi lầm cảu mình, còn người con giá luôn tâm niệm là chuyện đã qua là kỷ niệm mặc dù đoạn kết không được như mong muốn
Xin Anh
Biển đã lặng yên
Đừng gọi sóng về
Những đau đớn mất còn rồi sẽ được thời gian chữa lành, hãy để những gì đã qua là kỉ niệm đẹp, cũng như em nhìn bầu trời kia qua cửa sổ là màu xanh chứ không phải là u ám
Bài thơ chứa đựng một cái nhìn sâu lắng về tình yêu tan vỡ, nhưng rất vị tha của người con gái


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 6:25am
Buổi trưa không ngủ lại tặng mọi người bài thơ tiếp , bài này em rất thích, có người đàn ông nào đủ sự nhẹ nhàng và tinh tế, bao dung như nhận vật trong thơ không nhỉ?

KHÚC RU CHIỀU


Em đừng buồn những lúc chiều đi
Đừng như lá dỗi hờn chao chát rụng
Đừng ngơ ngác, hoang mang như nắng
Vẫn còn anh phía cuối con đường
Anh chẳng dám mong mình như đại dương
Của ngày xưa em dào dạt sóng
Nhưng dẫu khiêm nhường anh xin làm muối trắng
Cho mặn mòi lại giấc mơ em

Đàm Huy Đông


Bài thơ này còn 4 câu thơ nữa nhưng vì không thích em đã bỏ qua. Mở đầu bài thơ toàn những lời an ủi nếu không có câu thơ thứ 4 thì em " người con gái " trong thơ cũng chưa dám tin " Vẫn còn anh phía cuối con đường " chính câu khẳng định này đã tạo ra sự tin cậy cho " Em" nhất là khi " Anh " đã dùng mệnh lệnh thức hơi nhiều mà "Em " thì còn " ngơ ngác hoang mang như nắng " . Chắc có người sẽ thắc mắc " nắng mà cũng hoang mang ư ?" Vâng bởi vì nắng cũng đã từng yêu, từng thất tình .Nhưng khi anh nói " Vẫn còn anh phía cuối con đường " thì '' Em " phải tin thôi dẫu em chưa hẳn đã " cùng đường " .
Những câu thơ tiếp theo cho thấy " Em " giờ đây không phải là mối tình đầu . Em đã từng " dào dạt sóng " ở biển tình nào trước đó nhưng có lẽ biển đã mất hay cạn hay chết mất rồi . Em có thể tin vào Anh được chứ vì Anh rất khiêm nhường
" Anh chẳng dám mong mình như đại dương "
Anh không ví mình với cái gì đó to tác, ấn tượng hơn với Em mà Anh chỉ xin " làm muối trắng " một thứ thật bình thường , hạt muối trắng thật thà " Cho mặn mòi lại giấc mơ Em " . Chắc Anh phải yêu Em nhiều lắm nên mới thối lên được lời đó mà không cảm thấy lòng mình như muối xát .
Khúc ru chiều nghe êm ái như vậy nhưng thực ra trong lòng người ru có ngổn ngang trăm mối ? . Một tình yêu không đơn giản . Những câu thơ không phơi phới dễ dãi. Điều này liệu có được Em đón nhận đầy đủ....?


-------------


Viết bởi: Hoangtube
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 6:34am

THÊM MỘT

( Trần Hòa Bình)

                                 Thêm một chiếc lá rụng

                                  Thế là thành mùa thu

                                   Thêm một tiếng chim gù

                                    Thành ban mai tinh khiết

                                               Dĩ nhiên là tôi biết

                                                      Thêm một - lắm điều hay

                                                            Nhưng mà tôi cũng biết

                                                                 Thêm một phiền toái thay

                                   Thêm một lời dại dột  

                                                 Tức thì em bỏ đi

                                                  Nhưng thêm chút lầm lì

                                                  Thế nào em cũng khóc

                                                                Thêm một người thứ ba

                                                                        Chuyện tình đâm dang dở

                                                                                Cứ thêm một lời hứa

                                                                                        Lại một lần khả nghi

                                                Nhận thêm một thiệp cưới

                                                Thấy mình lẻ loi hơn

                                                Thêm một đêm trăng tròn

                                                Lại thấy mình đang khuyết

                                                                Dĩ nhiên là tôi biết

                                                                      Thêm một lắm điều hay.

Trần Hòa Bình - Một chiếc lá còn xanh nhựa sống đã sớm rụng về cội để lại cho bao người một nỗi thương nhớ khôn nguôi. Anh mất vì bị tai biến khi mới 53 tuổi. Trần Hòa Bình là một người đa tài ở nhiều phương diện: Làm thơ, viết truyện, vẽ tranh, viết báo, giảng dạy. Riêng về thơ người ta vẫn thường gắn liền tên anh với bài thơ Thêm một. Bài thơ được viết năm 1985 khi Trần Hòa Bình còn là giảng viên ở trường Đại học Sư phạm II Xuân Hòa. Bài thơ được khởi nguồn bởi chiếc lá vàng rơi chạm đúng vào đầu khi anh đang đi. Tâm hồn thơ nhạy cảm được chiếc lá vàng đánh thức sớm nhận ra mùa thu đã đến với bầu trơì cao xanh vời vợi, gió nắng xôn xao...ý thơ tự nhiên xuất hiện dung dị như một lời nhận xét: Thêm một chiếc lá rụng - Thế là thành muà thu.

Từ một hiện tượng ngẫu nhiên bắt gặp anh mở rộng trường liên tưởng : Thêm một tiếng chim gù - Thành ban mai tinh khiết. Câu thơ đầy ắp âm thanh, tràn ngập ánh sáng tinh khôi của sự sống...

Hai câu thơ mở ra cả một trường liên tưởng rộng lớn cho người đọc với bao điều thêm một khác nữa thật thú vị... để rồi anh tự kết: Dĩ nhiên là tôi biết - Thêm một lắm điều hay. Có thắm thì có phai, có nở thì có tàn, như ánh sáng thường đi liền với bóng tối... quy luật tạo hóa, quy luật cuộc đời là thế nên cũng chẳng là quá bất ngờ khi nhà thơ chuyển ý: Nhưng mà tôi cũng biết - Thêm một phiền toái thay và như để minh chứng nhà thơ đưa ra một loạt hiện tượng trong cuộc sống vừa mang tính chất riêng tư vừa chạm được tới muôn điệu tâm hồn vì vậy mang tầm khái quát, phổ biến sâu sắc: Thêm một lời dại dột - Tức thì em bỏ đi - Nhưng thêm chút lầm lì - Thế nào em cũng khóc - Thêm một người thứ ba - Chuyện tình đâm dang dở - Cứ thêm một lời hứa - Lại một lần khả nghi- Nhận thêm một thiệp cưới - Thấy mình lẻ loi hơn- Thêm một đêm trăng tròn- Laị thấy mình đang khuyết

Thung thăng và triền miên với những thêm một, nhà thơ đã "bê" cả sự sống với muôn vạn sắc mầu, với muôn nghìn biến thái vào trong những ngôn từ " Dĩ tự nhiên chi vi mỹ" (ngôn từ đẹp một vẻ tự nhiên), người ta thấy đủ cả: Hay, dở, yêu thương, giận hờn, dang dở, nghi ngờ, hạnh phúc, cô đơn, tròn đầy, thiếu khuyết và viên mãn.

Những câu thơ như một lời chiêm nghiệm chân thành từ cuộc sống với sự cảm nhận tinh tế, cách diễn đạt giản dị mà hàm súc mang tầm khái quát đã khẳng định tài thơ của Trần Hòa Bình.

Bài thơ kết nhưng ý thơ không hết: Dĩ nhiên là tôi biết - Thêm một lắm điều hay.

                  Ph.L



-------------


Viết bởi: phong tran
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 9:59pm

Kh«ng bao giê qu¸ muén ®Ó häc vµ ®Ó yªu.

Con đường

Nếu anh đi với người yêu
Chỉ mong anh nhớ một điều nhỏ thôi
Con đường ta đã dạo chơi
Xin đừng đi với một người khác em.
Hàng cây này đã lớn lên
Vươn cành để lá êm đềm chạm nhau .
Hai ta ai biết vì đâu
Hai con đường đó xa nhau, xa hoài.

Nếu cùng người mới dạo chơi
Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu.

Đoàn Thị Lam Luyến, đã công khai nói cái hạnh phúc mà như là nhận lại từ một người đàn bà khác. Đó là một điều chua chát ch
ǎng? Chưa hẳn thế... Trong cái muộn mằn "Cái giần vục phải cái sàng. Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau". "Nhặt lại" hạnh phúc, nhưng là hạnh phúc thật! Cho nên:

Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhận bã tràu về têm...

(Chồng chị, chồng em)

Nói là vậy thôi, cứng cáp vậy, nhưng từ ngoài bài thơ, hình như cũng có một nỗi buồn, một sa sót. Có khi là tình yêu một phía. Biết là người tình không đến, nhưng vẫn cứ chờ, vẫn khắc khoải, vẫn yêu, không thể nào khác được.



Viết bởi: Hangnga
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 11:14pm
Để Gió Cuốn Đi
Trịnh Công Sơn

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không
Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi

Gió cuốn đi cho mây qua dòng sông
Ngày vừa lên hay đêm xuống mênh mông
Ôi trái tim đang bay theo thời gian
Làm chiếc bóng đi rao lời dối gian

Những khi chiều tới cần có một tiếng cười
Để ngậm ngùi theo lá bay
Rồi nước cuốn trôi, rồi nước cuốn trôi

Hãy nghiêng đời xuống nhìn hết một mối tình
Chỉ lặng nhìn không nói năng
Để buốt trái tim, để buốt trái tim

Trong trái tim con chim đau nằm yên
Ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu
Một sớm mai chim bay đi triền miên
Và tiếng hót vang trong trời gió lên

Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người
Còn cuộc đời ta cứ vui
Dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai
 
Hãy yêu, dù cho gió sẽ cuốn đi tất cả

“Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không ?
Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi...”


Ai trong chúng ta cũng đều có một tấm lòng, một tấm lòng nhân hậu thật sự. Bạn rơi nước mắt khi thấy các hoàn cảnh bất hạnh. Tôi nhoi nhói nơi tim lúc chứng kiến những tai nạn thương tâm. Và chúng ta, luôn ghi nhớ lời dạy của cô thầy năm xưa: “ở hiền thì sẽ gặp lành nghe con”, cố gắng đem lại niềm vui, hạnh phúc cho cộng đồng chung quanh mình. Rồi đêm về, nằm hân hoan, một sự hân hoan thầm kín trong tâm hồn, hân hoan vì đã và đang làm việc tốt.


Nhưng đó là giai đoạn đầu đời. Càng bước sâu vào cuộc sống, tôi càng cảm thấy lung lay ý nguyện “người tốt việc tốt” hôm nào. Sự giả tạo, phản bội, sụp đổ cứ lấn lướt ngày qua ngày, đập tan, ném vỡ cụm từ “ở hiền gặp lành” trong tôi. Tôi không tin có vế sau, quả thật không tin...
Và, phản ứng theo bản năng của một đứa trẻ người non dạ, yếu kém tinh thần, tôi “xù lông” phản ứng gay gắt với tất cả. Đôi mắt tôi giờ đây chỉ thấy sự ám hại và mỉa mai. Tôi dè chừng, hơn thua trong mọi việc. Một vỏ bọc cứng cáp, trải đời, nhưng bên trong chắc gì không phải là một sự yếu đuối?


Thêm tuổi, đọc thêm sách, được thêm nhiều lời dạy dỗ, tôi lờ mờ nhận ra rằng hình như ranh giới giữa đúng-sai, trắng-đen quá hư ảo? Những gì tôi làm trong quá khứ chưa chắc đã là tốt cho người xung quanh. Những gì tôi nhận được cũng không hẳn là xấu. Tôi rơi nước mắt, thương xót cho nhận thức của mình. Một nhận thức bị suy dinh dưỡng trầm trọng, một nhận thức bị căn bệnh “tiêu cực” ngặt nghèo làm chậm phát triển...


Tôi vốn ít nghe nhạc Trịnh. Là kẻ hậu bối, tôi chỉ biết và ngưỡng mộ cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những trang viết về ông, qua những câu chuyện, những giai thoại của người trong cuộc kể về người đã khuất. Nhưng tôi đặc biệt thích ca khúc Để gió cuốn đi. Tôi nghe để an ủi lòng mình: hãy sống thật “người”, sống như ngày mai ta và họ không còn nữa...


Giữ vững được nhân cách trong cuộc sống thực tế không bao giờ dễ dàng. Khi cao hứng, tôi có thể ghi ra đây những dòng đầy tính nhân văn. Nhưng, biết đâu ngay hôm sau, vì đấu tranh quyền lợi-công danh, tôi lại thực hiện ngay những việc làm mình vừa chỉ trích hôm qua?...


Tôi mừng vì mình đang sống trong thời đại số hóa, có thể mua một chiếc máy nghe nhạc nhỏ gọn, lưu vào bài hát yêu thích. Và sau đó? Những khi cần sẽ hòa mình vào từng lời ca da diết

“...hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người, còn cuộc đời ta cứ vui...”.

Hãy yêu, dù cho gió sẽ cuốn đi tất cả.


Viết bởi: Hoami
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 11:27pm
Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

(Phù Lưu Chanh, 1948)
 
Nét hào hoa của thanh niên Thủ đô trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
 
Chiến tranh đã qua đi nhưng âm vang của nó vẫn còn vang vọng trong mỗi chúng ta. Nói đến chiến tranh là nói tới khói, tới đạn bom, tới những chàng trai trẻ lên đường theo theo tiếng gọi của tiền tuyến. giữa khói lửa của chiến tranh họ vẫn không một chút bi quan thất vọng mà ngược lại họ luôn tin vào tương lai ngày mai sẽ tốt đẹp hơn.

Trong gian khổ của đạn bom giữa trận mạc, khi mà cái sống và cái chết luôn cận kề thì tâm hồn của những chàng trai thật rễ mến vần mở về những người con gái nới quê nhà.

" Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm"

phải chăng ngoài tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đồng bào, thì những cô gái duyên dáng của Hà thành luôn là động lực để họ sống và chiến đấu quên mình.
Khó khăn gian lao là vậy, giữa những đèo rốc ngợp trời của núi rừng tây Bắc cũng không làm nản lòng các anh

"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống"

Những gian khổ ấy đâu có khuất phục được trái tim các anh hướng về Hà Nội - Thủ đô thân yêu, nơi ấy luôn có tình cảm cảu gia đình, bạn bè và đặc biệt là tình yêu của các cô gái mà mới ngày nào khi tiễn các anh lên đường còn rụt rè xấy hổ.

"Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"

Có thể nói rằng "dáng kiều thơm" ở đây có thể là người yêu của họ nhưng cũng có thể chỉ là những cô gái học cùng lớp hay bất cứ cô gái nào mà họ cảm mến, yêu quý mà trước khi lên đường chưa dám nói ra.
Trong thời gian ấy họ vẫn có những giây phút giao lưu với những người dân địa phương


Viết bởi: Hoami
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 11:30pm
XA LẮC MÙA THU
Thơ Trương Nam Hương

Em không đến trường mùa thu năm ấy nữa
Em không đến trường cả mùa thu năm sau
Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa
Theo mùa thu tiếc nuối chảy qua cầu

Tháng năm buồn ghềnh thác vực sâu
Câu thơ chở chòng chành tiếng khóc
Tôi uống cạn dòng sông trong vốc tay ký ức
Nghe mùa thu xa lắc ngấm vô lòng

Biết em còn đến lớp với tôi không
Lo phấp phổng tháng ngày trôi vội vã
Nắng ký thác đời mình trên sắc lá
Mới hiểu mùa thu đánh tráo tuổi xanh rồi

Tôi quá tuổi học trò từ đấy em ơi
Chiều nay trước cổng trường rươm rướm nước mắt
Chưa kịp nhặt mùa thu vừa chạm đất
Con gái tôi tan lớp giục tôi về.



Đây là bài thơ đầu tiên đưa tôi đến với Trương Nam Hương. Và như một sự đồng cảm có trước, tôi mê tít. Mê luôn cả cái bút danh Trương Nam Hương ký dưới mỗi bài thơ mà tôi đọc được sau đó. Trương Nam Hương trở thành một “thi hiệu” riêng khó lẫn.

Tôi mê Trương Nam Hương bởi cái giọng thơ tự nhiên như không mà ám ảnh, sâu sắc và đặc biệt là ngôn từ tuyệt đẹp. Đã là thơ thì trước hết phải đẹp. Và bài thơ đầu tiên mà tôi đọc được của thi sĩ họ Trương cũng là một thi phẩm đẹp. “Xa lắc mùa thu” đẹp từ ngoài vào trong.

Dường như quay trở về quá khứ giữa muôn vàn thực tại là một mô típ quen thuộc khi đọc Trương Nam Hương. Phải chăng, ký ức của nhà thơ in hằn một mối tình tuyệt đẹp. Đẹp đến nỗi nó cứ hằn lên, nhức nhối và ám ảnh mỗi khi nhà thơ đặt bút. Thế cho nên mới có những “Sau lưng mùa hạ cũ”, “Trở lại”, “Xa lắc mùa thu”… đầy ám ảnh và day dứt.

Thế Lữ từng nêu một chân lý trong tình yêu, rằng:
“Đời mất vui khi đã vẹn câu thề
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”
Những mối tình đi vào văn chương dường như phần nhiều là những mối tình dang dở. Và như một cái “dớp”, những mối tình đó thường là những mối tình đẹp nhất. Đẹp cho nên mới đáng nhớ. Đẹp nên mới dang dở. Mới day dứt. Mới ám ảnh. Mới đau!

Mối tình trong “Xa lắc mùa thu” đẹp không chỉ vì nó dang dở. Không hiểu sao người viết bài này cứ bị mặc định rằng đó là một mối tình đầu! Vì là mối tình đầu nên nó trong veo. Dù dang dở, nhưng nó cũng đã đủ hoàn thành cái sứ mệnh thiêng liêng cao cả của mình để “ký thác” vào ký ức chàng trai một vệt ký ức ngọt ngào không dễ gì có được lần nữa. Vì thế nên nó đẹp một vẻ đẹp sáng trong diệu kỳ.

Và chỉ có thể là tình đầu, thì mối tình tưởng chừng như mơ hồ, trừu tượng trong bài thơ này mới sáng rực lên trong từng câu chữ, cùng với linh hồn thơ, cùng với bản thể bài thơ.

Thì đấy! Chỉ có một “tôi”, một “em”, một “mùa thu”, một khóm lá rụng, một dòng sông (mà tôi đồ rằng, cái dòng sông trong bài thơ này cũng chỉ là một dòng – sông – ký - ức mà thôi), một lớp học, một câu thơ. Mà những đối tượng này trong bài thơ cũng chỉ mơ hồ thoáng qua chứ không hề rõ ràng gì. Lá thì rụng. Mùa thu thì xa lắc. Dòng sông thì thao thiết chảy. Lớp học thì đã tan. Câu thơ thì chở tràn trề ký ức. Ngay cả cái cách xưng hô “tôi – em” cũng đã đủ nói lên cái “xa lắc” xa lơ của mối tình này rồi.

Bấy nhiêu dữ kiện mơ hồ đã được Trương Nam Hương khéo léo cài cắm, sắp đặt để làm hiển hiện một mối tình thật rõ nét. Cái sự rõ nét này chỉ có thể có được nhờ vào hai yếu tố như đã nói ở trên: Một mối tình đầu dang dở! Lại Thế Lữ: “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”.

Cái sự phai tàn của mùa thu đã làm phai mờ bao nhiêu sự vật, kéo tất cả vào dĩ vãng. Cái còn lại là mơn man một kỷ niệm đẹp. Đẹp mà day dứt. Day dứt nên mới đẹp. Cái mùa thu xa lắc kia, vì thế, cũng trở nên gần gũi hơn nhờ tâm trạng “lưỡng phân” của “tôi” ở cuối bài thơ.

Nhé! Mùa thu thì cứ lùa những luồng ký ức ào ạt phả vào tim nhân vật trữ tình. Không nhớ nhung sao được. Không bâng khuâng “rươm rướm mắt” sao được. Nhưng cái thực tại “con gái tôi tan lớp giục tôi về” lại có sức mạnh hơn hết thảy. Vì nó không chỉ là cái hiện thực mà còn là trách nhiệm. Ký ức, dù đẹp đến mấy, cũng chỉ là ký ức mà thôi.

Đấy, cái “lưỡng phân” khiến cho nhân vật trữ tình day dứt là ở chỗ ấy. Cho nên, cái mối tình đầu sáng trong và cái mùa thu xa lắc kia cũng trở nên gần gũi hơn nhờ cái day dứt rất thật này.

Xa lắc mùa thu nhờ thế mà long lanh như khói sương quá khứ nhưng không hư ảo. Buồn xót xa mà không bi lụy, yếu ớt. Ám ảnh nhưng không xa rời thực tại. Cái tài của Trương Nam Hương cũng là chỗ đó.

Cái mùa thu xa lắc xa lơ bỗng gần gũi, sống động với bất kỳ ai từng có một “thuở ban đầu lưu luyến”.


Viết bởi: Hoami
Ngày viết: 06 Nov 2011 lúc 11:33pm
Cảm tác về bài thơ THỜI HOA ĐỎ của Nhà thơ THANH TÙNG






Tôi đến với thơ ở tuổi học trò, chỉ là một niềm say mê đọc. Hà nội thời chiến cái gì cũng khó kiếm tìm, hình như báo cũng rất hiếm. Chú tôi là giảng viên Đại học bách khoa, Khoa chủ nghĩa Mác-Lênin, cái khoa gì mà khô cứng. Ông hay sai tôi lên Lý thường Kiệt lấy giúp bản tin sáng của TTX VN và đi lấy báo giúp ông. Tôi cũng hay tìm bài thơ trên báo và tình cờ tôi đọc được bài thơ THỜI HOA ĐỎ. Báo thì không được cắt manh mún như bây giờ, tôi đã chép vào sổ tay cùng nhiều bài thơ khác, Thời hoa đỏ được chép cạnh bài thơ Puskin trên trang giấy học trò, có lẽ nó đã được gần bốn mươi năm rồi. (1972-2010) .

Không một học sinh văn nào mà không thích Thời hoa đỏ, không học sinh cấp 3 nào lại không yêu Thời hoa đỏ, nhưng để "ngấm" cái tình của tác giả thì có lẽ phải lớn hơn cái tuổi học trò đó, đã ngấm cái đau của tình yêu khi ấy Thời hoa đỏ mới trở thành nước mắt. Tôi thường nghe nói, yêu gì thì điều đó "vận vào mình" có lẽ tôi đã yêu Thời hoa đỏ vì trong mối tình đầu của tôi đã chớm màu đỏ của "chia ly" và tôi đã cảm được hồn của bài thơ da diết đến thấu lòng.


Dưới mùa hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên.

Tình yêu nâng đôi cánh tâm hồn bay bổng, hình ảnh "Anh nắm tay em" sao mà đẹp quá, trong cái lặng của con đường bổng trào lên niềm khao khát - đồng cảm với lòng người - hoa ở trên kia cũng nồng nàn "như lửa cháy". Vào đầu khổ thơ đã thấy một tình yêu thật lãng mạn, xao động quá.

Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ

“Cánh buồm” trong thơ Thanh Tùng như đôi cánh thiên thần, niềm hạnh phúc tưởng như vĩnh hằng, kỳ diệu. Nhưng báo hiệu một điều gì đó "chớm buồn" "bay qua cửa sổ" mà không đọng lại đâu đó, nó là một câu hát cũ chứ không phải câu hát thời hiện tại.

Cái say mê một thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi...
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ

Cặp từ "mỏng manh", "tan tác" ta bắt gặp sự nuối tiếc của nhà thơ đã hiện dần lên sự ngờ vực. Có lẽ "Hoa như mưa rơi rơi..." cũng nói hộ điều lo lắng ấy, khiến lòng chàng trai phải thốt lên "như ứa máu". Ký ức ngày xưa "mỗi mùa hoa đỏ về" cứ day dứt, đau đớn.

Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót

Tình yêu luôn "Yêu dại khờ" bởi thế nó mới dâng hết mình, lao vào cuộc tình không toan tính, tình yêu thường đi theo tiếng nói của trái tim, không có chỗ cho lý trí, đó là tình yêu đích thực. Nhà thơ đã dâng hết cho "dại khờ" để khi nhìn rõ vào mắt người yêu đã nhận ra sự thiếu vắng, sự lạnh lùng để nhận ra rằng có lẽ ta đang đánh mất điều thiêng liêng mà thấy sự hy sinh ấy lớn lao quá, xót xa quá.

Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu hát về một thời yêu đương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say

Dòng nước mắt đã ngấm vào lòng - nhà thơ không thể kìm nén được nữa "Trong câu thơ của em anh không có mặt" để hoài niệm với câu hát ngày xưa "một thời" ta là của nhau. Buồn lắm, câu thơ cứ quặn đau và lại "thương nguời" Em không đi hết những ngày đắm say. Người đàn bà ấy có vô tình không, hay chỉ tại người thơ đã quá yêu mà không biết được đó chỉ là cái bóng mờ ảo - thoáng đến lại đi. Phải nói tác giả đã lột tả mối tình tuyệt đẹp mà bao người đàn bà khác thèm có được tâm hồn ấy. Đau đớn là vậy mà không níu kéo chỉ "tiếc" thôi.

Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim

Mỗi khổ thơ là một dòng nước mắt, vết xước nào không đau, nhưng cái lớn lao hơn là họ không lụy tình, một trái tim nồng nàn đến thế, cao thượng đến thế - thốt lên lời "oán trách" mà không làm cho người đàn bà phải đau khổ, day dứt.

Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em.

Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Trong cái im lặng kia - là trái tim trào lên uất nghẹn, sau lời thơ kia là trái tim chảy máu, sau những trải lòng người thơ có bớt đau không? nó đã liền sẹo rồi đấy nhưng không hết đau - cái đau dai dẳng, âm ỉ khiến người ta mềm lòng. Cái được nhất của Nhà thơ là sự cao thượng của lòng người. Anh không giữ nổi trái tim thì anh tha bổng cho nó bay đi, bay về phương trời hạnh phúc đích thực, còn anh - lặng im để gặm nhấm nỗi buồn.

Cảm ơn tác giả Thanh Tùng đã nói hộ hàng ngàn hàng vạn trái tim "khờ dại" những trái tim không có tuổi và tình yêu không có tuổi đã mang "Thời hoa đỏ" suốt hành trình đi tìm tình yêu đích thực .

Tôi có may mắn gặp anh ở tuổi 75, vẫn nồng nàn, vẫn đam mê "Thời hoa đỏ" như tuổi trẻ đắm say một tình yêu đẹp. Anh Hiện đang công tác tại tuần san Kiến Thức Gia Đình. Chúc nhà thơ luôn đồng hành là cảm hứng cho những người yêu thơ. Chúc anh có nhiều sức khỏe và hạnh phúc với những thăng trầm cuộc đời. Và cống hiến nhiều tác phẩm hay cho độc giả yêu mến nhà thơ Thanh Tùng.


Phạm Thị Mai Khoa


Viết bởi: Hieutri
Ngày viết: 07 Nov 2011 lúc 6:10am
 
 

Bài thơ Ánh trăng

Nguyễn Duy




Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

1978

Ánh trăng- 1984

 

      Không biết tự bao giờ trăng đã trở thành nàng thơ, thành người bạn tri âm tri kỉ của biết bao tâm hồn thi sĩ . Với ánh sáng huyền diệu, với chu kì tròn khuyết lạ lùng, trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều thi tứ. Trong miền thơ mênh mang ấy, “Ánh trăng ”của Nguyễn Duy như một lời tâm sự chân thành, đã neo lại trong tâm hồn người đọc những tâm trạng riêng, những suy ngẫm riêng giàu trăn trở .
       Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Cảm nghĩ trữ tình của tác giả men theo dòng tự sự này để bộc lộ . Trước hết là hình ảnh vầng trăng thiên nhiên gắn bó với tuổi thơ:
       Hồi nhỏ sống với đồng
       với sông rồi với bể
       Bằng cách gieo vần lưng và điệp từ “với” được nhắc đi nhắc lại gợi ra trước mắt người đọc một tuổi thơ đầy ắp những kỷ niệm êm đềm, tuổi thơ được vui đùa, được hoà mình với thiên nhiên, sông, bể …Và khi đã trở thành người lính, trăng và người vẫn gắn bó bên nhau:
       hồi chiến tranh ở rừng
       vầng trăng thành tri kỉ
       Vầng trăng đẹp đẽ ân tình, gắn với những kỷ niệm thiếu thời và những tháng năm chinh chiến. Trăng là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên tươi mát, là trò chơi tuổi thơ, là ước mơ trong sáng, là ánh sáng, là niềm vui bầu bạn của người lính. Con người khi ấy sống giản dị và hoà hợp với thiên nhiên trong lành:
       Trần trụi với thiên nhiên
       hồn nhiên như cây cỏ
       ngỡ không bao giờ quên
       cái vầng trăng tình nghĩa .
       Vậy mà, hoàn cảnh sống thay đổi, hết chiến tranh , con người trở về thành phố, quen với cửa gương và ánh điện của cuộc sống hiện đại lúc nào cũng rực rỡ sáng loà ,vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghiã của ngày xưa đã mau chóng trở thành quá khứ. Nếu ở khổ thơ đầu ta rung động trước một tình cảm gắn bó bền chặt thì đến đây người đọc lại sửng sốt , ngỡ ngàng:
       Vầng trăng đi qua ngõ
       như người dưng qua đường
       Vẫn là vầng trăng ngày xưa nhưng con người giờ đã khác xưa, quen với ánh sáng nhân tạo nên coi trăng hoàn toàn xa lạ. Một sự thay đổi đến phũ phàng,tê tái… Người lính đã quên những tình cảm chân thành, những tháng năm gian khổ nhưng chan chứa ân tình thuở trước.Mặc dù vậy trăng vẫn không quên, vẫn đến với bạn xưa bằng tình cảm tràn đầy không hề sứt mẻ .Người lính chỉ nhận ra điều đó khi:
       Thình lình đèn điện tắt
       phòng buyn đinh tối om
       vội bật tung cửa sổ
       đột ngột vầng trăng tròn .
       Việc mất điện như một tình huống có vấn đề đột ngột xảy ra, theo thói quen con người vì cần ánh sáng mà mở tung cửa sổ, lại nhìn thấy hình ảnh vầng trăng vẫn hiện diện trên bầu trời và toả sáng khắp căn phòng.Chính vầng trăng xuất hiện bất ngờ trong bối cảnh ấy đã gây ấn tượng mạnh ,thổi bùng nỗi nhớ về một thời quá khứ chưa xa :
       Ngửa mặt lên nhìn mặt
       có cái gì rưng rưng
       như là đồng là bể
       như là sông là rừng .
       Phép nhân hoá tài tình khiến trăng và người đối diện đàm tâm là một cách viết lạ và sâu sắc của riêng Nguyễn Duy. Trong cuộc gặp mặt không lời, người lính xưa xúc động“ rưng rưng”. Cảm xúc nghẹn ngào, khoắc khoải như chỉ chực trào nước mắt. Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí nhà thơ bao kỷ niệm xưa: những kỷ niệm thiếu thời, những tháng năm chinh chiến giữa thiên nhiên, đất nước bình dị , hiền hoà. Tất cả hiện hình trong nỗi nhớ, trong cảm xúc thiết tha và cả trong tư thế lặng im thành kính của tác giả… Vào lúc đó ông đã nhận ra, trăng vẫn tròn đầy, tình nghĩa, thuỷ chung và vị tha, cao thượng :
       Trăng cứ tròn vành vạnh
       kể chi người vô tình .
       ánh trăng im phăng phắc
       đủ cho ta giật mình .
       Hình ảnh“ vầng trăng tròn vành vạnh” không chỉ thể hiện vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của cuộc sống mà còn có ý nghĩa biểu tượng cho nghiã tình quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên, chẳng thể phai mờ. Trăng xuất hiện không một lời oán hờn trách cứ, nhưng đôi khi , im lặng lại là sự trừng phạt nghiêm khắc nhất . Không gian như chững lại, lặng yên trong cuộc gặp mặt không lời của hai người tri kỉ. Giây phút ấy tác giả nhận ra trăng chính là người bạn , là nhân chứng đã chứng kiến trọn vẹn quá khứ nghĩa tình giờ lặng yên như nghiêm khắc nhắc nhở ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên , nhưng thiên nhiên và nghiã tình quá khứ thì luôn luôn tròn đầy, luôn luôn bất diệt. Điều đó đã tạo nên cái “giật mình ” đầy ý nghĩa của tác giả: giật mình để nhớ lại, để tự vấn lương tâm , để nhận ra và hoàn thiện chính mình…
       Giọng điệu tâm tình, nhịp thơ lúc trầm lắng suy tư, lúc lại nhịp nhàng, ngân nga, tha thiết đã góp phần làm nổi bật chủ đề, tạo nên sự chân thành và sức truyền cảm sâu sắc của bài thơ .
       Từ một câu chuyện riêng , tiếng thơ của Nguyễn Duy như một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở thấm thía về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, “ân nghĩa thuỷ chung” cùng quá khứ. Có lẽ vì vậy mà đến với “ánh trăng”, người đọc nào cũng thấy lòng mình dường như lắng lại ?!  

                                                                                         Nguồn Văn Học



-------------



In trang này | Close Window

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03 - http://www.webwizforums.com
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide - http://www.webwizguide.info